A. Lời Mở Đầu.
Kinh tế nớc ta đang trên đà hội nhập với kinh tế các nớc trong khu vực và
trên thế giới,đó là cơ hội lớn để kinh tế nớc ta hòa nhập với các nền kinh tế
năng động nhất hiện nay và kêu gọi sự giúp đỡ của các nớc đi trớc về các lĩnh
vực mà ta còn thua xa họ nh:khoa học kĩ thuật,trình độ quản lý,vốn và đặc
biệt là thiếu lao động có trình độ chuyện môn cao.Để nhanh chóng đuổi kịp
họ thì Đảng và nhà nớc ta phải xây dựng một Lực lợng sản xuất(LLSX) phát
triển mạnh và dựa trên một Quan hệ sản xuất(QHSX) phù hợp với nó.Nhng
không phải lúc nào hai phạm trù lịch sử đó cũng tác động tích cực với nhau,bổ
trợ cho nhau một cách hoàn hảo.Đôi khi cái này lại trở nên lỗi thời,lạc hậu
không còn phụ thuộc với cái kia,thì nó là xiềng xích kìm hãm không cho cái
kia phát triển và điều tất yếu sẽ xảy ra mâu thuẫn.Khi đó cái cũ,cái lạc hậu đ-
ợc thay thế bằng cái mới tiến bộ hơn.
Quy luật QHSX phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX là
quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại,nó là một
điều kiện thiết yếu để phát triển một nền kinh tế.
Là một nhà kinh tế trong tơng lai,Em cần phải chau rồi cho mình thật
nhiều kiến thức về kinh tế để mai này góp một phần công sức nhỏ bé của mình
giúp xây dựng đất nớc Việt Nam ngày càng phồn vinh hơn,giàu đẹp
hơn,không thua gì các nớc phát triển trên thế giới và khẳng định vị thế của ta
trên trờng Quốc tế.Đây là đề tài rất lý thú với các sinh viên kinh tế nên em
chọn đề tài đó để nghiên cứu.
Để hoàn thành một đề tài rất dài và phức tạp nh thế này cần phải có
nhiều thời gian và nhiều t liệu liên quan.Do chúng em có rất ít thời gian để
làm bài nên sẽ không trách khỏi những khiếm khuyết trong quá trình làm.Rất
mong sự đóng góp ý kiến chân thành của mọi ngời để bài viết của em hoàn
thiện hơn.
1
B.Nội Dung.
I. Đặt Vấn Đề.
Sản xuất vật chất đợc tiến hành bằng phơng thức nhất định.Phơng thức
Lực lợng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con ngời với tự nhiên
trong quá trình sản xuất vật chất.LLSX thể hiện năng lực thực tiến của con ng-
ời trong quá trình sản xuất ra của cảI vật chất.
LLSX bao gồm t liệu sản xuất và ngời lao động với tri thức và phơng
pháp sản xuất, kỹ năng, kỹ sảo và thói quen lao động của họ, trong đó LLSX
hàng đầu của nhân loại là công nhân, là ngời lao động. Chính ngời lao động
là chủ thể của quá trình sản xuất, với sức mạnh và kỹ năng của mình, sử dụng
t liệu lao động, trớc hết là công cụ lao động, tác động vào đối tợng lao động để
sản xuất ra của cải vật chất.
Cùng với ngời lao động, công cụ lao động cũng là một yếu tố căn
bản của LLSX, đóng vai trò quyết định trong t liệu sản xuất. Công cụ lao động
do con ngời sáng tạo ra, là sức mạnh của tri thức đã đợc vật thể hóa,nó
nhân sức mạnh của con ngời trong quá trình sản xuất. Công cụ lao động là
yếu tố động nhất của LLSX. Cùng với quá trình tích lũy kinh nghiệm, với
những phát minh và những sáng chế kĩ thuật, công cụ không ngừng đợc cải
tiến và hoàn thiện. Chính sự cảI biến và hoàn thiện không ngừng công cụ lao
động đã làm biến đổi toàn bộ t liệu sản xuất. Xét đến cùng, đó là nguyên nhân
sâu xa của mọi biến đổi xã hội. Trình độ phát triển của công cụ lao động là th-
ớc đo trình độ chinh phục tự nhiên của con ngời, là tiêu chuẩn phân biệt các
thời đại kinh tế trong lịch sử.
3
Trong sự phát triển của LLSX, khoa học đóng vai trò ngày càng to lớn.
Sự phát triển của khoa học gắn liền với sản xuất và là động lực mạnh mẽ thúc
đẩy sản xuất phát triển.
Ngày nay, khoa học đang có nhiều bớc phát triển vợt bậc và nó làm
thay đổi cục diện nền kinh tế thế giới. Các nớc phát triển mạnh nh: Mỹ, Nhật
Bản, các nớc Tây Âu nhờ lợi dụng đ ợc đợc những thành tựu đã có sẵn để vận
dụng linh hoạt vào nớc mình nên đã thoát khỏi nền nông nghiệp lạc hậu, phát
triển kinh tế theo hớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đã trở thành các siêu
cờng quốc kinh tế trên thế giới. Khoa học là nguyên nhân trực tiếp của nhiều
phúc lợi xã hội cho ngời lao động. Bên cạnh các quan hệ về mặt tổ chức quản
lý, trong hệ thống sản xuất, các quan hệ về măt phân phối sản phẩm lao động
cũng là những nhân tố có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự vận động của toàn
bộ nền kinh tế. Quan hệ phân phối có thể thúc đẩy tốc độ nhịp điệu của sản
xuất nhng ngợc lại nó có khả năng kìm hãm sản xuất, kìm hãm sự phát triển
của xã hội.
QHSX trong tính hiện thực của nó không phảI là những quan hệ ý chí,
pháp lý mà là quan hệ kinh tế đợc biểu hiện thành các phạm trù, quy luật kinh
tế.
QHSX mang tính khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của
con ngời.
B.Quy luật về sự phù hợp giữa QHSX với tính chất và trình độ phát
triển của LLSX.
1,Tính chất và trình độ phát triển của LLSX.
a.Tính chất của LLSX.
5
Tính chất của LLSX đợc biểu hiện khi sản xuất còn ở trình độ thấp kém
thì LLSX có tính cá nhân-khi sản xuất đạt đến trình độ cơ khí hiện đại, phân
công lao động phát triển thì LLSX mang tính chất xã hội hóa.
Trong quá trình sản xuất, để lao động bớt nặng nhọcvaf đạt hiệu quả
cao hơn, con ngời luôn tìm cách cải tiến, hoàn thiện công cụ lao động và chế
tạo ra những công cụ lao động mới,tinh xảo hơn, đông thời kinh nghiệm sản
xuất, thói quen lao động, kỹ năng sản xuất, kiến thức khoa học của con ngời
sẽ tiến bộ theo.
b.Trình độ phát triển của LLSX.
LLSX là yếu tố có tác dụng quyết định đối với sự phát triển của phơng
thức sản xuất: Trình độ của LLSX trong từng giai đoạn lịch sử của loài ngời
thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của loài ngời trong giai đoạn đó. Khái
niệm trình độ của LLSX nói lên khả năng của con ngời thông qua việc sử
dụng công cụ lao động thực hiện quá trình cải biến tự nhiên nhằm đảm bảo
phát triển đến đỉnh cao, trong khi đó quan hệ sản xuất mang bản chất bóc lột
không còn phù hợp và những ngời công nhân đại diện cho LLSX tiến bộ đứng
lên đấu tranh nhằm mở đờng cho LLSX phát triển. Họ đoàn kết với nhau,
thống nhất với nhau tạo thành một khối, họ chủ trơng cải tạo hội cũ xã hội t
bản và xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa. Thay thế quan hệ sản xuất cũ
bằng quan hệ sản xuất mới có nghĩa là phơng thức sản xuất cũ mất đi, phơng
thức sản xuất mới ra đời thay thế.
Thứ hai, LLSX quyết định QHSX, nhng QHSX cũng có tính độc lập
tơng đối và tác động trở lại sự phát triển của LLSX.
QHSX quy định mục đích sản xuất, tác động đến thái độ của con ngời
trong lao động sản xuất, đến tổ chức phân công lao động xã hội, đến phát triển
và ứng dụng khoa học-công nghệ và do đó tác động đến sự phát triển của
7
LLSX. QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX là động lực thúc đẩy
LLSX phát triển. Ngợc lại, QHSX lỗi thời, lạc hậu hoặc tiên tiến hơn một
cách giả tạo so với trình độ phát triển của LLSX sẽ kìm hãm sự phát triển của
LLSX. Tuy nhiên, việc giải quyết mâu thuẫn giữa LLSX với QHSX không
phải đơn giản. Nó phải thông qua nhận thức và hoạt động cải tạo xã hội của
con ngời. Trong xã hội có giai cấp phải thông qua đấu tranh giai cấp, thông
qua cách mạng xã hội.
Thực tiễn cho thấy rằng LLSX chỉ phát triển khi có một QHSX hợp lý
đồng bộ phù hợp với nó. Tuy nhiên bên cạnh đó, chúng ta không nên tuyệt đối
hoa vai trò của LLSX mà bỏ qua sự tác động trở lại của QHSX đối với nó khi
giữa chúng có sự phù hợp. Đôi khi sự phát triển chệch hớng của quy luật
QHSX phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX là do yếu tố chủ
quan nóng vôi,duy ý chí của con ngời, chứ không phải do tính chất đặc thù
của quy luật ấy.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chứng minh vai trò quyết định của LLSX
đối với QHSX, song nó cũng chỉ rõ rằng QHSX bao giờ cũng thể hiện tính độc
lập tơng đối với LLSX.
Trong quá trình lãnh đạo xã hội đẩy mạnh phát triển kinh tế Đảng ta đã
vận dụng quy luật sao cho quan hệ sản xuất luôn phù hợp với tính chất và trình
độ phát triển của lực lợng sản xuất, trên thực tế Đảng và Nhà nớc ta đang từng
bớc điều chỉnh quan hệ sản xuất cả tầm vĩ mô( ở tầm quốc gia) và tầm vi
mô( các doanh nghiệp), đồng thời đẩy mạnh phát triển lực lợng sản xuất.
Hiện nay, Đảng ta đang lãnh đạo đất nớc thực hiện công cuộc công
nghiệp hóa - hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ. Muốn làm tốt
trọng trách này, thì phải tạo điều kiện cho bản thân nền kinh tế, trong đó thành
phần kinh tế t nhân là rất năng động, hiêu quả, Nhà nớc cần khuyến khích
9
thành phần kinh tế này phát triển nh: giảm thuế, cung cấp vốn và kiến thức bổ
ích đến từng doanh nghiệp để họ làm ăn có lãi Nếu thành phần kinh tế t
nhân mà phát triển mạnh thì nó giúp giải quyết công ăn việc làm cho ngời lao
động, giảm tình trạng thất nghiệp đang trở thành vấn đề nan giải nh hiện nay,
ngoài ra các thành phần này còn đóng góp một khoản tiền lớn vào ngân sách,
đáp ứng nhu cầu tiêu dùng mua sắm đa dạng của ngời dân và là cơ sở để đào
tạo ra nhiều ngời có tài năng lãnh đạo Có điều kiện này Đảng mới có thêm
kiến thức và kỹ năng nghiệp vụ cụ thể để lãnh đạo thành công mục tiêu tăng
trởng kinh tế, đó chính là làm cho lực lợng sản xuất phát triển.
Đảng ta đặt ra mục tiêu đến năm 2020 nớc ta cơ bản trở thành nớc công
nghiệp phát triển, để đạt đợc mục tiêu đề ra Đảng ta tạo mọi điều kiện thuận
lợi cho LLSX phát triển trên cơ sở nâng cao trình độ dân trí, đào tạo ra nhiều
lao động có kiến thức nghiệp vụ vững vàng.Đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng
thành tựu của khoa học- công nghệ vào trong sản xuất, luôn học hỏi tiếp thu
lối t duy lãnh đạo hiệu quả của các nớc đi trớc. Về QHSX, Đảng chủ trơng
xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, khuyến khích mọi tầng lớp dân c
hăng hái sản xuất, chia ruộng đất cho dân cày, thực hiện sự công bằng trong
lao động sản xuất làm theo năng lực hởng theo năng xuất.
Nhìn chung sau hơn 20 năm đổi mới(từ 1986 đến nay) đất nớc ta đạt đ-
ợc nhiều thành tựu to lớn, bên cạnh đó còn một số yếu kém cha đợc khắc
12,7%, năm 1997; 3,7%, năm 1999: 0,1%; trong khi đó tốc độ tăng trởng kinh
tế khá cao.
c, Cơ cấu kinh tế đợc chuyển dịch theo hớng năng động và hiệu quả.
- Cơ cấu ngành kinh tế.
- Cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch theo hớng khu vực I (gồm nông
nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản) tuy vẫn đạt tốc độ tăng trởng cao liên tục, nh-
11
ng tỷ trọng đã giảm xuống, trong khi đó tỷ trọng của khu vực II ( gồm công
nghiệp và xây dựng cơ bản) và khu vực III (gồm các ngành dịch vụ) đã tăng
lên.
- Cơ cấu sở hữu và các thành phần kinh tế.
Nền kinh tế trớc năm 1986 chủ yếu dựa trên chế độ công
hữu về t liệu sản xuất, với hai thành phần kinh tế: quốc doanh và tập thể,
trong thời kỳ đổi mới đã chuyển sang nền kinh tế cơ cấu nhiều thành phần, đa
sở hữu.
+ Doanh nghiệp nhà nớc đợc sắp xếp lại để hoạt động có hiệu quả hơn;
Số doanh nghiệp đã giảm từ hơn 12.000 vào đầu năm 1990, xuống còn gần
6.000 vào cuối năm 1990. Tuy vậy, tỷ trọng kinh tế nhà nớc trong GDP vẫn
tăng lên từ 29,4% (năm 1990) lên 39,0% (năm 2000). Doanh nghiệp nhà nớc
từng bớc đổi mới và phát triển. Nhà nớc thành lập 92 tổng công ty lớn trên
nhiều lĩnh vực then chốt . Nhiều doanh nghiệp nhà nớc có quy mô nhỏ đợc
chuyển đổi sang các hình thức sở hữu khác. Tính đến cuối năm 2002 số lợng
chuyển đổi là 1.035 doanh nghiệp, trong đó cổ phần hóa 907 doanh nghiệp,
giao 76 doanh nghiệp, bán 46 doanh nghiệp, khoán và cho thuê 6 doanh
nghiệp.
, Kinh tế hợp tác: Từ năm 1988 đến năm 1994, cả nớc đã giải thể 2.998
HTX yếu kém (chiếm 17,4% tổng số HTX) và 33.804 tập đoàn sản xuất. Tính
đến năm 1997 cả nớc có 13.000 HTX nông nghiệp, 38.000 tổ hợp tác. Nhiều
HTX nông nghiệp đang chuyển đổi sang mô hình HTX kiểu mới, hoạt động
theo Luật HTX.
thơng đã vợt mốc 65 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt hơn 32 tỷ USD. Kim
ngạch ngoại thơng tăng bình quân hàng năm trên 20%. Việt Nam có các mặt
13
hàng xuất khẩu chủ lực nh dầu thô, than đá, gạo, giày dép, thủy sản, cao su, cà
phê với số lợng lớn và chất lợng ngày càng tăng.
- Về thu hút đầu t nớc ngoài: Hoạt động đầu t nớc ngoài bắt đầu từ năm
1988, với 37 dự án và 321,8 triệu USD, đến năm 2000 cả nớc cấp phép cho
3.209 dự án, với tổng số vốn đăng kí 39,4 tỷ USD, vốn thực hiện khoảng 18,9
tỷ USD. Đến năm 2005, tổng số vốn FDI theo đăng kí đã lên tới 53,6 tỷ USD.
Nhìn chung vốn FDI vào Việt Nam tăng nhanh qua nhiều năm.
g, Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân đợc cảI thiện rõ rệt.
Số lao động có việc làm trong nền kinh tế đã tăng nhanh, trong những
năm 1995-2000 trung bình mỗi năm đã tạo đợc 1,3 triệu việc làm mới. Thu
nhập của dân c tăng bình quân 10% trong 16 năm đổi mới. GDP tính theo đầu
ngời đạt gần 400 USD/năm. Số hộ giàu tăng lên và đến nay đã đạt trên 10%,
số hộ nghèo giảm xuống từ 55% (vào năm 1989) xuống còn 11,4% vào năm
2000.
Cùng với đời sống vật chất, đời sống tinh thần của nhân dân cũng đợc
tăng lên đáng kể. Số ngời bình quân tính trên 1 vạn dân đã tăng từ 1.834 ngời
năm 1990 lên 2.171 ngời năm 1995. Tỷ lệ ngời biết đọc, biết viết tăng từ 88%
năm 1989 lên 93% vào năm 2000. Chỉ số phát triển con ngời (HDI) của Việt
Nam đã tăng từ 0,464 năm 1992 lên 0,671 năm 2000, xếp thứ 108 trong 174
nớc xếp hạng, tăng 2 bậc so năm 1999.
Tóm lại, những thành tựu kinh tế - xã hội đã đạt đợc trên đây là kết quả
của đờng lối đổi mới do Đảng ta khởi xớng và lãnh đạo. Đồng thời, đó cũng là
kết quả phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân. Những thành tựu đó có ý nghĩa rất
quan trọng trong việc nâng cao lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nớc
và chế độ ta. Uy tín của nớc ta trên trờng quốc tế ngày cang đợc nâng cao; tạo
ra thế và lực mới để nớc ta phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong thế kỉ XXI.
quả thấp.
- Vai trò quản lý của Nhà nớc đối với nền kinh tế xã hội còn yếu:
khả năng kiềm chế lạm phát cha vững chắc. Ngân sách thu không đủ chi, tỷ lệ
bội chi ngân sách còn cao.
- Tình trạng bất cộng trong xã hội, tham nhũng, buôn lậu, vi phạm kỉ
cơng còn nặng và phổ biến.
Nguyên nhân của những yếu kém trên một mặt là do hậu quả của nhiều
năm trớc đây để lại và do tác động bất lợi của tình hình thế giới; mặt khác, còn
do những khuyết điểm trong công tác lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà
nớc.
III. Kết Luận Và Giải Pháp.
1. Kết Luận.
Quy luật kinh tế khách quan, xác định mối quan hệ biện chứng giữa
QHSX và LLSX, thể hiện trong tất cả các hình thái kinh tế- xã hội. LLSX là
nội dung vật chất của phơng thức sản xuất, là yếu tố động nhất, cách mạng
nhất, có tác dụng quyết định đối với sự biến đổi của phơng thức sản xuất; còn
QHSX là hình thức xã hội của phơng thức sản xuất, là yếu tố tơng đối ổn định
với LLSX. Song, trên mọi quá trình lịch sử của xã hội, mọi kiểu quan hệ sản
xuất, nhất là quan hệ sản xuất chủ đạo, cuối cùng cũng phải thay đổi cho phù
hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX, vì sự phù hợp giữa hai mặt
của phơng thức sản xuất bao giờ cũng tạo điều kiện và địa bàn cho LLSX phát
triển, và cho QHSX đợc ổn định và phát huy tác dụng của nó đối với LLSX.
Khuynh hớng vận động của nền sản xuất xã hội là lLSX luôn biến đổi, và khi
LLSX đã phát triển đến một trình độ nhất định (hoặc đã có sự thay đổi về
chất), thì QHSX không còn phù hợp với LLSX nữa , do đó sẽ phát sinh mâu
thuẫn ngày càng gay gắt giữa LLSX mới và QHSX đã lỗi thời, dẫn đến xung
đột kinh tế xã hội, và cuối cùng mâu thuẫn ấy đợc giảI quyết thông qua
16
cách mạng xã hội. Quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ
phát triển của LLSX, có tác động tích cực trở lại đối với LLSX. Trái lại nếu
của đời sống xã hội (củng cố đổi mới kiến trúc thợng tầng).
- Đổi mới hệ thống chính trị.
- Nâng cao sức chiến đấu của Đảng.
- Xây dựng nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.18
MỤC LỤC
19