BÁO CÁO CUỐI CÙNG KHUYẾN NGHỊ
THÀNH LẬP ĐIỂM THÔNG BÁO VÀ
HỎI ĐÁP GATS CỦA VIỆT NAM
HOẠT ĐỘNG MÃ SỐ: SERV-4 “HỖ TRỢ THỰC HIỆN CÁC NGHĨA VỤ MINH BẠCH
HÓA, XÂY DỰNG ĐIỂM THÔNG BÁO VÀ HỎI ĐÁP GATS CỦA VIỆT NAM”
DỰ ÁN HỖ TRỢ THƯƠNG MẠI ĐA BIÊN II
(MUTRAP II)
Bộ Công thương phối hợp cùng Ủy ban châu Âu thực hiện
ASIE/2003/0057111
LỜI NÓI ĐẦU
Báo cáo này được thực hiện trong khuôn khổ hoạt động SERV-4 “Hỗ trợ thực hiện các nghĩa
vụ minh bạch hóa theo GATS, xây dựng Điểm Thông báo và Hỏi đáp GATS” của Dự án Hỗ
trợ Thương mại Đa biên II do Bộ Công thương thực hiện với sự tài trợ của Liên minh Châu
Âu.
Các mục tiêu của hoạt động này gồm:
a) Nâng cao nhận thức của các cán b
ộ Chính phủ thuộc các Bộ liên quan về các yêu
cầu minh bạch hóa cơ bản theo Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS)
trong mối quan hệ với luật pháp và quy định liên quan đến thương mại;
b) Tập huấn cho các cán bộ Chính phủ về các yêu cầu này;
c) Hỗ trợ xây dựng các quy tắc và thủ tục phù hợp trong bộ máy chính phủ, về việc
sắp đặt thể chế cầ
n thiết, nguồn nhân lực và trang thiết bị để đảm bảo hoạt động
hiệu quả của Điểm Thông báo và Hỏi đáp GATS đặt tại Bộ Công Thương.
Hoạt động được thực hiện bởi nhóm chuyên gia trong nước từ Bộ Công Thương và Bộ Kế
A Chức năng của Điểm thông báo và Hỏi đáp GATS 5
B. Trả lời yêu cầu và câu hỏi từ các thành viên WTO 9
III KHUYẾN NGHỊ CÁC BƯỚC THÀNH LẬP ĐIỂM THÔNG BÁO VÀ
HỎI ĐÁP GATS 19
IV. PHỤ LỤC 20
Phụ lục 1: Trích dẫn điều III, III bis và IV về nghĩa vụ minh bạch hoá trong
Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ của WTO 20
Phụ lục 2: Giới thiệu Điểm Thông báo và Hỏi đáp GATS của Trung Quốc 22
Phụ lục 3: Báo cáo cuối cùng của Nhóm chuyên gia trong nước 1
3
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT AFAS Hiệp định khung ASEAN về thương mại dịch vụ
AFTA Khu vực thương mại tự do ASEAN
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
EPA Hiệp định Hợp tác kinh tế
FTA Hiệp định Thương mại tự do
GATS Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ của WTO
GECP Điểm thông báo và hỏi đáp GATS
Báo cáo này được thực hiện trong khuôn khổ hoạt động SERV-4 “Hỗ trợ thực hiện các nghĩa
vụ minh bạch hóa theo GATS, xây dựng Điểm Thông báo và Hỏi đáp GATS” của Dự án Hỗ
trợ Thương mại Đa biên II do Bộ Thương mại thực hiện với sự tài trợ của Liên minh Châu
Âu.
Các mục tiêu của hoạt động này gồm:
d) Nâng cao nhận thứ
c của các viên chức chính phủ thuộc các Bộ liên quan về các
yêu cầu minh bạch hóa cơ bản theo Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ
(GATS) trong mối quan hệ với luật pháp và quy định liên quan đến thương mại;
e) Tập huấn cho các viên chức chính phủ về các yêu cầu này;
f) Hỗ trợ xây dựng các quy tắc và thủ tục phù hợp trong bộ máy chính phủ, về việc
sắp đặt thể
chế cần thiết, nguồn nhân lực và trang thiết bị để đảm bảo hoạt động
hiệu quả của Điểm Thông báo và Hỏi đáp GATS đặt tại Bộ Công Thương.
Hoạt động được thực hiện bởi nhóm chuyên gia trong nước từ Bộ Công Thương và Bộ Kế
hoạch và Đầu tư, phối hợp cùng 1 Chuyên gia cao cấp của EU.
PHẦN II. KHUYẾN NGHỊ VỀ MỤC Đ
ÍCH VÀ QUY TRÌNH THÀNH LẬP ĐIỂM
THÔNG BÁO VÀ HỎI ĐÁP GATS CỦA VIỆT NAM
Phần II của Báo cáo này mô tả các nghĩa vụ của Chính phủ Việt Nam theo các điều khoản về
minh bạch hóa trong Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS) của Tổ chức Thương
mại Thế giới (WTO), liên quan đến việc xây dựng Điểm Thông báo và Hỏi đáp GATS. Báo
cáo này đưa ra những khuyến nghị về mục
lợi ích công, hoặc gây tổn hại đến lợi ích thương mại hợp pháp của các doanh nghiệp cụ
thể,
dù là doanh nghiệp công hay doanh nghiệp tư.
Thành lập Điểm Thông báo và Hỏi đáp GATS
Báo cáo này đề xuất Việt Nam nên xây dựng một Điểm Thông báo và Hỏi đáp GATS đặt tại
Bộ Công Thương để đáp ứng các nghĩa vụ GATS. Từ nay cho đến khi xây dựng xong Điểm
Hỏi đáp, Bộ Công Thương cần phải trả lời mọi câu hỏi theo GATS của các Thành viên WTO.
Trách nhiệm chủ yếu c
ủa Điểm Thông báo và Hỏi đáp GATS là “nhanh chóng trả lời tất cả
các câu hỏi của bất kỳ Thành viên nào về thông tin cụ thể liên quan đến bất kỳ biện pháp có
tính áp dụng chung nào hoặc về các hiệp định quốc tế theo nghĩa của đoạn 1”. Đoạn III:1 đề
cập đến các biện pháp “liên quan đến hoặc ảnh hưởng đến việc thực hiện” GATS. Trong khi
thực hiện các nghĩa vụ
này, Điểm Thông báo và Hỏi đáp GATS phải đảm bảo các câu trả lời
của mình nhất quán với các mục tiêu chính sách thương mại quốc gia và đảm bảo rằng những
thông tin bí mật không bị tiết lộ.
Theo quy định của WTO, mặc dù Điểm Thông báo và Hỏi đáp GATS của Việt Nam có thể
được thành lập muộn nhất vào tháng 1 năm 2009, việc thành lập nên được tiến hành sớm nhất
có thể để đả
m bảo hiệu quả của công tác điều phối liên Bộ và đảm bảo sự tuân thủ hoàn toàn
các điều khoản trong điều III:4 của GATS. Việt Nam cần thông báo cho Ban thư ký WTO về
việc thành lập Điểm Thông báo và Hỏi đáp GATS của mình.
Một nghĩa vụ khác về minh bạch hóa được quy định tại Điều IV: 2 của Hiệp định GATS, theo
đó: “các Thành viên phát triển, và cả các Thành viên khác trong phạm vi có thể, cần thành l
ập
nhằm làm rõ thêm vấn đề.
Điều III Hiệp định GATS cũng không yêu cầu các Chính phủ phải cung cấp thông tin về kế
hoạch ban hành pháp luật hoặc dự thảo luật. Theo các cam kết của Việt Nam được ghi nhận
trong Báo cáo của Ban công tác, các Bộ ngành phải dành ít nhất 60 ngày để tham vấn rộng rãi
về các luật và quy định mới (d
ự thảo phải được công bố trên trang web, v.v…) và VCCI là cơ
quan điều phối trong việc tham vấn với khu vực tư nhân, doanh nghiệp trong tất cả các lĩnh
vực, tuy nhiên trong một số trường hợp nhất định cần xem xét việc Điểm Thông báo và Hỏi
đáp GATS có thể cung cấp các thông tin này hay không. Việc cung cấp các thông tin này sẽ
được các Thành viên WTO khác rất hoan nghênh.
Bộ Công Thương nên quyết định sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ cho các câu trả lời củ
a mình.
Điều này phù hợp với thông lệ của nhiều Thành viên WTO. Trong trường hợp nhận được câu
hỏi bằng tiếng 2 ngôn ngữ chính thức khác của WTO là tiếng Pháp hoặc Tây Ban Nha, Việt
Nam có quyền chọn trả lời bằng tiếng Anh.
Điểm Thông báo và Hỏi đáp GATS có thể là một kênh tốt để chuyển các câu hỏi đến các
Thành viên khác của WTO về các biện pháp GATS của họ. Nếu điều này được quyết định,
các Bộ ngành khác của Việt Nam có thể gửi đến Điểm Thông báo và Hỏi đáp GATS Việt
Nam bất kỳ câu hỏi nào để chuyển cho các Thành viên khác. Điểm Điểm Thông báo và Hỏi
đáp GATS sẽ chuyển lại các Bộ ngành các câu trả lời nhận được cho các câu hỏi này.
Sự điều phối liên Bộ:
Một loạt các Bộ ngành và các cơ quan tham gia quản lý trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến
hơn 150 lĩnh v
ực dịch vụ. Một số hoạt động quản lý dịch vụ diễn ra ở cấp tỉnh và một số ở cấp
trung ương.
Báo cáo cuối cùng: Khuyến nghị thành lập Điểm Thông báo và
Hỏi đáp GATS của Việt Nam
4
Sau khi hoàn thành quá trình sắp xếp lại bộ máy tổ chức, Bộ Công thương cần quyết Điểm
thông báo và hỏi đáp GATS sẽ trực thuộcVụ/Đơn vị nào sau khi được thành lập vì việc này sẽ
quyết định cơ chế hỏi đáp, giải quyết các vấn đề liên quan đến WTO của Điểm thông báo và
hỏi đáp GATS.
Những chức năng, nhiệm vụ của Đi
ểm thông báo và hỏi đáp GATS xét theo điều III và điều
IVI của GATS cần được nghiên cứu thêm, đặc biệt từ những sức ép có thể nảy sinh từ các
cuộc đàm phán thương mại song phương mà Bộ Công thương và các Bộ/ngành hữu quan khác
của Việt Nam có thể tham gia trong tương lai.
Cán bộ và trang thiết bị
Trong giai đoạn đầu, có thể không cần tuyển thêm cán bộ chuyên trách trong Bộ Công thương
làm việc cho Điểm thông báo và h
ỏi đáp GATS. Đồng thời, dự kiến cũng không cần phải
trang bị những thiết bị công nghệ thông tin, thiết bị kỹ thuật riêng biệt cho Điểm thông báo và
hỏi đáp GATS, vì trang thiết bị hiện nay đã đủ để phục vụ hoạt động của Điểm thông báo và
hỏi đáp GATS. Khảo sát
Một chuyến khảo sát nên được tổ chức cho những cán bộ tham gia
Điểm thông báo và hỏi đáp
GATS để tìm hiểu sâu về những thông lệ tốt nhất của một số nước EU. Chuyến khảo sát nên
Hỏi đáp GATS của Việt Nam
5
II KHUYẾN NGHỊ VỀ MỤC ĐÍCH VÀ QUY TRÌNH THÀNH LẬP ĐIỂM
THÔNG BÁO VÀ HỎI ĐÁP GATS CỦA VIỆT NAM
A Chức năng của Điểm thông báo và Hỏi đáp GATS
A.1 Nguyên tắc minh bạch hóa của Tổ chức Thương mại thế giới
Minh bạch hóa là một trong những trụ cột của hệ thống thương mại đa biên và là một trong
những nguyên tắc cơ bản của T
ổ chức Thương mại Thế giới (WTO) nhằm hỗ trợ quá trình tự
do hóa thương mại. Việc thực hiện nghĩa vụ minh bạch hóa giúp xác định những hoạt động,
biện pháp gây hạn chế và bóp méo thương mại. Nguyên tắc này đặc biệt phù hợp với thương
mại dịch vụ vì phần lớn các quy định đều có ảnh hưởng đối với thương mại nói chung và
thương mại dị
ch vụ nói riêng.
Các Thành viên WTO cần đảm bảo sự minh bạch hóa của khung chính sách liên quan đến
thương mại của mình. Nếu không thực hiện được điều này, sẽ không có sự đảm bảo về pháp
lý giữa các nước Thành viên WTO.
Những điều khoản cụ thể về minh bạch hóa được quy định tại Điều III, III bis và IV của Hiệp
định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS). Các Điều này
được trích nguyên văn trong Phụ
lục 2 của Báo cáo.
Điểm Thông báo và Hỏi đáp GATS của Việt Nam, sau khi được thành lập và hoạt động, cần
tuân thủ hoàn toàn các quy định của GATS vè minh bạch hóa.
Bộ Công thương phối hợp cùng Ủy ban châu Âu thực hiện
Báo cáo cuối cùng: Khuyến nghị thành lập Điểm Thông báo và
Hỏi đáp GATS của Việt Nam
6
“Các Thành viên phải nhanh chóng và ít nhất mỗi năm một lần thông báo cho Hội
đồng thương mại dịch vụ về các văn bản pháp luật mới hoặc bất kỳ sửa đổi nào trong
các luật, quy định hoặc hướng dẫn hành chính có tác động đáng kể đến thương mại
dịch vụ thuộc các cam kết cụ thể theo Hiệp định này” (III:3)
Điều III.3 Hiệp định GATS nêu trên quy định về việc thông báo
đối với WTO. Tất cả các biện
pháp được áp dụng chung trên thực tế mà có ảnh hưởng đến Hiệp định GATS, cùng với các
văn bản pháp luật mới hoặc bất kỳ sửa đổi nào trong các luật, quy định hoặc hướng dẫn hành
chính có tác động đáng kể đến thương mại dịch vụ thuộc các cam kết cụ thể theo Hiệp định
GATS phải được thông báo cho WTO.
“Mỗi Thành viên phải trả
lời không chậm trễ tất cả các yêu cầu của bất kỳ một Thành
viên nào khác về những thông tin cụ thể liên quan đến các biện pháp được áp dụng
chung (…). Mỗi Thành viên cũng sẽ thành lập một hoặc nhiều Điểm Thông báo/Hỏi
đáp để cung cấp thông tin cụ thể theo yêu cầu của các Thành viên khác về những vấn
đề nêu trên” (III:4)
Cần lưu ý một điểm quan trọng theo quy định của Đi
ều III.4: "Các điểm cung cấp thông tin
không nhất thiết phải là nơi lưu trữ các văn bản và quy định pháp luật."
Điểm Thông báo và Hỏi đáp GATS của Việt Nam nên được thành lập với đủ năng lực thực
hiện trọn vẹn các quy định của Điểu III.4 Hiệp định GATS.
định quốc tế nêu tại khoản 1”. Đoạn III:1 đề cập đến những biện pháp “có liên quan
hoặc tác động" đối với Hiệp định GATS.
Dự án Hỗ trợ Thương mại Đa biên II
Bộ Công thương phối hợp cùng Ủy ban châu Âu thực hiện
Báo cáo cuối cùng: Khuyến nghị thành lập Điểm Thông báo và
Hỏi đáp GATS của Việt Nam
7
- “thành lập một hoặc nhiều điểm cung cấp thông tin cụ thể theo yêu cầu của các
Thành viên khác về những vấn đề nêu trên” (theo Điều III:1), “cũng như những vấn đề
thuộc đối tượng được yêu cầu thông báo” (theo Điều III:3).
Trong khi thực hiện những nghĩa vụ trên, Điểm thông báo và hỏi đáp GATS cần đảm bảo tính
nhất quán giữa các thông tin trả lời/cung cấp cho các Thành viên WTO khác và mục tiêu qu
ốc
gia của các chính sách thương mại, đồng thời đảm bảo rằng các thông tin bí mật không bị tiết
lộ (theo Điều III bis).
Giống như Điểm thông báo và hỏi đáp GATS, Điểm Thông báo và Hỏi đáp về Các rào cản
liên quan đến thương mại (TBT) và các biện pháp vệ sinh dịch tễ (SPS) có cùng mục tiêu
nhằm thực hiện nghĩa vụ minh bạch hóa. Do đó, Bộ Công thương nên tìm hiểu và tham khảo
những kinh nghi
ệm liên quan trong việc thành lập và vận hành của 2 Điểm Thông báo và Hỏi
đáp về TBT và SPS. Điều này đóng vai trò quan trọng khi tiêu chuẩn cung cấp dịch vụ được
thực thi.
Bộ Công thương cần tìm hiểu và tham khảo quy trình, thông lệ tốt nhất trng việc xử lý luồng
thông tin, bao gồm kinh nghiệm tương tự trong nước cũng như của một số nước phù hợp
khác. Ví dụ, cần xác nhận việc nhận đượ
c một yêu cầu cung cấp thông tin hoặc câu hỏi và
Một nghĩa vụ khác về minh bạch hóa theo Điệu IV.2 Hiệp định GATS: “các Thành viên phát
triển, và các Thành viên khác trong phạm vi khả năng của mình, sẽ thành lập các đầu mối liên
hệ để tạo điều kiện thuận lợi cho nhà cung cấp dịch vụ của các thành viên đang phát triển tiếp
cận thông tin liên quan tới thị trường của các Thành viên WTO” nhằm:
Dự án Hỗ trợ Thương mại Đa biên II
Bộ Công thương phối hợp cùng Ủy ban châu Âu thực hiện
Báo cáo cuối cùng: Khuyến nghị thành lập Điểm Thông báo và
Hỏi đáp GATS của Việt Nam
8
“tăng cường sự tham gia và tăng xuất khẩu thương mại dịch vụ của các Thành viên
đang phát triển thông qua việc nâng cao năng lực, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của
thương mại dịch vụ trong nước”
Vào thời điểm phù hợp, Bộ Công thương nên quyết định việc kết hợp Điểm Thông báo với
Điểm Hỏi đáp. Theo các Hiệp định thươ
ng mại tự do, Hiệp định thương mại khu vực khác
liên quan đến thương mại dịch vụ hiện nay mà Việt Nam tham gia, không có nghĩa vụ nào quy
định về việc thành lập Điểm thông báo và hỏi đáp GATS. Tuy nhiên, các Hiệp định thương
mại tự do song phương, Hiệp định thương mại khu vực hoặc Hiệp định hợp tác kinh tế trong
tương lai có thể bao gồm nghĩa vụ này. Kinh nghiệm của một số
Thành viên WTO cho thấy
chỉ nên thành lập một Điểm thông báo và hỏi đáp GATS để thuận tiện trong việc vận hành và
điều phối.
Bộ Công thương cũng nên xem xét khả năng hỗ trợ các nhà xuất khẩu dịch vụ nêu câu hỏi/yêu
cầu cung cấp thông tin đối với các Điểm thông báo và hỏi đáp GATS của các Thành viên
Bộ Công thương phối hợp cùng Ủy ban châu Âu thực hiện
Báo cáo cuối cùng: Khuyến nghị thành lập Điểm Thông báo và
Hỏi đáp GATS của Việt Nam
9
B. Trả lời yêu cầu và câu hỏi từ các thành viên WTO
B1. Những ai có thế đưa ra yêu cầu tới các Điểm thông báo và Hỏi đáp GATS
Điều III Hiệp định GATS quy định các nghĩa vụ liên Chính phủ giữa các thành viên WTO. Vì
vậy các nhà cung cấp dịch vụ tư nhân không thể tiếp cận trực tiếp (Điểm Thông báo và Hỏi
đáp GATS). Tuy nhiên các doanh nghiệp tư nhân của các nước Thành viên có thể gửi yêu cầu
giải đáp thông tin hoặc câu h
ỏi tới Chính phủ của họ (hoặc tới Uỷ ban châu Âu, tuỳ theo
trường hợp cụ thể), và đề nghị rằng yêu cầu giải đáp của mình được chuyển đến Chính phủ
Việt Nam thông qua các kênh quy định tại điều III.
Các nhà xuất khẩu dịch vụ Việt Nam cũng có thể yêu cầu tương tự như vậy với Chính phủ
Việt Nam để thu nhận các thông tin quy định về các ch
ế độ dịch vụ của các Thành viên WTO
khác do Bộ Công Thương chuyển đến các Điểm thông báo và Hỏi đápGATS.
Điểm thông báo và Hỏi đápGATS chỉ có nghĩa vụ trả lời các yêu cầu giải đáp từ các Thành
viên WTO khác và các yêu cầu có thể xuất phát từ bất kỳ Bộ, ngành nào, bao gồm cả Đại sứ
quán.
Người ta hiểu rằng các Điểm thông báo và Hỏi đáp GATS của một số Thành viên cũng có th
ể
trả lời các yêu cầu giải đáp từ các nhà cung cấp dịch vụ tư nhân bởi vì các thông tin đó, nếu
không được cung cấp từ Điểm Thông báo và Hỏi đáp GATS, có thể lấy được từ các Bộ và Cơ
chỉnh những vấn đề khác nhưng vẫn có ảnh hưởng đến thương mại dịch vụ”.
Đoạn III:4 quy định nghĩa vụ của Thành viên đối với các yêu cầu/câu hỏi từ Thành viên khác
liên quan đến nghĩa vụ tại đo
ạn III:1, cho dù họ đã có cam kết cụ thể ngành về vấn đề đó hay
Dự án Hỗ trợ Thương mại Đa biên II
Bộ Công thương phối hợp cùng Ủy ban châu Âu thực hiện
Báo cáo cuối cùng: Khuyến nghị thành lập Điểm Thông báo và
Hỏi đáp GATS của Việt Nam
10
chưa. Các biện pháp được bao hàm trong các cam kết cụ thể có hiệu lực như một tập hợp của
các biện pháp của III:1, và như vậy các Thành viên có nghĩa vụ cung cấp thông tin chi tiết và
cụ thể hơn liên quan đến các cam kết cụ thể.
Trong khi rõ ràng là các biện pháp và quy tắc áp dụng cho từng trường hợp cụ thể không phải
thông báo nhưng mặt khác định nghĩa về biện pháp lại quá rộng theo điều XXVIII (a), (b) và
(c), và không có biện pháp nào được đặt ra ngoài các nghĩa vụ chung là phải trả lời các yêu
cầu hỏi đáp về các biện pháp áp dụng chung có gắn liền với hoặc có ảnh huởng tới việc thực
hiện GATS. Thực sự là các Chính phủ không thể viện dẫn điều I:3 (c) để né tránh việc phải
thông báo hoặc phải có trả lời đối với yêu cầu giải đáp về “một dịch vụ đượ
c áp dụng theo
thẩm quyền của Chính phủ, có nghĩa là bất kỳ dịch vụ nào được cung cấp không trên cơ sở
thương mại hoặc không cạnh tranh với một hoặc nhiều nhà cung cấp dịch vụ khác”, mà trong
GATS không áp dụng. Ví dụ các yêu cầu giải đáp có thể liên quan đến các trường hợp mà
Chính phủ có thể tính phí cho một số loại dịch vụ , cho dù là tính phí trên cơ sở giá thành.
Các biện pháp được coi là ngoại lệ n
ếu rơi vào điều XIV Các ngoại lệ chung và điều XIV
Ngoại lệ an ninh, và các biện pháp được áp dụng vì lý do cẩn trọng (lý do được gọi là “sự loại
trừ cẩn trọng”), được định nghĩa tại đoạn 2 (a) trong Phụ lục về các dịch vụ Tài chính, liên
u bên và các quy tắc XIII trong tương
lai chưa được làm rõ.
Tuy nhiên, các Thành viên không phải trả lời các yêu cầu giải đáp về các vấn đề ngoài phạm
vi của GATS. Những thông tin này bao gồm các biện pháp ảnh hưởng đến các dịch vụ của
Chính phủ (như định nghĩa trong Điều I Phạm vi và định nghĩa đoạn 3 (b) và (c), quyền giao
thông hàng không (như định nghĩa trong Phụ lục về Dịch vụ vận tả
i hàng không) và các biện
pháp liên quan đến lao động việc làm, quyền công dân và cư trú (như định nghĩa trong đoạn 2
của Phụ lục về Di chuyển Thể nhân cung cấp Dịch vụ theo Hiệp định).
Dự án Hỗ trợ Thương mại Đa biên II
Bộ Công thương phối hợp cùng Ủy ban châu Âu thực hiện
Báo cáo cuối cùng: Khuyến nghị thành lập Điểm Thông báo và
Hỏi đáp GATS của Việt Nam
11
Trên thực tế, không phải trường hợp nào cũng có thể sử dụng những diễn giải mang tính pháp
lý. Ví dụ các thông lệ ngoại giao có thể yêu cầu các giải đáp vượt ra ngoài giới hạn pháp lý
được quy định trong GATS. Trường hợp này được áp dụng đặc biệt đối với các yêu cầu giải
đáp được chuyển qua kênh ngoại giao mà ở đó không có các giới hạn pháp lý kèm theo và là
các yêu cầu mà Chính phủ sẽ mong muốn được trả l
ời/cung cấp thông tin một các thấu đáo.
Các yêu cầu giải đáp được gửi trực tiếp cho Bộ và Cơ quan Chính phủ từ các thực thể nhà
nước hay tư nhân và được xử lý song song với các yêu cầu gửi cho các Điểm thông báo và
Hỏi đáp GATS. Các yêu cầu này bao gồm các yêu cầu từ các Đại sứ quán, các Bộ, các chuyến
thăm của các quan chức Chính phủ nước ngoài. Cũng nên cân nhắc xem có cần phải quy định
thủ t
ục trả lời các yêu cầu giải đáp liên quan đến GATS được Bộ và Cơ quan chính phủ xử lý
để đảm bảo tính toàn diện trong hoạt động của Điểm thông báo và Hỏi đáp GATS và sự nhất
cho cá nhân và doanh nghiệp và các
quy định về kế toán)”
Đoạn 4 quy định rằng: “Các Thành viên sẽ công bố công khai các cơ quan thẩm quyền
hoặc sẽ đảm bảo rằng các cơ quan thẩm quyền sẽ được công khai, kể cả qua các Điểm
thông báo và Hỏi đáp: (a) các thông tin mô tả hoạt động và các chức danh chuyên môn
được điều chỉnh bằng hoặc phải tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật cụ thể; (b) yêu cầu và
các thủ
tục xin cấp, đổi mới, duy trì giấy phép hay chứng chỉ hành nghề cũng như các
cơ quan thẩm quyền giám sát việc tuân thủ; (c) thông tin về các tiêu chuẩn kỹ thuật; và
(d) nếu đựơc yêu cầu, khẳng định rằng một nghề nào đó hay một doanh nghiệp nào đó
được cấp phép hành nghề trong thẩm quyền quy định”.
Theo quy định, Việt Nam sẽ thực hiện Cơ chế rà soát Chính sách Thương Mại của WTO, vì
vậy c
ần phải cân nhắc xem các thông tin sẽ được đệ trình trong quá trình này được đảm bảo
nhất quán với thông tin do các Điểm thông báo và hỏi đáp GATS lưu trữ tại Bộ Công Thương
Dự án Hỗ trợ Thương mại Đa biên II
Bộ Công thương phối hợp cùng Ủy ban châu Âu thực hiện
Báo cáo cuối cùng: Khuyến nghị thành lập Điểm Thông báo và
Hỏi đáp GATS của Việt Nam
12
Ngoài ra cũng nên cân nhắc xem các yêu cầu giải đáp liên quan đến ASEAN/AFTA và các
FTA/EPA được xử lý thế nào, có lẽ sẽ là không hiệu quả nếu có thêm một số Điểm Thông báo
và hỏi đáp hoạt động song song chỉ riêng cho các Hiệp định/Thỏa thuận thương mại nói trên.
Theo đoạn 1 (b) của quyết định WTO về “Cơ chế minh bạch đối với các Hiệp định thương
mại khu vực”. Các Thành viên thống nhất nh
ư sau:
Trong bối cảnh Điểm thông báo và Hỏi đáp GATS, không tồn tại nghĩa vụ cung cấp thông tin
về cơ sở hình thành/lý do của một biện pháp đang quan tâm. Tuy nhiên, chúng tôi khuy
ến
nghị những thông tin liên quan nên được cung cấp để câu trả lời giải đáp được đầy đủ dễ hiểu
và tránh tình trạng phải trả lời các câu hỏi phát sinh tiếp theo.
Điều III không yêu cầu các Chính phủ cung cấp thông tin về dự thảo hoặc kế hoạch kế hoạch
xây dựng pháp luật. Cũng cần cân nhắc xem trong khuôn khổ GATS, Điểm thông báo và Hỏi
đáp GATS của Việt nam có cần phải cung cấp các thông tin nh
ư vậy không.
Trong quá trình đàm phán gia nhập WTO, chính phủ Việt Nam chỉ ra rằng, đối với các dự
luật, pháp lệnh, nghị định và các quy định và biện pháp khác do Quốc Hội và chính phủ ban
hành gắn liền với hoặc ảnh hưởng đến thương mại hàng hoá, dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ,
Việt Nam sẽ dành một khoảng thời gian hợp lý, cụ thể không ít hơn 60 ngày, cho các Thành
viên WTO, các cá nhân, hiệp hội, doanh nghiệp đư
a ra ý kiến bình luận tới các cơ quan hữu
quan trước khi các biện pháp đó được thông qua. Chính phủ sẽ xem xét tất cả các ý kiến nhận
được trong thời hạn đóng góp ý kiến. Chỉ có một ngoại lệ cho cơ hội góp ý này đó là các biện
pháp liên quan đến tình trạng khẩn cấp quốc gia, an ninh quốc gia mà nếu được công khai
công bố sẽ làm cản trở thực thi pháp luật.
Dự án Hỗ trợ Thương mại Đa biên II
Bộ Công thương phối hợp cùng Ủy ban châu Âu thực hiện
Báo cáo cuối cùng: Khuyến nghị thành lập Điểm Thông báo và
Hỏi đáp GATS của Việt Nam
13
Theo luật Việt Nam, Bộ và Cơ quan chính phủ phải dành ra một khoảng thời gian ít nhất 60
ngày để lấy ý kiến công chúng về luật hoặc quy định mới (dự thảo được đưa lên website…) và
ối tìm kiếm hồi đáp từ các công chức liên
quan sau đó chuyển lại cho chính phủ đưa ra yêu cầu. Trong trường hợp này Điểm thông báo
và Hỏi đápGATS sẽ hành động như người đưa tin và điều phối việc hồi đáp. Bộ cũng có vai
trò đảm bảo các hồi đáp tương thích với các chính sách thương mại đã có.
Trong một giới hạn nhất định, Bộ Công thương sẽ thẩ
m định chất lượng của các hồi đáp liên
quan đến các biện pháp nằm ngoài chuyên môn/phạm vi hoạt động của mình. Đây là công
việc không dễ dàng, đặc biệt khi cán bộ của Bộ Công thương không có chuyên môn về các
vấn đề pháp lý của các lĩnh vực phức tạp.
Một lô gic tương tự như vậy cũng có thể áp dụng đối với một yêu cầu giải đáp từ VCCI hay
một thực thể
kinh tế tư nhân.
B.5. Chế độ ngôn ngữ
WTO có 3 ngôn ngữ chính thức: Tiếng Anh, Tiếng Pháp và Tiếng Tây Ban Nha. Vì vậy các
yêu cầu giải đáp và các giải đáp có thể được đưa ra bằng bất kỳ ngôn ngữ nào trong số đó. Bộ
Công Thương nên quyết định sử dụng Tiếng Anh khi giải đáp, điều này cũng phù hợp với
thông lệ của nhiều Thành viên WTO khác. Khi nhận được các yêu cầu giải đ
áp/câu hỏi bằng
Tiếng Pháp hay Tiếng Tây Ban Nha, Việt Nam đều có quyền tự do trả lời bằng Tiếng Anh.
Tiếng Anh nên được sử dụng để dịch các văn bản pháp lý hoặc các trích dẫn gửi kèm theo
những câu trả lời nếu cần thiết. Trường hợp tài liệu nhiều tập, Việt Nam nên áp dụng “quy tắc
Dự án Hỗ trợ Thương mại Đa biên II
Bộ Công thương phối hợp cùng Ủy ban châu Âu thực hiện
Báo cáo cuối cùng: Khuyến nghị thành lập Điểm Thông báo và
Hỏi đáp GATS của Việt Nam
Nếu các Bộ ngành gửi trực tiếp câu hỏi/yêu cầu giải đáp thông tin cho các Thành viên WTO
khác, cần cân nhắc việc gửi cho Điểm Thông báo và Hỏi đáp (Bộ Công thương) một bản copy
để lưu và nắm tình hình.
Cần lưu ý là Phái đoàn đại diện thường trực của Việt nam tạ
i Geneva cũng có thể là một kênh
để nhận thông tin từ các Thành viên WTO khác, đồng thời gửi những thông báo GATS (của
Việt Nam) cho Trung tâm lưu ký hỏi đáp GATS của WTO.
D. Điều phối liên bộ
Một loạt Bộ, cơ quan hữu quan tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp trong việc quản lý và hoạt
động của hơn 150 phân ngành dịch vụ. Một số quy định (về dịch vụ) được ban hành ở cấp
Tỉnh/thành, mộ
t số được ban hành ở cấp Trung ương. Tuy nhiên, tất cả các Bộ, cơ quan hữu
quan cần nắm được thông tin liên quan đến thương mại dịch vụ và những vấn đề pháp lý có
thể nảy sinh.
Việc điều phối liên bộ là cần thiết nhằm:
Xây dựng một cơ chế chính thức:
Các cuộc đàm phán trong GATS yêu cầu rất nhiều
thông tin liên quan và được tiến hành dựa trên những đánh giá kỹ lưỡng mục tiêu/ưu
tiên quốc gia. Các cuộc đàm phán cần được thông báo cho tất cả các cơ quan hữu
quan, đồng thời, cần có đủ năng lực trả lời tất cả các câu hỏi từ các đối tác thương mại.
Xây dựng cơ sở dữ liệu về những biện pháp có thể ảnh h
ưởng tới thương mại dịch vụ:
những thông tin chính xác liên quan đến pháp luật về thương mại dịch vụ (4 phương
thức cung cấp dịch vụ) cần được cung cấp cho các đối tác thương mại. Cần xây dựng
Cơ cấu điều phối liên bộ
Bộ Công thương là Cơ quan đ
iều phối trong các cuộc đàm phán thương mại của Việt nam
(bao gồm GATS), hoạt động của Ủy ban liên Bộ. Ủy ban này bao gồm đại diện của các Bộ,
ngành, các Cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành (ví dụ: Ngân hàng Nhà nước, Tổng cục
Thống kê, Cơ quan quản lý cảng biển, sân bay, bưu chính viễn thông …). Các ưu tiên và cam
kết trong đàm phán được Ủy ban thảo luận, thống nhất và tiến hành.
Tình hình và kết quả tham vấn vớ
i các bên hữu quan cần được thông báo Ủy ban để tránh
trùng lặp trong hoạt động.
Một Tiểu ban cũng có thể được xem xét thành lập để phụ trách lĩnh vực dịch vụ, các Thành
viên của Tiểu ban có thể bao gồm đại diện khu vực tư nhân (VCCI), một số Hiệp hội ngành
hàng khác. Tiểu ban có thể nêu lên sáng kiến thành lập Hiệp hội các nhà cung cấp dịch vụ để
phối hopự cùng các Bộ, ngành hữu quan về các vấ
n đề chung liên quan đến dịch vụ.
Tùy thuộc tình hình phát triển của xuất khẩu thương mại dịch vụ của Việt Nam, một số Nhóm
công tác cho từng lĩnh vực dịch vụ cụ thể cũng có thể được thành lập, ví dụ: Nhóm công tác
về Du lịch, Giao thông vận tải, viễn thông, tài chính, xây dựng, phân phối, thể thao giải trí,
hoặc cho các vấn đề chung như phương thức cung cấp 4, phát triển nguồn nhân lực (
đánh giá
nhu cầu kinh tế - ENTs, Visa GATS), công nghệ thông tin.
Cần có quy định rõ ràng trong việc bổ nhiệm, chức năng, nhiệm vụ của Đơn vị từ mỗi Bộ,
ngành tham gia mạng lưới Hỏi - Đáp GATS. Có thể tận dụng mạng lưới đã được thành lập và
hoạt động hiệu quả trong quá trình đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam.
• Biểu cam kết GATS của một số đối tác thương mại chính
• Yêu cầu nhận được từ những đối tác thương mại chính
• Yêu cầu đưa ra đối với những đối tác thương mại
•
Lộ trình thực hiện, xu hướng thương mại trong nước, cơ chế thực thi và giám sát
• Tình trạng những thông báo Gửi cho Hội đồng Thương mại dịch vụ của WTO
• Danh mục cần thực hiện trong đàm phán
• Lịch tổ chức các hoạt động, bao gồm: những cột mốc chính trong đàm phán, lịch các
cuộc họp của WTO, lịch tham vấn với cộng đồng doanh nghiệ
p, các tổ chức xã hội,
các cuộc họp song phương với đối tác thương mại trong khuôn khổ song phương và
khu vực
• Tóm tắt về các cuộc họp mới diễn ra, hiện trạng đàm phán
Tập hợp, phân loại thông tin liên quan đến GATS của Việt Nam
Cơ sở dữ liệu thuộc Điểm Thông báo và Hỏi đáp GATS của Việt Nam cần chứa đựng cả các
tài liệu quy định v
ề chức năng, nhiệm vụ của các Bộ, ngành liên quan đến lĩnh vực dịch vụ,
các biện pháp hiện hành liên quan đến GATS. Tuy nhiên, không cần cung cấp tài liệu toàn
văn của tất cả các biện pháp vì có thể các tài liệu toàn văn đó đã được lưu trong cơ sở dữ liệu
của các Bộ, ngành hữu quan. Ví dụ: Luật Đầu tư điều chỉnh việc tiếp cận thị trường d
ịch vụ
của Việt Nam thuộc trách nhiệm của Bộ Kế hoạch - Đầu tư.
Điểm Thông báo và Hỏi đáp GATS Việt Nam cần lưu trữ những yêu cầu cung cấp thông tin,
câu hỏi và thông báo nhận được từ các Thành viên WTO cũng như các câu trả lời tương ứng
từ Việt Nam. Đồng thời, những yêu cầu cung cấp thông tin, câu hỏi của Việt Nam gửi cho các
Thành viên WTO, các câu trả lời cũng cần đượ
c lưu trữ. Các yêu cầu cung cấp thông tin, câu
Sau khi Điểm thông báo và hỏi đáp GATS được thành lập và hoạt động, cần cân nhắc sự cần
thiết thành lập thêm những Điểm thông báo và hỏi đáp khác ph
ục vụ cho Hiệp định thương
mại tự do ASEAN (AFTA) và cácHiệp định/Thỏa thuận thương mại tự do (FATs) khác. Để
tránh việc chồng chéo trong hoạt động, nhóm chuyên gia đề xuất chỉ một Điểm thông báo và
hỏi đáp được thành lập để xử lý những yêu cầu của các nước thành viên WTO và các đối tác
tham gia FTAs.
Cán bộ và trang thiết bị
Trong giai đoạn đầu, có thể không cần tuyển thêm cán bộ chuyên trách trong Bộ Công thươ
ng
làm việc cho Điểm thông báo và hỏi đáp GATS. Đồng thời, dự kiến cũng không cần phải
trang bị những thiết bị công nghệ thông tin, thiết bị kỹ thuật riêng biệt cho Điểm thông báo và
hỏi đáp GATS, vì trang thiết bị hiện nay đã đủ để phục vụ hoạt động của Điểm thông báo và
hỏi đáp GATS.
Đào tạo, nâng cao năng lực
Trong quá trình thực hiện hoạ
t động,nhóm chuyên gia chưa thể xác định và đề xuất cơ chế
hoạt động, mô hình tổ chức cuối cùng cho Điểm thông báo và hỏi đáp GATS, do đó nhóm cán
bộ phụ trách hoạt động của Điểm thông báo và hỏi đáp GATS cần được tập huấn trước và sau
khi được cử làm việc cho Điểm thông báo và hỏi đáp GATS. Đồng thời, các cán bộ từ các cơ
quan mạng lưới của Đi
ểm thông báo và hỏi đáp GATS cũng cần được tập huấn nâng cao năng
lực.
Khảo sát
thương mại, đặc biệt xét theo điều V của GATS về hội nhập kinh tế.
G. Nâng cao nhận thức cho các cơ quan hữu quan về việc tham gia Hiệp định GATS
Sau khi cơ chế điều phối liên bộ về thực hiện những nghĩa vụ GATS được xây dựng, các cán
bộ của Điểm thông báo và hỏi đáp GATS có thể thực hiện những hoạt động nâng cao nhận
thức cho các cơ quan hữu quan về lợi ích khi tham gia Hiệp định GATS.
H. Xác định những vấn đề, biện pháp của các Thành viên WTO khác có thể gây tác
động tiêu cực đối với Việt Nam
Điểm thông báo và hỏi đáp GATS có thể hỗ trợ các Bộ, cơ quan khác trong việc xác định
những vấn đề, biện pháp của các Thành viên WTO khác có thể gây tác động tiêu cực đối với
Việt Nam. Việc này có thể được thực hiện thông qua việc Nhóm hỏi đáp thông báo GATS
thuộc Bộ Công thương thông báo cho Điểm thông báo và hỏi đáp GATS những yêu cầu,
thông báo mà các Thành viên WTO gửi cho Việt Nam thông qua đầu mối hỏi đáp GATS của
WTO tại Geneva.
I. Phân tích và phổ biến những thông tin liên quan đến GATS
Việc hỗ trợ của Điểm thông báo và hỏi đáp GATS đối với các Bộ, cơ quan hữu quan trong
việc phân tích và phổ biến thông tin liên quan đến GATS có thể được xem xét ở giai đoạn sau.
Dự án Hỗ trợ Thương mại Đa biên II
Bộ Công thương phối hợp cùng Ủy ban châu Âu thực hiện
Báo cáo cuối cùng: Khuyến nghị thành lập Điểm Thông báo và
Hỏi đáp GATS của Việt Nam
19
III KHUYẾN NGHỊ CÁC BƯỚC THÀNH LẬP ĐIỂM THÔNG BÁO VÀ HỎI ĐÁP
động và những thông tin cần thiết khác cho họ;
7. Công bố rộng rãi việc thành lập, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế vận hành của
Điểm
thông báo và hỏi đáp GATS.
Dự án Hỗ trợ Thương mại Đa biên II
Bộ Công thương phối hợp cùng Ủy ban châu Âu thực hiện
Báo cáo cuối cùng: Khuyến nghị thành lập Điểm Thông báo và
Hỏi đáp GATS của Việt Nam
20
IV. PHỤ LỤC
A. Phụ lục 1: Trích dẫn điều III, III bis và IV về nghĩa vụ minh bạch hoá
trong Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ của WTO
Điều III
Minh bạch hóa
1. Các Thành viên phải nhanh chóng công bố mọi biện pháp có liên quan hoặc tác
động đến việc thi hành Hiệp định này, chậm nhất trước khi các biện pháp đó có
hiệu lực thi hành, trừ những trường hợ
p khẩn cấp. Những Hiệp định quốc tế có liên
quan hoặc tác động đến thương mại dịch vụ mà các Thành viên tham gia cũng phải
được công bố.
2. Trong trường hợp việc công bố quy định tại khoản 1 của Điều này không thể thực
hiện được, các thông tin đó phải được công khai theo cách thức khác.
Không một quy định nào trong Hiệp định này đòi hỏi bất kỳ Thành viên nào phải
cung cấp thông tin bí mật mà việc tiết lộ thông tin đó có thể gây cản trở đến việc thi hành
pháp luật, hoặc trái với lợi ích công cộng, hoặc làm ph
ương hại đến quyền lợi thương mại hợp
pháp của một doanh nghiệp cụ thể, dù là doanh nghiệp nhà nước hoặc tư nhân.