CHƯƠNG 1
DỰ ÁN ĐẦU TƯ - KHÁI NIỆM VÀ THUẬT NGỮ
I.
ĐẦU TƯ
1.
Khái niệm và thuật ngữ
2.
Phân loại đầu tư
3.
Các giai đoạn đầu tư
II.
CHI PHÍ
1.
Chi phí và sản lượng
2.
Chi phí thời cơ
3.
Chi phí chìm
4.
Chi phí tiền mặt và chi phí bút toán
III.
DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1.
Khái niệm một dự án đầu tư
2.
Phân loại
3.
Các đặc điểm của dự án
4.
Các yếu tố dẫn đến thành công cùa một dự án
I. ĐẦU TƯ
1. Khái niệm và thuật ngữ
-
Đầu tư là hoạt động sử dụng tiền vốn, tài nguyên trong 1 thời gian dự án
nhằm thu về lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế xã hội
-
Quàn lý đầu tư xây dựng là quản lý Nhà nước về quá trình đầu tư và xd từ
bước xác định dự án đầu tư để thực hiện đầu tư và cả quá trình đưa dự án vào khai
thác, sử dụng đạt mục tiêu đã định
.
-
Dự án đầu tư là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới , mở rộng
hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởngvề số lượng,
cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một
khoảng thời gian xác định.
-
Vốn Nhà Nước là vốn thuộc sở hữu toàn dân hoặc có nguồn gốc toàn dân do
Nhà nước thống nhất quản lý theo pháp luật.
-
Người có thẩm quyền quyết định đầu tư là tổ chức hoặc cơ quan Nhà nước
được Chính phủ giao quyền hoặc ủy quyền quyết định đầu tư.
-
Chủ đầu tư là cá nhân hoặc tổ chức có tư cách pháp nhân được giao trách
nhiệm trực tiếp quản lý, sử dụng vốn đầu tư theo qui định của pháp luật.
• Tổng mức đầu tư là toàn bộ chi phí đầu tư và xây dựng (kể cả vốn sản
xuất ban đầu) và là giới hạn chi phí tối đa của dự án dược xác định trong quyết
định đầu tư và chỉ được điều chỉnh theo qui định tại điều 25 (Điều 25 Phụ lục 1)
1. Tổng mức đầu tư bao gồm những chi phí cho việc chuẩn bị đầu
Đấu thầu là quá trình lựu chọn nhà thầu, đáp ứng được yêu cầu của Bên mời
thầu trên cơ sở cạnh tranh giữa các nhà thầu.
-
Xét thầu là quá trình phân tích, danh giá các hồ sơ nhận thầu, để xét chọn bên
trúng thầu.
-
Bên mời thầu là chủ đầu tư hoặc đại diện hợp pháp của chủ đầu tư, có dự án
cần đấu thầu.
-
Nhà thầu là tổ chức kinh tế có đủ điều kiện và tư cách pháp nhân để tham gia
đấu thầu Nhà thầu có thể là cá nhân, trong trường hợp đấu thầu tuyển chọn tư
vấn.
-
Gói thầu là một phần công việc của dự án đầu tư được chia theo tính chất
hoặc trình tự thực hiện dự án; có quy mô hợp lý và đảm bảo tính đồng bộ của dự
án; để tổ chức lựa chọn nhà thầu.
- "Gói thầu" cũng có thể là toàn bộ dự án.
-
Tư vấn dầu tư và xây dựng là hoạt động đáp ứng các yêu cầu về kiến thức,
kinh nghiệm chuyên môn cho bên mời thầu, trong việc xem xét quyết định kiểm
tra quá trình đầu tư và thực hiện đầu tư.
-
Sơ tuyển là bước lựa chọn các nhà thầu có đủ tư cách và năng lực dể tham dự
dấu thầu.
-
Nộp thầu là thời hạn nhận hồ sơ dự thầu, được quy dình trong hồ sơ mới thầu.
-
Mở thầu là thời điểm tổ chức mở các hồ sơ dự thầu, được quy định trong hồ
sơ mời thầu
vực này. Hiệu quả tích tụ và phản ứng dây chuyền của các ngành này rất !ớn. Khi
đã có một số công ty đầu tư sản xuất nhiều linh kiện, bộ phận điện tử vào một địa
điểm nào đó (do những điều kiện ưu đãi về thuế, về cơ sở hạ tầng ) thường kéo
theo những đầu tư mới để lắp ráp các linh kiện, bộ phận đó, hoặc để sản xuất
những sản phẩm trung gian cung cấp cho những công ty đã đầu tư trước. Do hiệu
quả tích tụ và phản ứng dây chuyền này, sau nhiều năm tích cực thu hút FDI, hiện
nay Malaysia đã trở thành một trong những trung tâm lớn của thế giới sản xuất ti-
vi màu, máy quay video, đầu máy DVD và nhiều sản phẩm điện tử khác. Thái Lan
đã trở thành trung tâm sản xuất xe hơi và các bộ phận liên hệ (lớn thứ ba ở châu á,
sau Nhật và Hàn Quốc) . Trong thập niên 1990, nhờ cải thiện môi trường FDI,
Philippines đã thành công trong việc tăng sức cạnh tranh trong công nghệ điện tử,
nâng tỷ lệ của các sản phẩm điện tử và chất bán dẫn trong tổng kim ngạch xuất
khẩu từ 17% vào năm 1990 lên tới 53 % vào năm 1998
FDI được tích luỹ của Nhật tại Việt Nam còn quá ít: chỉ bằng 1/11 của Thái
Lan và 1/7 của Malaysia, chưa nói đến những nước như Indonesia, Trung Quốc.
Ngay cá Philippines là nước phát triển chậm nhất trong các nước ASEAN trong 30
năm qua nhưng FDI được tích luỹ của Nhật tại đây cũng lớn hơn Việt Nam 4,5 lần
Nhưng như đã nói ở trên, sự cách biệt này không quan trọng lắm vì Việt Nam mơl
bắt đầu có chính sách thu hút FDI từ cuối năm 1987 và Nhật chỉ thực sự bắt đầu
đầu tư ở Vlệt Nam từ năm 1993.
• Tình hình FDI tại VN
Ba đặc trưng của FDI tại Việt Nam
Thứ nhất, vốn đăng ký của các dự án FDI giám liên tục từ năm 1997. Đặc
biệt vốn đăng ký năm 1999 chỉ bằng 40% năm trước và tụt xuống trở lại mức năm
1991. Vốn đăng ký năm 2000 đạt 19 tỉ USD, tăng 21% so với nam trước và do đó
về hình thức đã chấm dứt được khuynh bướng giảm liên tục vừa đề cập Tuy nhiên,
trong năm 2000 có dự án khai thác khí đốt Nam Côn Sơn rất lớn, chỉ một dự án
nầy đã chiếm hơn phân nứa toàn bộ vốn đăng ký của năm này. Do đó, về thực
chất, chưa cỏ một sự xoay chiều trong FDI tại Việt Nam.
lợi thế so sánh của Việt Nam, thì ngược lại, như đã thấy ở trên, FDI giảm mạnh và
liên tục. Trước nhu cầu cần đẩy mạnh công nghiệp hoá, đế thú hút lao động dư
thừa hiện nay và trước nhu cầu cần du nhập nhiều công nghệ, vốn và tri thức quản
lý, kinh doanh đề ngày càng có nhiều hàng công nghiệp cạnh tranh được trên thị
trường thế giới, tình hình gần đây là đáng lo ngại vì sẽ ảnh hưởng đến chiến lược
công nghiệp hoá sắp tới nếu không sớm có biện pháp đề khởi động một sự chuyển
dịch cá lượng và chất của FDI tại Việt Nam.
Đặc trưng thứ ba cửa FDI tại Việt Nam gần đây là ngày càng có nhiều dự án
100 % vốn nước ngoài, và các dự án liên doanh thì ngày cảng ít đi. Nếu chia 13
năm (1988-2000) thu hút FDI thành 3 giai đoạn thì thấy như sau: Nếu trong giai
đoạn 1988-1992, số dự án 100% vốn nước ngoài chỉ chiếm 12% tổng số dự án
được cấp giấy phép, thì tý lệ này táng lên 38% trong giai đoạn 1993- 1996 và !ên
tới 64% trong giai đoạn gần đây nhất. Riêng trong năm 2000, tỷ lệ này là 78%, số
dự án án 100% vốn nước ngoài lên tới con số 286, gấp 4, 5 lần số dự án liên
doanh.(tác giả tính từ tư liệu của Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư): Ngoài ra, nhiều dự án
nguyên là liên doanh đã xin chuyển sang hình thức 100 % vốn nước ngoài. Các
trường hợp này bắt đầu từ năm 1997 (chi tính đen cuối tháng 4- 1999 đã có 39 dự
án như vậy) và tăng nhanh trong những năm gần đây.
* Liên doanh (Joint Venture) : người đầu tư và vốn là nước ngoài hợp tác
với cơ quan Nhà nước, người đầu tư và vốn trong nước.
* Đầu tư trực tiếp trong nước : người đầu tư và vốn là nước trong nước.
b) Đầu tư gián tiếp
Đầu tư gián tiếp là loại đầu tư mà người đầu tư vốn và người sử dụng vốn
không là 1 chủ thể
•
Viện trợ phát triển chính thưc ODA ( Official Development
Assistant)
ODA là nguồn vốn hổ trợ chính thức từ bên ngoài bao gồm các khoảng
viện trợ và cho vay với điều kiện ưu đãi. ODA được hiểu là nguồn vốn dành cho
(Built) thông qua đấu thầu, sau đó khai thác vận hành một thời gian (Operation) và
sau cùng là chuyển giao (Transfer) lại cho nhà nước sở tại. Hình thức nầy cũng
được sử dụng ở VN, nhưng sau một thời gian có nhười ta có chung một nhận xét
là thường các dự án dạng BOT giá thành thường được đẩy lên cao hơn thực tế
nhiều do phía đầu tư biết rằng bên đối tác thiếu vốn để xây dựng để phát triển cơ
sở hạ tầng và có quá nhiều nước đang phát triển cần vốn.
c) Các phân loại đầu tư khác
• Phân theo nhóm
Dựa vào vốn đầu tư, ngành nghề kinh tế mà các dự án đầu tư có thể phân
thành ba nhóm A B C (chi tiết xem phần phụ lục trong phụ lục1)
• Phân loại theo trình tự lập và trình duyệt dự án
Theo trình tự lập và trình duyệt dự án được phân ra làm 2 loại:
+ Nghiên cứu tiền khả thi (xem phần IV của chương nầy)
+ Nghiên cứu tiền khả thi (xem phần V của chương nầy)
Tùy theo qui mô của đầu tư mà phải tiến hành nghiên cứu hai hoặc một bước trong
trình tự nầy.
3. Các giai đoạn đầu tư
a) Chuẩn bị đầu tư
Nội dung công tác đầu tư bao gồm các bước sau :
1. Nghiên cưú sự cần thiết phải đầu tư và qui mô đầu tư
2. Tiến hành tiếp cận, thăm dò thị trường trong và ngoài nước để tìm nguồn
cung ứng vật tư, thiết bị hoặc tiêu thụ sản phẩm. Xem xét các khả năng có thể huy
động nguồn vốn đề đầu tư và lựa chọn hình thức để đầu tư
3. Lập dự án đầu tư
4. Thẩm định dự án để quyết định đầu tư
b) Thực hiện đầu tư
Nội dung thực hiện dự án đầu tư bao gồm:
1. Xin giao đất hoặc thuê đất theo quy định của Nhà nước (bao gồm cả mặt
nước, mặt biển, thềm lục điạ)
2. Chuẩn bị mặt bằng xây dựng
ích thu được nếu ta đem tài nguyên trên để sản xuất ra một loại hàng hóa khác. Ví
dụ như thay vì sản xuất ra một chiếc xe hơi chúng ta lại làm ra một máy công cụ
chẳng hạn. Trong ước tính chi phí thời cơ, cần phải phân ra 2 loại tài nguyên : tài
nguyên có thể
thay thế được và tài nguyên không thể thay thế được
Có thể phân thành 2 nhóm gía thời cơ: giá có thị trường và giá không có thị
trường.
* Giá thời cơ có thị trường là giá cả của thị trường trong một thị trường
canh tranh. Ví dụ người mua trả giá cho một tấn than là 1.50; 1.51; 1.52 triệu $, thì
người bán sẽ chọn giá 1.52 triệu $ (giá cao nhất) để bán. Trong trường hợp nầy giá
thời cơ cho 1 tấn than (cơ hội tốt thứ hai đã bỏ qua) là 1.51 triệu $
* Giá thời cơ không có thị trường là giá cả được tính toán cho loại tài
nguyên thứ 2. Ví dụ một sinh viên nếu đi làm thay vì đi học thì có thể thu được là
2 triệu $ /năm, nhưng nếu đi học thì sẽ tốn 1 triệu $ /năm. Như vậy chi phí thời cơ
cho việc đi học là 3 triệu $ /năm.
* Chi phí thời cơ và việc sử dụng vốn
Việc sử dụng vốn cũng được xem như là một giá thời cơ khi đem vốn dùng trong
các dự án khác nhau, người ta thường dùng một giá thời cơ để so sánh
3. Chi phí chìm
Chi phí chìm (sunk cost) là những chi phí không thu lại được do những quyết
định sai lầm trong quá khứ. Loại chi phí nầy không được đưa vào trong tính toán
dự án.
4. Chi phí tiền mặt và chi phí bút toán
Chi phí tiền mặt (cash cost) bao gồm tiền phải chi trả và số nợ gia tăng
Chi phí bút toán (book cost) là loại chi phí chỉ ghi trong sổ sách chớ không
có trong thực tế. Ví dụ các khỏan tính khấu hao cho đầu tư vốn dùng trong việc
tính thuế.
III. DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1. Khái niệm 1 dự án đầu tư
- Dự án đầu tư : là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới , mở rộng
mà họ nghĩ là phục vụ cho lợi ích chung, cũng là một điều tự nhiên và phù hợp.
Tuy nhiên sự hăng hái của các quan chức nầy chưa đủ bảo đảm là các dự án mà họ
đề xuất thực sự có hiệu quả về mặt kinh tế và xã hội. Chúng ta cần các qui trình
thẩm định chính thức, vì hệ thống nầy sẽ giúp chúng ta tránh được những lưạ chọn
đầu tư sai lầm. Chỉ có những suy nghĩ ảo tưởng mới khiến chúng ta cho rằng nhiệt
tình của các cơ quan trong chính quyền, của các quan chức đối với dự án mà họ
xây dựng và đệ trình lại không là nguyên nhân đáng kể có thể đưa đến sai lầm
2. Phân loại
Các dự án đầu tư có thể phân loại dựa theo các căn cứ sau đây :
1. Căn cứ nguồn tài lực khan hiếm của dự án
2. Số vốn đầu tư
3. Sự tác động của các dự án đầu tư khác đến lợi ích thu được tư dự án đầu tư
được xem xét.
Một số dự án có thể tự đứng vững 1 cách độc lập. Loại dự án khác chỉ có thể
thành công khi có thêm các dự án đầu tư khác yểm trợ. Loại thứ 3, các dự án vô
tác dụng nếu có các dự án cạnh tranh khác được thông qua.
* Dự án đầu tư phụ thuộc và dự án đầu tư độc lập
- Dự án độc lập về mặt kinh tế
Dự án đầu tư A không phụ thuộc (độc lập) dự án B về mặt kinh tế khi thoả 2
điều kiện :
1. Dự án A phải có tính khả thi về mặt kỹ thuật mặc dù dự án B có được
chấp thuận hay không
2. Lợi ích thần dự kiến của dự án A không bị chi phối bổi sự chấp thuận dự
án B hay không
- Dự án phụ thuộc về mặt kinh tế
Nếu do việc thực hiện dự án 2 mà lợi ích dự kiến của dự án 1 tăng lên thì dự
án 2 được coi như là bổ sung cho dự án1.
Nếu do việc thực hiện dự án 2 mà lợi ích dự kiến của dự án 1 giảm xuống thì dự
án 2 được coi như là thay thế cho dự án 1
- Dự án loại trừ nhau
• Các hoạt động cuả dự án có liên quan nhau
Các hoạt động cuả dự án phải liên quan với nhau theo một trật tư thời gian nhất
định, chẳng hạn như một công việc chỉ có thể bắt đầu khi một số công việc khác
đã kết thúc hoặc có những mốc thời gian của các giai đoạn chính cuả dự án.
• Mục tiêu và hạn chót là cụ thể
Một dự án phải có một mục tiêu rỏ ràng và cụ thể, hơn nữa nó phải có hạn chót
(deadline)
• Kết quả (output) phải rỏ ràng
Các kết quả phải thể hiện rỏ những mục tiêu cuả dự án
Ba điều kiện ràng buộc cuả dự án là ngân sách; kết quả; thời hạn
H.1: Ba điều kiện ràng buộc cuả một dự án
Kết quả
Ngán saïch
Thåìi hạn
4. Các yếu tố dẫn đến thành công cuả một dự án
Hai thành phần dẫnđến thành công cuả một dự án là xác định và giám sát
Xác định bao gồm:
• Mục đích
Bao gồm các ý nghiã sau: Điều mong đợi là gì; tại sao phải thực hiện dự án nầy và
các kết quả đạt được phải là như thế nào?
• Nhiệm vụ
Các dự án lớn có thể chia nhỏ ra nữa không, nhiệm vụ cuả các thành viên trong dự
án là như thế nào, việc phối hợp các thành viên như thế nào?
• Lịch trình
Hạn chót là thời điểm nào? Với hạn chót là mhư thế, hàng loạt các hạng mục nhỏ
hơn nữa phải được sắp xếp, duy trì và lập lịch trình như thế nào? Công tác lập lịch
trình hợp lý hàng tuần cho các công việc là điều then chốt cho việc đáp ứng cho
hạn chót dài hạn.
• Ngân sách
Đôi khi một dự án được điều hành tốt cũng trở nên khó hoàn tất. Báo cáo cuối
cùng, kết luận cuối cùng, các cam kết trên giấy tờ thường là phần khó khăn nhất
cuả dự án. H.2 Tóm tắt các năng lực của người điều hành dự án
5 Các năng lực của người điều hành dự án
a. Kinh nghiệm tổ chức và lãnh đạo
b. Có khả năng tiếp xúc với các nguồn cần thiết
c. Có năng lực điều phối các nguồn đa dạng
d. Kỹ năng truyền đạt và thủ tục
e. Năng lực giao phó và theo dõi công việc
f. Độ tin cậy
a) Kinh nghiệm tổ chức và lãnh đạo
Khi tìm kiếm môt nhà quản lý dự án có khả năng, người ta thường tìm người
có năng lực biểu lộ được năng lực tổ chức và lãnh đạo những người khác. Người
được chọn sẽ thành công trong việc chọn một dự án phức tạp, vì ông ta đã biểu lộ
những kỹ năng và kinh nghiệm cần thiết.
b) Có khả năng tiếp xúc với các nguồn cần thiết
Với một dự án lớn cần phải tiếp xúc với nhiều nguồn, cơ quan khác nhau.
Nếu người quản lý dự án có khả năng tiếp xúc, có mối quan hệ tốt thì công việc sẽ
tiến triển tốt đẹp hơn.
c) Có năng lực điều phối các nguồn đa dạng
Là một nhà quản lý có khả năng bạn phải có năng lực giao và theo dõi những
công việc không chỉ quen thuộc với bạn mà còn những công việc xa lạ khác nữa.
d) Kỹ năng truyền đạt và thủ tục
Một nhà quản lý dự án giỏi phải biết cách truyền đạt thông tin cho các thành
viên đội ngũ dự án và thu nhận thông tin từ họ, ngay cả khi quan điểm cụ thể cuả
họ khác mình.
e) Năng lực giao phó và theo dõi công việc
Khi giao việc cho mỗi thành viên cuả dự án, nhà quản lý dự án theo dõi sao
1. Nghiên cứu tiền khả thi
2. Nghiên cứu khả thi
3. Thiết kế chi tiết
4. Thực hiện dự án
5. Đánh giá hậu dự án
IV. NGHIÊN CỨU TIỀN KHẢ THI (PHÂN TÍCH KINH TẾ KỸ THUẬT)
NCTKT là nổ lực đầu tiên nhằm đánh giá triển vọng chung của dự án. Để
thực hiện giai đoạn nầy, điều quan trọng là phải cố gắng duy trì một mức độ chính
xác ngang nhau cho những phần phân tích khác nhau, đồng thời phải nhận thức
rằng mục đích của NCTKT là để có được những ước tính phản ảnh đúng (có định
lượng) của các biến số để chứng tỏ rằng dự án có đủ hấp dẫn để tiến hành nghiên
cứu sâu hơn (bước NCKT). Để tránh những ước tính quá lạc quan về lợi ích và chi
phí, chúng ta nên sử dụng những ước tính thiên lệch về hướng làm giảm bớt của
dự án trong khi làm tăng cao mức ước tinh vế chi phí. Nếu những dự án vẫn hấp
dẫn sau khi đã tiến hành NCTKT, thì rất có nhiều khả năng dự án sẽ đứng vững
trong những bước nghiên cứu kế tiếp.
Một dự án đầu tư công cộng thướng bao gồm 6 lãnh vực được tóm tắt như sau :
1. Phân tích thị trường
Mức cung và giá cả về hàng hoá và dịch vụ hay các nhu cầu tương đối về dịch vụ
xã hội được ước tính, định lượng hoá và lý giải chứng minh.
2. Phân tích kỹ thuật
Các thông số nhập lượng của dự án được xác định một cách chi tiết và các ước
tính vế chi phí được xây dựng
3. Phân tích nhân lực và quản lý
Nhu cầu nhân lực cần thiết cho việc thực hiện cũng như vận hành dự án được xác
định một cách chi tiết , và nguồn nhân lực được xác định với số lượng cụ thể
4. Phân tích tài chánh hay ngân sách
Chi và thu tài chính được phân tích cùng với việc đánh giá các phương án tái trợ
khác nhau
- Một số thông số kỹ thuật của dự án
5. Phân tích sự lựa chọn công nghệ
6. Các phương án và giải pháp xây dựng
Bao gồm các bước sau :
- Phương án bố trí mặt bằng
- Các giải pháp xây dựng
- Khối lượng xây dựng và chi phí xây dựng
- Tổ chức thi công xây lắp
- Tiến độ thi công xây lắp
7. Phân tích tài chính
Bao gồm các bước sau :
- Căn cứ phân tích tài chính
- Bảng dự trù doanh thu hằng năm
- Vốn lưu động
- Bảng dự trù chi phí sản xuất hằng năm
- Bảng dự trù lãi lỗ hằng năm
- Bảng dự trù cân đối thu chi
- Bảng tóm tắt cân đối tái sản
- Các chỉ số đánh giá hiệu quả tài chính
* Tỉ số B/C
* Hiện gía thuần NPV
* Tỉ suất thu hồi nội bộ IRR
* Điểm hòa vốn
* Thời gian hòa vốn
- Phương án trả nợ vay
- Phân tích độ nhạy
8. Phân tích kinh tế xã hội
Bao gồm :
- Phân tích định tính
- Phân tích định lượng
•
Hình thức tự làm
1. Chủ đầu tư sử dụng lực lượng được phép hành nghề xây dưng của mình để thực
hiện khối lượng xây lắp
2. Hình thức tự làm chỉ áp dụng đối với công trình sửa chữa, cải tạo qui mô nhỏ,
công trình chuyên ngành đặc biệt (xây dựng công nông lâm nghiệp và các công
trình tự đầu tư xd cơ sở vật chất kỹ thuật của các doanh nghiệp xây dựng)
VIII. ĐÁNH GIÁ HẬU DỰ ÁN
Phần lớn công sức đều được bỏ ra trong khâu thiết lập dự án hơn là khâu
đánh giá các dự án đã thực hiện được. Để thực hiện công tác đánh giá nầy chúng ta
cần tiến hành đánh giá khâu quản lý hành chánh của dự án ngay khi dự án đi vào
giai đoạn vận hành. Các cán bộ quản lý giai đoạn vân hành phải hiểu rỏ rằng việc
thẩm định kỹ lưỡng các kết quả cuả dự án phải được tiến hành trong suốt thời giai
hoạt động của nó. Bằng cách nầy, các dữ liệu cần thiết có thể được xây dựng thông
qua các hoạt động tài chánh và kiểm soát thông thường, tạo điều kiện cho việc
thẩm định được thực hiện với chi phí thấp nhất. Việc nầy còn cho chúng ta thấy
các biến số quan trọng nhất trong việc thiết kế và thực hiện dự án, nó đã quyết
định sự thành công hoặc thất bại cuả dự án, để sao cho những kinh nghiệm thành
công được lập lại và những kinh nghiệm thất bại được loại trừ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG “DỰ ÁN ĐẦU TƯ_KHÁI NIỆM và THUẬT NGỮ”
Glenn P. Jenkins và Arnold C. Harberger
Phân tích Chi Phí và Lợi Ích cho các quyết định đầu tư (Tập I), tuyển tập bài
giảng Chương Trình Thẩm Định và Quản Lý Dự Aïn – Viện Phát Triển Quốc Tế
ĐH Harvard-TP Ho Chi Minh 2-1995
Hà thị Ngọc Oanh
Hổ Trợ Phát Triển Chính Thức ODA- Những hiểu biết căn bản và thực tiển ở VN,
NXB Giáo Dục 1998
Điều 11 Công tác chuẩn bị đầu tư
Điều 12 Lập dự án đầu tư
Điều 13 Nội dung chủ yếu của báo cáo nghiên cứu tiền khả thi
Điều 14 Nội dung chủ yếu của báo cáo nghiên cứu khả thi
Điều 15 Yêu cầu thẩm định dự án đầu tư
Điều 16 Thẩm định dự án đầu tư
Điều 17 Hội đồng thẩm định Nhà nước về các dự án đầu tư
Điều 18 Thời gian thẩm định dự án
Điều 19 Quyết định đầu tư và cấp giấy phép đầu tư
Điều 20 Thay đổi nội dung dự án đầu tư
Điều 21 Kinh phí lập dự án, thẩm định dự án đầu tư
Chương 3 THỰC HIỆN ĐẦU TƯ
Điều 22 Nội dung thực hiện dự án đầu tư
Điều 23 Giao nhận đất
Điều 24 Chuẩn bị mặt bằng xây dựng
Điều 25 Tuyển chọn tư vấn xây dựng
Điều 26 Thiết kế công trình
Điều 27 Thẩm định và phê duyệt thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán
Điều 28 Giấy phép xây dựng
Điều 29 Giấy phép khai thác tài nguyên
Điều 30 Đấu thầu và chỉ định đấu thầu
Điều 31 Hợp đồng về tư vấn về mua sắm các thiết bị xây lắp
Điều 32 Điều kiện khởi công công trình
Điều 33 Quản lý chất lượng và kỹ thuật xây dựng
Điều 34 Nghiệm thu công trình
Điều 35 Cấp vốn và thanh toán
Điều 36 Quyết tóan vốn đầu tư
Điều 37 Thẩm tra và phê duyện quyết toán
Chương 4 KẾT THÚC XÂY DỰNG ĐƯA DỰ ÁN VÀO SỬ DỤNG
Điều 38 Nội dung công việc của giai đoạn kết thúc xây dựng đưa dự án vào