Tài liệu KẾ HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006-2010 - Pdf 99


BỘ THƯƠNG MẠI

KẾ HOẠCH TỔNG THỂ

PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN 2006 - 2010

DỰ THẢO 2


Chương III

Các chương trình, dự án trọng điểm

- 3 -

TỔNG QUAN

Kế hoạch tổng thể phát triển Thương mại điện tử
Giai đoạn 2006 – 2010 Cho tới năm 2005 thương mại điện tử (TMĐT) đã hình thành ở Việt Nam và đã bước đầu góp
phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của một số doanh nghiệp. Nhà nước đã vạch ra chủ trương,
đường lối chung mở đường cho TMĐT phát triển. Một số hoạt động nghiên cứu và triển khai đã
được các cơ quan nhà nước cũng như các doanh nghiệp tiến hành. Tuy nhiên môi trường pháp lý cho
TMĐT chưa hình thành, nguồn nhân lực còn rất thiếu và yếu, hạ tầng kỹ thuật cho TMĐT chưa thuận
lợi.

Mục tiêu của Kế hoạch là tới 2010 TMĐT sẽ góp phần nâng cao đáng kể năng lực cạnh tranh
của các doanh nghiệp nhờ ứng dụng mạnh mẽ TMĐT và nhờ sự công khai, minh bạch và hiệu quả
của nhiều dịch vụ công do các cơ quan nhà nước cung cấp qua mạng.

Để đạt được mục tiêu này, nhà nước sẽ đẩy mạnh tuyên truyền, đào tạo về TMĐT cho các
doanh nghiệp, kịp thời xây dựng môi trường pháp lý thuận lợi cho TMĐT và phát huy vai trò tiên
phong của các cơ quan nhà nước trong việc ứng dụng TMĐT trong mua sắm công.

Thương mại điện tử (TMĐT) đang phát triển mạnh mẽ trên phạm vi toàn thế giới. Tuy nhiên,
sự khác biệt trong ứng dụng TMĐT giữa các nước phát triển và đang phát triển rất lớn. Các nước
phát triển chiếm hơn 90% tổng giá trị giao dịch TMĐT toàn cầu. Gần đây một số nền kinh tế ở châu
Á như Hàn quốc hay Đài loan đã vươn lên vị trí cao trong bảng xếp hạng ứng dụng TMĐT toàn cầu.

Về nhận thức, TMĐT đã trở thành một khái niệm quen thuộc đối với các doanh nghiệp và hầu
hết người dân tại các nước phát triển và đang dần dần trở nên quen thuộc với các doanh nghiệp của
các nước đang phát triển. Doanh nghiệp ngày càng nhận thức rõ các cơ hội của TMĐT và quan tâm
tới việc xây dựng các mô hình kinh doanh TMĐT, đưa TMĐT thành một phần không thể tách rời của
chiến lược phát triển doanh nghiệp.

Về nguồn nhân lực cho TMĐT, mức độ phổ cập công nghệ thông tin (CNTT) đang tăng nhanh,
nhiều trường đại học đã có chương trình đào tạo chuyên ngành về TMĐT. Các doanh nghiệp, đặc
biệt là các công ty đa quốc gia, đã chú trọng tới việc đào tạo cán bộ về TMĐT. Hoạt động quảng cáo,
bán hàng và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ khách hàng thông qua mạng Internet đã trở thành một hoạt
động không thể tách rời khỏi thành công của nhiều doanh nghiệp trên phạm vi toàn thế giới.

Về xây dựng chính sách và môi trường pháp lý cho TMĐT, có sự chênh nhau khá rõ rệt trong
việc xây dựng chính sách và môi trường pháp lý cho TMĐT giữa các nước phát triển và đang phát
triển. Các nước đang phát triển hiện còn ở giai đoạn xây dựng chiến lược CNTT quốc gia, chủ yếu
quan tâm các vấn đề về hạ tầng CNTT cơ bản, phát triển nguồn nhân lực, bản địa hóa ứng dụng
TMĐT, xây dựng chuẩn và bước đầu xây dựng khung pháp lý cho TMĐT. Trong khi đó các nước
phát triển đã hình thành chiến lược phát triển TMĐT từ thập kỷ trước và cơ bản đã xây dựng được
môi trường thuận lợi cho sự phát triển của TMĐT.

Về hạ tầng CNTT và truyền thông, phần lớn các nước phát triển đã xây dựng được hạ tầng
tiên tiến về CNTT và TT với tỷ lệ cao các máy tính được nối mạng LAN, WAN và Internet tốc độ
cao. Hơn thế nữa, các nước phát triển, đặc biệt là Hoa Kỳ, tiếp tục thống lĩnh công nghệ phần mềm.
Trong những năm gần đây song song với sự mở cửa khá nhanh thị trường viễn thông, hạ tầng CNTT
và TT của các nước đang phát triển đạt được nhiều tiến bộ, số người sử dụng Internet tăng nhanh, tuy

2.1. Trung Quốc

Trung Quốc là nước đứng ngay sau Hoa Kỳ về số người sử dụng Internet. Tuy nhiên, hơn hai
phần ba số người sử dụng Internet tại Trung Quốc chưa bao giờ tiến hành giao dịch mua bán trực
tuyến. Với tiềm năng phát triển thương mại to lớn, tăng trưởng TMĐT của Trung Quốc có ý nghĩa
quyết định cho cả Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và một phần nào đó ảnh hướng không nhỏ tới
TMĐT toàn thế giới. Tuy nhiên, tại Trung quốc hệ thống thanh toán trực tuyến chưa phát triển, hầu
hết các giao dịch B2C được tiến hành dưới hình thức giao dịch trực tuyến nhưng thanh toán vẫn theo
phương thức truyền thống. Hệ thống đảm bảo an toàn trên mạng còn nhiều yếu, có tới 80% người
mua bán trực tuyến có vấn đề liên quan tới an toàn mạng. Thêm vào đó mạng lưới giao thông vận tải
chưa hiệu quả cũng làm giảm lợi ích từ hoạt động TMĐT của các doanh nghiệp.

2.2. Hàn Quốc

Theo đánh giá của OECD, năm 2004 Hàn Quốc đứng thứ nhất trong số 30 nước thành viên của
tổ chức này về mức độ đóng góp của CNTT đối với toàn nền kinh tế cũng như đối với xuất khẩu.
Mức tăng hàng năm của mua bán trực tuyến đạt khoảng 85% trong 2 năm 2001 và 2002. Ước đoán
tổng giá trị TMĐT năm 2002 đạt 29 tỷ USD và sẽ tăng khoảng 10 lần vào năm 2006.

Chính phủ Hàn Quốc rất tích cực hỗ trợ TMĐT phát triển. Năm 2000, Chính phủ đã ban hành
Chính sách toàn diện đối với phát triển TMĐT, năm 2002 Chính phủ tiếp tục ban hành Chiến lược
quốc gia thúc đẩy kinh doanh điện tử.

3. Xu hướng phát triển TMĐT tới 2010

Các nước đang phát triển sẽ là thị trường tiềm năng cho TMĐT do tỷ lệ kết nối Interrnet tăng
nhanh, kinh tế tăng trưởng khá ổn định và nhận thức ngày càng rõ các cơ hội do TMĐT mang lại.
Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương sẽ vươn lên dẫn đầu về mức độ ứng dụng TMĐT. Phương thức
kinh doanh B2B tiếp tục chiếm ưu thế so với B2C trong các giao dịch TMĐT toàn cầu. Trong
- 6 -


Chính phủ chưa có sự chỉ đạo, hướng dẫn hoặc định hướng chính thức nào và chưa có chính
sách khuyến khích, hỗ trợ cần thiết cho doanh nghiệp. Nguồn nhân lực phục vụ ứng dụng TMĐT còn
thiếu và chưa đủ trình độ để đáp ứng nhu cầu, mặc dù các trung tâm đào tạo CNTT, các khoa CNTT
vẫn tiếp tục tăng về số lượng.

Tập quán kinh doanh và tâm lý tiêu dùng tại VN cũng chưa hoàn toàn thuận lợi cho các ứng
dụng của TMĐT. Người dân còn chưa quen với phương thức mua hàng gián tiếp, doanh nghiệp cũng
chưa xây dựng được những quan hệ đối tác đủ tin cậy để đưa phương thức B2B vào áp dụng cho các
giao dịch thương mại thường xuyên.

3. Một số hoạt động liên quan tới TMĐT tới 2005

3.1. Đường lối chung

• Ngày 17/10/2000, Bộ Chính trị có Chỉ thị 58/CT-TW về đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong
sự nghiệp hiện đại hoá, công nghiệp hoá đất nước giai đoạn đến 2010. Chỉ thị nêu rõ:
“Tập trung phát triển các dịch vụ điện tử trong các lĩnh vực tài chính (thuế, kho bạc, kiểm
toán…) ngân hàng, hải quan, hàng không, thương mại, thương mại điện tử…”
• Ngày 24/5/2001, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 81/QĐ-TTg phê duyệt nhiệm vụ
của Chỉ thị 58/TC-TW, trong đó giao nhiệm vụ cho Bộ Thương mại “Tổ chức triển khai
các biện pháp xúc tiến thương mại để hỗ trợ các doanh nghiệp tìm kiếm thị trường trong
- 7 -
và ngoài nước và xuất khẩu sản phẩm CNTT; khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp
nước ngoài có các hoạt động hợp tác, kinh doanh và hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam
trong phát triển CNTT; triển khai kế hoạch phát triển TMĐT của Việt Nam và chuẩn bị
tích cực tham gia dự án về TMĐT của ASEAN và các tổ chức kinh tế khu vực, quốc tế”.

3.2. Tổ chức bộ máy


• Ngày 28/6/1999, Thủ tướng Chính phủ có Công văn số 3148/TC-HCSN giao Bộ Thương
mại xây dựng Dự án quốc gia về “Kỹ thuật TMĐT”. Bộ Thương mại làm đầu mối, phối
hợp với trên 20 Bộ, Ngành triển khai nghiên cứu 14 tiểu dự án và xây dựng một báo cáo
tổng hợp của Dự án từ tháng 9/1999, hoàn tất các thủ tục nghiệm thu Dự án vào đầu năm
2002.
• Năm 2001, Bộ Thương mại đã tổ chức nghiên cứu đề tài khoa học cấp nhà nước (Đề tài
KC.01-05) về một số vấn đề kỹ thuật và công nghệ chủ yếu trong TMĐT và triển khai thử
nghiệm.
• Một số bộ ngành và nhiều tổ chức, doanh nghiệp đã tiến hành các nghiên cứu và thử
nghiệm ở mức độ khác nhau về các khía cạnh liên quan tới TMĐT.

3.5 Hợp tác quốc tế

• Ngày 13/6/2000, Ủy ban quốc gia về Hợp tác kinh tế có Thông báo số 56/UB-TV giao Bộ
Thương mại làm đầu mối tổng hợp, xây dựng Hiệp định khung eASEAN. Bộ Thương mại
- 8 -
đã phối hợp với các Bộ, Ngành liên quan để xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ký
Hiệp định khung eASEAN vào tháng 11/2000.
• Ngày 4/10/2002, Văn phòng Chính phủ có Công văn số 5549/VPCP-TCQT thông báo ý
kiến của Phó Thủ tướng Vũ Khoan về việc đồng ý giao Bộ Thương mại làm đầu mối Việt
Nam tham gia AFACT (Tổ chức tạo thuận lợi cho Thương mại và kinh doanh điện tử khu
vực Châu Á - Thái Bình Dương).
• Bộ Thương mại, Bộ Bưu chính Viễn thông, Bộ Khoa học và Công nghệ và một số cơ
quan nhà nước khác đã chủ động tham gia hợp tác quốc tế về các chủ đề liên quan tới
TMĐT trong cả khuôn khổ hợp tác đa phương với APEC, ASEM, UNCITRAL, v.v
cũng như song phương với một số nước như Hàn quốc, Nhật bản.

4. Xu hướng phát triển trong giai đoạn 2006 – 2010

Việt Nam đặt ra mục tiêu phát triển kinh tế cao trong giai đoạn 2006 – 2010 và coi phát triển

• Chưa hình thành nguồn nhân lực đáp ứng việc ứng dụng, chuyển giao và phát triển công
nghệ về TMĐT, kỹ năng kinh doanh TMĐT, giải quyết tranh chấp trong TMĐT
• Chương trình đào tạo nguồn nhân lực CNTT theo Quyết định 95

2. Môi trường pháp lý và chính sách chưa hình thành

2.1 Khung pháp lý:
- 9 -

Giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu: đang xây dựng Luật giao dịch điện tử, Luật
Thương mại (sửa đổi) , Bộ Luật dân sự (sửa đổi).
• Nghị định Chữ ký số và chứng thực điện tử
• Cần nhiều văn bản pháp quy khác, nhưng tới 2005 vẫn chưa có kế hoạch cụ thể để xây
dựng và ban hành.

2.2 Chiến lược, chính sách
• Một số tư tưởng chỉ đạo lớn về TMĐT vẫn quá mơ hồ: Chiến lược phát triển kinh tế xã
hội 2001 - 2010 của Đại hội Đảng IX, Chỉ thị 58 của Bộ Chính trị
• Chưa có chiến lược phát triển TMĐT dài hạn
• Chưa có chính sách, giải pháp cụ thể nào được ban hành

2.3 Vấn đề thực thi các qui định pháp luật
• Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Giao dịch điện tử và một số luật khác: có thể mất
vài năm mới ban hành đủ
• Thực thi luật kém

3. Hạ tầng ICT còn yếu

• Hạ tầng mạng viễn thông, đặc biệt là Internet
• Máy tính các loại

cạnh tranh của mình. Trong giai đoạn 2006 – 2010, Việt Nam sẽ hội nhập sâu sắc và toàn diện vào
nền kinh tế thương mại quốc tế. Việt Nam có thể gia nhập WTO vào cuối năm 2005 hoặc trong năm
2006, hoàn thành việc cắt giảm thuế quan theo AFTA trong ASEAN, thực hiện đầy đủ các cam kết
với Hoa Kỳ theo Hiệp định Thương mại song phương, tham gia ký kết và triển khai Hiệp định
thương mại tự do ASEAN – Trung quốc (ACFTA) cũng như nhiều cam kết quốc tế khác liên quan
tới thương mại. Đồng thời với việc tiếp tục mở cửa thị trường trong nước theo lộ trình của các cam
kết quốc tế, hàng hoá và doanh nghiệp Việt Nam cũng có cơ hội rất lớn để thâm nhập thị trường toàn
cầu. Phát triển mạnh mẽ thương mại điện tử sẽ giúp các doanh nghiệp nắm bắt được các cơ hội mới.

2. Doanh nghiệp là lực lượng nòng cốt ứng dụng và phát triển TMĐT.

Doanh nghiệp là người bán, người mua, người phát triển phát triển công nghệ lớn nhất. Chính
mỗi doanh nghiệp sẽ tự quyết định có tham gia thương mại điện tử hay không, tham gia như thế nào,
vào thời điểm nào, sẽ đầu tư nhân lực và nguồn lực ra sao, v.v Nói cách khác, doanh nghiệp là lực
lượng nòng cốt đối với việc ứng dụng và phát triển thương mại điện tử.

3. Nhà nước có vai trò tạo ra môi trường thuận lợi, cung cấp nhiều dịch vụ công hỗ trợ cho
TMĐT và tích cực ứng dụng TMĐT

Mặc dù doanh nghiệp là lực lượng nòng cốt, đóng vai trò quyết định trong ứng dụng và phát
triển thương mại điện tử nhưng Nhà nước đóng vai trò quan trọng. Nhà nước có nhiệm vụ tạo ra môi
trường thuận lợi cho ứng dụng và phát triển thương mại điện tử, xây dựng khung khổ pháp lý, thiết
lập sự cạnh tranh lành mạnh, hỗ trợ tạo ra cơ chế giải quyết tranh chấp, bí mật riêng tư, bảo vệ người
tiêu dùng, v.v Đồng thời, Nhà nước cũng là khách hàng rất lớn của các doanh nghiệp, chiếm tỷ
trọng đáng kể trong các giao dịch thương mại.

Nhà nước có nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ công hỗ trợ cho thương mại điện tử như hải quan
điện tử, thuế điện tử, đăng ký đầu tư điện tử, cấp phép nhập khẩu điện tử, v.v Nếu nhà nước không
hoàn thành tốt nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ công này thì thương mại điện tử cũng rất khó phát
triển một cách toàn diện và mạnh mạnh mẽ.

truyền thông đặt TMĐT như một trong những trụ cột chính của phát triển CNTT trong những năm tới.
Kế hoạch tổng thể phát triển TMĐT cần phù hợp với Chiến lược phát triển CNTT và truyền thông
cũng như Kế hoạch tổng thể phát triển Chính phủ điện tử ở Việt Nam tới 2010.

II. MỤC TIÊU

1. Phần lớn (khoảng 70%) các doanh nghiệp lớn tiến hành giao dịch doanh nghiệp tới doanh
nghiệp (B2B) và ứng dụng TMĐT ở mức cao.

Thực tiễn phát triển TMĐT trên thế giới cho thấy loại hình B2B ra đời trước khi xuất hiện
loại hình B2C. Khi đó các doanh nghiệp lớn tiến hành mua bán thường xuyên dựa trên các mạng giá
trị gia tăng (VAN – Value Added Network) với giá trị giao dịch lớn. Nhờ áp dụng TMĐT nên các
doanh nghiệp này đã nâng cao hiệu quả kinh doanh và năng lực cạnh tranh của của mình. Internet ra
đời đã tạo ra một cuộc cách mạng về TMĐT. Tuy nhiên loại hình giao dịch B2B vẫn tiếp tục chiếm
ưu thế và có tác động chủ yếu tới nâng cao năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp cũng như của
toàn bộ nền kinh tế.

Thống kê về TMĐT cho thấy tại những nước có hạ tầng CNTT tiên tiến, tỷ lệ hộ gia đình có
máy vi tính cao, kết nối Internet qua broadband, loại hình giao dịch B2B vẫn cao gấp nhiều lần so với
B2C.

Phấn đấu tới năm 2010 phần lớn (khoảng 70%) các doanh nghiệp lớn nắm vững kỹ năng kinh
doanh trên mạng và tiến hành các giao dịch B2B.

2. Hầu hết (khoảng 90%) các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNV&N) biết tới lợi ích của TMĐT và
có ứng dụng nhất định

Tại Việt Nam cũng như hầu hết các nước khác trên thế giới, DNV&N rất năng động và có vị
trí quan trọng trong nền kinh tế. Tuy nhiên, các doanh nghiệp này bị hạn chế về nguồn lực nên ứng
dụng TMĐT là cơ hội để họ đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường, tiết kiệm chi phí


4. Tất cả các chào thầu mua sắm chính phủ được công bố trên các trang tin điện tử của các cơ
quan Chính phủ và 30% mua sắm chính phủ được tiến hành trên mạng (B2G).

Việt Nam đã đặt ra mục tiêu và triển khai các biện pháp mạnh mẽ thực hiện cải cách hành
chính nhằm nâng cao hiệu quả, đơn giản thủ tục, minh bạch hoá, hiện đại hoá nền hành chính của đất
nước. Song song với Chương trình cải cách hành chính, Việt Nam cũng xây dựng Kế hoạch tổng thể
phát triển Chính phủ điện tử tới năm 2010. Đây chính là các tiền đề quan trọng để các cơ quan chính
phủ cung cấp các dịch vụ công gắn chặt với TMĐT như thuế điện tử, hải quan điện tử, cấp giấy phép
nhập khẩu điện tử, chứng nhận xuất xứ hàng hoá qua mạng, v.v Đồng thời quá trình cải cách hành
chính và xây dựng chính phủ điện tử cũng tạo điều kiện và bắt buộc các cơ quan chính phủ phải minh
bạch hoá các hoạt động mua sắm chính phủ sử dụng ngân sách nhà nước. Dần dần, các cơ quan chính
phủ từ cấp trung ương tới địa phương phải tuân thủ chặt chẽ các quy định về đấu thầu, cạnh tranh
trong mua sắm công, công khai việc mua sắm trên mạng.

Mục tiêu đặt ra là tới năm 2010 hầu hết các chào thầu mua sắm chính phủ sẽ được công bố
công khai trên mạng và 30% mua sắm chính phủ ứng dụng TMĐT hình thức B2G.

III. CÁC CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN

Bốn mục tiêu nêu trên đối với TMĐT có thể đạt được nếu thực hiện tốt sáu chính sách lớn.
Thứ nhất, triển khai mạnh mẽ và liên tục hoạt động phổ biến, tuyên truyền, đào tạo về TMĐT. Thứ
hai, nhanh chóng tạo lập môi trường thuận lợi cho TMĐT với việc ban hành đầy đủ và đồng bộ các
văn bản quy phạm pháp luật liên quan tới TMĐT. Thứ ba, các cơ quan chính phủ ở mọi cấp cần phải
đi tiên phong trong việc hỗ trợ và ứng dụng TMĐT. Thứ tư, phát triển hạ tầng kỹ thuật cho TMĐT
trên cơ sở chuyển giao công nghệ từ nước ngoài. Thứ năm, tổ chức thực thi các quy định pháp luật
- 13 -
liên quan tới TMĐT một cách cương quyết, kịp thời. Thứ sáu, tích cực tham gia các hoạt động hợp
tác quốc tế về TMĐT.



• Các Tổng công ty lớn của nhà nước: loại hình doanh nghiệp này có quy mô lớn nhưng
chưa quan tâm đầy đủ tới công tác đào tạo cán bộ về TMĐT. Cần hỗ trợ cho các nhà lãnh
đạo các Tổng công ty lớn của nhà nước biết tới lợi ích của TMĐT, từ đó họ sẽ xây dựng
kế hoạch triển khai TMĐT tại chính đơn vị của mình.
• Các doanh nghiệp tư nhân, các công ty cổ phần: loại hình doanh nghiệp này nói chung có
quy mô vừa và nhỏ, khá năng động trong kinh kinh doanh và dễ tiếp thu công nghệ mới.
Nếu giới chủ các loại hình doanh nghiệp này hiểu rõ lợi ích của TMĐT họ sẽ nhanh chóng
và mạnh dạn tổ chức triển khai trong doanh nghiệp của họ.
• Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: thường có công nghệ tiên tiến, kỹ năng quản
lý cao và nhanh nhậy trong ứng dụng CNTT và TMĐT. Hoạt động tuyên truyền đối với
đối tượng này chủ yếu cung cấp thông tin cập nhật về môi trường pháp lý, về thực thi
quyền sở hữu trí tuệ, cơ chế giải quyết tranh chấp, v.v liên quan tới TMĐT của Việt
Nam.

i.2 Theo loại hình kinh doanh

Thực tế cho thấy có một số lĩnh vực kinh doanh có những yếu tố thuận lợi cho ứng dụng
TMĐT. Trong lĩnh vực dịch vụ là các hoạt động kinh doanh trong du lịch, tài chính, vận tải, giải trí,
- 14 -
phân phối. Trong lĩnh vực hàng hoá là các hoạt động kinh doanh các mặt hàng như thiết bị CNTT và
truyền thông, nông sản, hoá chất, cơ khí, dệt may, thủ công mỹ nghệ. Trong hoạt động phổ biến,
tuyên truyền cần chú trọng vào các nhà lãnh đạo doanh nghiệp trong các lĩnh vực kinh doanh này.

ii. Phổ biến, tuyên truyền cho các cán bộ lãnh đạo kinh tế các cấp

Các nhà hoạch định chính sách và ra quyết định đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng
chính sách và thực thi pháp luật liên quan tới TMĐT nhưng ít có cơ hội tìm hiểu về lĩnh vực này. Cần
phổ biến, tuyên truyền về các lợi ích cũng như các rủi ro khi ứng dụng TMĐT cho các cán bộ lãnh
đạo kinh tế tại các bộ ngành ở Trung ương cũng như các nhà lãnh đạo kinh tế ở các tỉnh, đặc biệt là

Việc đẩy mạnh hoạt động phổ biến, tuyên truyền về TMĐT có tác động to lớn để xã hội quan
tâm tới các lợi ích của TMĐT. Tuy nhiên hoạt động này mang tính bề rộng và phong trào, cần phải
có các hoạt động nhằm phát triển nguồn nhân lực cho TMĐT một cách đồng bộ và cân đối mang tính
bề sâu, diễn ra liên tục. Dựa trên nguồn nhân lực có tri thức về nhiều khía cạnh liên quan tới kinh tế,
thương mại, CNTT và TT, pháp lý, sở hữu trí tuệ, bảo vệ người tiêu dùng, an ninh, v.v mới có thể
đưa TMĐT thật sự đi vào cuộc sống.

Phát triển nguồn nhân lực là việc làm của toàn xã hội, nhà nước chỉ hỗ trợ mạnh trong giai
đoạn đầu, sau đó chính các doanh nghiệp là lực lượng chủ yếu trong việc phát triển nguồn nhân lực,
đặc biệt là tự chịu chi phí cho việc này.

i. Đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng và các trường dạy nghề
- 15 -

Tới năm 2005 một số trường đại học chuyên ngành kinh tế thương mại đã giảng dạy về
TMĐT. Điều này phản ánh sự năng động, nắm bắt thực tiễn và gắn hoạt động đào tạo với hoạt động
sản xuất kinh doanh trong công tác đào tạo đại học của chúng ta. Trong giai đoạn 2006 tới 2010 cần
mở rộng hoạt động đào tạo chính quy về TMĐT tại nhiều trường đại học khắp cả nước không những
trong chuyên ngành kinh tế thương mại mà cả các chuyên ngành khác như CNTT, pháp lý, an ninh.

Ngoài đào tạo về TMĐT ở cấp đại học, cần quan tâm đào tạo ở cấp cao đẳng và học nghề.
Các trường dạy nghề thuộc các chuyên ngành thương mại, du lịch, quản trị kinh doanh, v.v sẽ đào
tạo ra đội ngũ đông đảo người lao động biết cách tham gia vào các hoạt động kinh tế trong thời đại
của Internet.

ii. Đào tạo cho cán bộ quản lý nhà nước

TMĐT chỉ có thể phát triển mạnh và góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, nâng cao
năng lực cạnh tranh quốc gia khi nhà nước tạo ra được môi trường thuận lợi. Có nhiều bộ ngành ở
Trung ương và tất cả các địa phương liên quan tới hoạch định chính sách và thực thi pháp luật liên

phần rất nhanh và mạnh tới hiệu quả chung của mỗi doanh nghiệp cũng như của toàn bộ nền kinh tế.
Tại hầu hết các nước phát triển loại hình B2B giữa các doanh nghiệp lớn đã hình thành cách đây vài
thập kỷ và tiếp tục phát triển nhanh. Trong khi đó ở Việt Nam các doanh nghiệp lớn hầu như chưa
ứng dụng TMĐT trong các hoạt động thương mại.

- 16 -
APEC đặt mục tiêu thương mại phi giấy tờ vào năm 2010 trong các nền kinh tế đang phát
triển. Tham gia hội nhập kinh tế trong APEC trong lĩnh vực thương mại phi giấy tờ trước hết đòi hỏi
chúng ta phải tập trung hỗ trợ cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu lớn.

2. Đẩy nhanh việc tạo lập môi trường pháp lý

TMĐT tạo ra nhiều cơ hội mới cho các doanh nghiệp. Vì vậy, tới năm 2005 mặc dù giá trị
pháp lý của thông điệp dữ liệu trong các giao dịch thương mại chưa được pháp luật thừa nhận nhưng
nhiều doanh nghiệp trong nước đã tích cực, chủ động ứng dụng TMĐT. Tuy nhiên, TMĐT chỉ có thể
phát triển mạnh mẽ khi các giao dịch thương mại thông qua phương tiện điện tử được pháp luật đảm
bảo.

TMĐT liên quan tới nhiều lĩnh vực nhưng do nguồn lực có hạn nên chúng ta cần xây dựng kế
hoạch soạn thảo và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật với trình tự hợp lý. Trước hết cần ban
hành các văn bản pháp quy thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong các hoạt động
thương mại, tiếp đó là các văn bản điều chỉnh các vấn đề đảm bảo cho thông điệp dữ liệu có giá trị
pháp lý, cuối cùng là các văn bản điều chỉnh các hành vi khác liên quan tới TMĐT.

Khi soạn thảo các văn bản pháp quy cần phải tổ chức cho đông đảo công dân, cộng đồng các
doanh nghiệp và các nhóm lợi ích tham gia góp ý với các hình thức phù hợp. Đồng thời cần tham
khảo kinh nghiệm ban hành các văn bản luật tương ứng của các nước khác.

2.1. Các văn bản pháp quy thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu


điện tử, đăng ký kinh doanh điện tử, chứng nhận xuất xứ hàng hoá xuất khẩu điện tử, v.v

3.1. Ứng dụng TMĐT trong mua sắm chính phủ

Cải cách hành chính là hoạt động có mức ưu tiên cao từ nay cho tới 2010 với mục tiêu hiện
đại hoá, minh bạch hoá và nâng cao hiệu quả nền hành chính quốc gia. Xây dựng chính phủ điện tử
sẽ gắn liền với cải cách hành chính.

Mua sắm chính phủ chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng giao dịch thương mại. Nhiều nước đã
ban hành các quy định chặt chẽ về nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước phải ứng dụng TMĐT trong
mua sắm công nhằm đạt hiệu quả cao nhất từ tiền thuế của nhân dân. Chẳng hạn, Chỉ thị của Tổng
thống Hoa Kỳ về thương mại điện tử ngày 17/12/1999 đã nhấn mạnh người đứng đầu các cơ quan
chính phủ phải thúc đẩy sử dụng thương mại điện tử để việc mua sắm của liên bang được nhanh hơn,
rẻ hơn, tiết kiệm cho người nộp thuế.

Trong giai đoạn 2006 – 2010 cần sửa đổi các quy định về đấu thầu trong mua sắm chính phủ
theo hướng bắt buộc các chủ đầu tư phải công bố mời thầu trên trang tin điện tử (trang web) chính
thức của tổ chức mời thầu và các trang tin điện tử của các cơ quan khác, chẳng hạn của Bộ KHĐT,
Thương mại, Tài chính đối với mua sắm của các cơ quan trung ương và của Sở KHĐT, Thương mại,
Tài chính đối với mua sắm của các cơ quan thuộc chính quyền địa phương.

3.2. Đẩy mạnh cung cấp các dịch vụ công hỗ trợ cho TMĐT

Nhiều dịch vụ công là những mắt xích không thể tách rời trong chu trình giao dịch thương
mại, nếu các dịch vụ công này không được tin học hoá và đáp ứng các đòi hỏi tự động hoá giao dịch
trên mạng thì TMĐT cũng rất khó phát triển.

Trong giai đoạn 2006 – 2010 cần đẩy mạnh cung cấp các dịch vụ công hỗ trợ cho TMĐT.
Quy định đến năm 2010 các cơ quan đưa được phần lớn (70%) dịch vụ công lên mạng. Những dịch
vụ cần ưu tiên cung cấp trên mạng càng sớm càng tốt như sau:

điện tử và từng bước đưa vào ứng dụng một cách an toàn, hiệu quả

Thanh toán điện tử là một khâu quan trọng trong hoạt động thương mại điện tử. Trong giai
đoạn phát triển ban đầu của TMĐT tại Việt Nam (2001 – 2005) hầu như chưa tồn tại dịch vụ thanh
toán điện tử. Tuy nhiên, từ năm 2006 nếu các ngân hàng vẫn chưa cung cấp dịch vụ thanh toán điện
tử thì sẽ cản trở lớn tới sự phát triển của TMĐT.

i. Hỗ trợ thông qua các các tổ chức tín dụng quốc tế

Những kết quả của chương trình hiện đại hoá hoạt động các ngân hàng thương mại quốc
doanh từ nguồn vốn vay WB, ADB, v.v trong giai đoạn 2001 – 2005 và những năm tiếp theo đã và
đang giúp một số ngân hàng thử nghiệm và bước đầu đưa vào ứng dụng các dịnh vụ thanh toán điện
tử.

ii. Hỗ trợ thông qua tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh và có lộ trình mở cửa thích hợp

Cạnh tranh giữa các ngân hàng và các tổ chức tín dụng trong nước cùng với các cam kết hội
nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng, đặc biệt là các cam kết với Hoa Kỳ theo Hiệp định
Thương mại song phương và các cam kết với WTO, sẽ thúc đẩy mạnh các ngân hàng hiện đại hoá,
cung cấp các dịch vụ mới bao gồm cả thanh toán điện tử.

iii. Hỗ trợ thông qua các chương trình nghiên cứu khoa học, chương trình thử nghiệm:

Trong giai đoạn 2001 – 2005 đã có một số dự án với kinh phí từ ngân sách nhà nước đã hỗ trợ
cho nghiên cứu thử nghiệm thanh toán điện tử như dự án “Kỹ thuật TMĐT”, Đề tài NCKH cấp nhà
nước KC 01-05 về một số vấn đề kỹ thuật và công nghệ trong TMĐT. Trong giai đoạn 2006 – 2010
cần tiếp tục hỗ trợ nghiên cứu thử nghiệm và triển khai cho các ngân hàng cũng như một số doanh
nghiệp đi tiên phong trong việc tham gia thanh toán điện tử.

4.2. Ban hành các chính sách, biện pháp khuyến khích đầu tư và chuyển giao công nghệ nhằm thúc

mạng kinh doanh điện tử cho một số ngành công nghiệp nhằm tạo đà cho TMĐt phát triển, đồng thời
góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của một số ngành công nghiệp khi Việt Nam đã trở thành
thành viên của WTO.

5. Tổ chức thực thi các quy định pháp luật liên quan tới thương mại điện tử một cách cương
quyết, kịp thời

5.1. Xây dựng cơ chế, bộ máy mạnh để thực thi bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bí mật riêng tư, bảo vệ
người tiêu dùng

Các vấn đề về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bí mật riêng tư và bảo vệ người tiêu dùng đã gắn
rất chặt với thương mại truyền thống, trong TMĐT các vấn đề này càng gắn chặt hơn. Do tính tức
thời, liên tục 24/7 và xuyên quốc gia của nó, TMĐT đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ mang tính
toàn cầu đối với việc thực thi quyền bảo vệ sở hữu trí tuệ, bí mật riêng tư và bảo vệ người tiêu dùng.

Cho tới năm 2005 chúng ta vẫn chưa thực thi đầy đủ các quy định pháp luật về các vấn đề
trên ngay trong thương mại tryền thống. Vì vậy, trong giai đoạn 2006 – 2010 chúng ta cần xây dựng
cơ chế, bộ máy mạnh để thực thi các quy định pháp luật đối với quyền bảo vệ sở hữu trí tuệ, bí mật
riêng tư và bảo vệ người tiêu dùng vừa cả trong thương mại truyền thống, vừa cả trong TMĐT.

5.2. Xây dựng cơ chế, bộ máy giải quyết tranh chấp mạnh để sẵn sàng đáp ứng được các vấn đề phát
sinh trong TMĐT

Hoạt động thương mại bao giờ cũng gắn liền với giải quyết tranh chấp. Trong khi bộ máy và
cơ chế giải quyết các tranh chấp thương mại truyền thống đã tương đối hoàn chỉnh thì trên thế giới
cũng như ở Việt Nam hầu như chưa xác lập được bộ máy và cơ chế giải quyết các tranh chấp phát
sinh trên cơ sở ứng dụng TMĐT.

Trong giai đoạn 2006 – 2010 cần xây dựng cơ chế, bộ máy giải quyết tranh chấp có hiệu quả
để sẵn sàng giải quyết một cách thoả đáng các tranh chấp phát sinh trong TMĐT thông qua các hình

các tổ chức quốc tế và các nước khác về đào tạo nguồn nhân lực, công nghệ, chính sách, pháp luật,
v.v

Trong hợp tác đa phương cần ưu tiên các tổ chức kinh tế - thương mại quốc tế và khu vực như
WTO, APEC, ASEAN, ASEM và các tổ chức chuyên trách về thương mại của UN như UNCTAD,
UNCITRAL, AFACT. Trong hợp tác song phương cần ưu tiên hợp tác với các nước tiên tiến về
TMĐT và có quan hệ thương mại mật thiết với ta như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore.

- 21 -

Chương III

CÁC CHƯƠNG TRÌNH, DỰ ÁN Một số chương trình, dự án cần được triển khai theo sáu chính sách lớn nhằm phát triển
nhanh và vững chắc TMĐT trong giai đoạn 2006 – 2010. Mỗi chương trình, dự án do một cơ quan
chủ trì và có thể có nhiều cơ quan phối hợp. Bộ Thương mại với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước
về TMĐT cùng phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và các cơ quan chủ trì có trách
nhiệm xây dựng cụ thể nội dung, tiến độ và kinh phí cho từng chương trình, dự án.

I. PHỔ BIẾN, TUYÊN TRUYỀN VÀ ĐÀO TẠO VỀ TMĐT
2007
1.3 Cho thanh niên ở các đô thị Hội Tin học chủ trì,
Đoàn thanh niên
2007
2 Phát triển nguồn nhân lực

2.1 Đào tạo chính quy tại các trường đại học, cao đẳng Bộ Giáo dục và Đào
tạo (GD)
2010
Đào tạo tại các trường dạy nghề Bộ Lao động (LĐ) 2010
2.2 Đào tạo cán bộ quản lý nhà nước
Về thương mại TM 2010
Về thuế, hải quan TC 2008
Các ngành công nghiệp, nông nghiệp, thuỷ sản TM 2008
Ngân hàng NHNN 2008
An ninh Bộ Công an (CA) 2010
Sở hữu trí tuệ Bộ Khoa học và Công
nghệ (KHCN)
2010
Bản quyền Bộ Văn hoá Thông tin
(VHTT)
2010
Giải quyết tranh chấp Bộ Tư pháp (TP), 2010
- 22 -
Viện Kiểm sát Nhân
dân Tối cao (VKSTC),
Toà án Nhân dân Tối
cao (TATC)
Thống kê Tổng cục Thống kê
(TCTK), Bộ Bưu chính

thành
1 Các văn bản pháp quy thừa nhận giá trị pháp lý của giao
dịch điện tử

Bộ Luật dân sự (sửa đổi)
Bổ sung quy định về hợp đồng điện tử
TP 2005
Luật Thương mại (sửa đổi)
Bổ sung quy định về giá trị pháp lý của thông điệp dữ
liệu trong các giao dịch thương mại
TM 2005 -
2006
Luật Giao dịch điện tử
Thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong
các giao dịch dân sự, bao gồm thương mại, và các giao
dịch hành chính.
Quốc Hội, TM,
BCVT, v.v

2005 –
2006
2 Các văn bản pháp quy điều chỉnh các vấn đề cụ thể
Nghị định về hợp đồng điện tử trong thương mại
Hướng dẫn thực hiện Luật giao dịch điện tử và Luật
Thương mại (sửa đổi), Bộ Luật dân sự (sửa đổi)
TM 2006
Nghị định về chữ ký số và chứng thực điện tử BCVT 2005 -
2006
Nghị định về thanh toán điện tử NHNN 2006
Nghị định về giao dịch điện tử trong lĩnh vực tài chính,

định bảo vệ người tiêu dùng khi tham gia TMĐT
TM, Hội bảo vệ người
tiêu dùng
2006
Rà soát các quy định cản trở TMĐT
Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam
thay đổi nhanh và liên tục. Cần rà soát thường xuyên sự
nhất quán của các quy định trong hệ thống các văn bản
này, phát hiện những quy định gây cản trở cho TMĐT và
thông báo, phối hợp giữa các cơ quan để sửa đổi.
TM, TP 2010

III. CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC ỨNG DỤNG VÀ CUNG CẤP CÁC DỊCH VỤ CÔNG HỖ
TRỢ TMĐT

Chương trình, dự án Đơn vị Năm
hoàn
thành
1. Ứng dụng TMĐT trong mua sắm chính phủ
Nghị định về mua sắm chính phủ
Quy định về nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước phải ứng
dụng TMĐT trong mua sắm công và quy định các thủ tục
liên quan
KHĐT 2007
Xây dựng tổ chức quản lý và hỗ trợ ứng dụng TMĐT
Thiết kế và duy trì Trang tin điện tử mua sắm quốc gia và
bắt buộc tất cả mua sắm công cấp chính phủ phải thông
báo mời thầu, xét thầu, v.v tại trang tin này
KHĐT 2006
Các cơ quan nhà nước ở Trung ương ứng dụng TMĐT

Cung cấp trên mạng các dịch vụ đăng ký, cấp phép, chứng
nhận, v.v liên quan tới xuất nhập khẩu, bao gồm nhiều
thủ tục chuyên ngành do các bộ quản lý như công nghiệp,
nông nghiệp, y tế, thuỷ sản, v.v
TM chủ trì, CN,
N&PTNT, TS, v.v
2010
Thủ tục khai báo và nộp thuế hải quan điện tử TC 2006
Thủ tục khai báo và nộp thuế điện tử TC 2007
Các thủ tục liên quan tới đầu tư điện tử
Đăng ký kinh doanh, phê duyệt dự án đầu tư từ có vốn từ
ngân sách nhà nước, v.v
KHĐT 2008

IV. PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG KỸ THUẬT CHO TMĐT Chương trình, dự án Đơn vị Năm
hoàn
thành
1 Thanh toán điện tử
Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan tới
thanh toán điện tử, hướng dẫn các ngân hàng thương mại
và các tổ chức tín dụng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ

NHNN 2007
2 Các biện pháp khuyến khích đầu tư và chuyển giao công
nghệ

Đầu tư vào kinh doanh dựa trên TMĐT TM 2010

7 Xây dựng mạng kinh doanh điện tử cho một số ngành TM 2010
- 25 -
công nghiệp

V. THỰC THI CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT Chương trình, dự án Đơn vị Năm
hoàn
thành
1 Cơ chế, bộ máy thực thi quyền sở hữu trí tuệ, bí mật riêng
tư, bảo vệ người tiêu dùng

Quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm bản quyền KHCN, VHTT, CA,
TM
2010
Bí mật riêng tư CA 2010
Bảo vệ người tiêu dùng TM, Hiệp hội Bảo vệ
người tiêu dùng

2010
2 Giải quyết tranh chấp
Giải quyết tranh chấp qua cơ quan hành chính, qua hoà
giải
Bước đầu thành lập một Ban hoà giải trong TMĐT cung
cấp dịch vụ giải quyết tranh chấp trên mạng
TM 2006
Giải quyết qua trọng tài kinh tế Trọng tài kinh tế, VCCI 2008
Giải quyết qua toà án TP, TANDTC 2010


ASEAN

Về khía cạnh thương mại TM 2010
Về khía cạnh kỹ thuật BCVT

2010
5 Hợp tác với các cơ quan chuyên môn liên quan tới TMĐT TM 2010


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status