BỘ THƯƠNG MẠI
KẾ HOẠCH TỔNG THỂ
PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2006 - 2010
DỰ THẢO 2
Quan điểm, mục tiêu và các chính sách phát triển
Chương III
Các chương trình, dự án trọng điểm - 3 -
TỔNG QUAN
Kế hoạch tổng thể phát triển Thương mại điện tử
Giai đoạn 2006 – 2010 Cho tới năm 2005 thương mại điện tử (TMĐT) đã hình thành ở Việt Nam và đã bước đầu góp
phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của một số doanh nghiệp. Nhà nước đã vạch ra chủ trương,
đường lối chung mở đường cho TMĐT phát triển. Một số hoạt động nghiên cứu và triển khai đã
được các cơ quan nhà nước cũng như các doanh nghiệp tiến hành. Tuy nhiên môi trường pháp lý cho
TMĐT chưa hình thành, nguồn nhân lực còn rất thiếu và yếu, hạ tầng kỹ thuật cho TMĐT chưa thuận
lợi.
Mục tiêu của Kế hoạch là tới 2010 TMĐT sẽ góp phần nâng cao đáng kể năng lực cạnh tranh
của các doanh nghiệp nhờ ứng dụng mạnh mẽ TMĐT và nhờ sự công khai, minh bạch và hiệu quả
của nhiều dịch vụ công do các cơ quan nhà nước cung cấp qua mạng.
Để đạt được mục tiêu này, nhà nước sẽ đẩy mạnh tuyên truyền, đào tạo về TMĐT cho các
1. Tình hình phát triển chung
Thương mại điện tử (TMĐT) đang phát triển mạnh mẽ trên phạm vi toàn thế giới. Tuy nhiên,
sự khác biệt trong ứng dụng TMĐT giữa các nước phát triển và đang phát triển rất lớn. Các nước
phát triển chiếm hơn 90% tổng giá trị giao dịch TMĐT toàn cầu. Gần đây một số nền kinh tế ở châu
Á như Hàn quốc hay Đài loan đã vươn lên vị trí cao trong bảng xếp hạng ứng dụng TMĐT toàn cầu.
Về nhận thức, TMĐT đã trở thành một khái niệm quen thuộc đối với các doanh nghiệp và hầu
hết người dân tại các nước phát triển và đang dần dần trở nên quen thuộc với các doanh nghiệp của
các nước đang phát triển. Doanh nghiệp ngày càng nhận thức rõ các cơ hội của TMĐT và quan tâm
tới việc xây dựng các mô hình kinh doanh TMĐT, đưa TMĐT thành một phần không thể tách rời của
chiến lược phát triển doanh nghiệp.
Về nguồn nhân lực cho TMĐT, mức độ phổ cập công nghệ thông tin (CNTT) đang tăng nhanh,
nhiều trường đại học đã có chương trình đào tạo chuyên ngành về TMĐT. Các doanh nghiệp, đặc
biệt là các công ty đa quốc gia, đã chú trọng tới việc đào tạo cán bộ về TMĐT. Hoạt động quảng cáo,
bán hàng và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ khách hàng thông qua mạng Internet đã trở thành một hoạt
động không thể tách rời khỏi thành công của nhiều doanh nghiệp trên phạm vi toàn thế giới.
Về xây dựng chính sách và môi trường pháp lý cho TMĐT, có sự chênh nhau khá rõ rệt trong
việc xây dựng chính sách và môi trường pháp lý cho TMĐT giữa các nước phát triển và đang phát
triển. Các nước đang phát triển hiện còn ở giai đoạn xây dựng chiến lược CNTT quốc gia, chủ yếu
quan tâm các vấn đề về hạ tầng CNTT cơ bản, phát triển nguồn nhân lực, bản địa hóa ứng dụng
TMĐT, xây dựng chuẩn và bước đầu xây dựng khung pháp lý cho TMĐT. Trong khi đó các nước
phát triển đã hình thành chiến lược phát triển TMĐT từ thập kỷ trước và cơ bản đã xây dựng được
môi trường thuận lợi cho sự phát triển của TMĐT.
Về hạ tầng CNTT và truyền thông, phần lớn các nước phát triển đã xây dựng được hạ tầng
tiên tiến về CNTT và TT với tỷ lệ cao các máy tính được nối mạng LAN, WAN và Internet tốc độ
* Nguồn :
2. Tình hình phát triển TMĐT tại một số nước Châu Á
2.1. Trung Quốc
Trung Quốc là nước đứng ngay sau Hoa Kỳ về số người sử dụng Internet. Tuy nhiên, hơn hai
phần ba số người sử dụng Internet tại Trung Quốc chưa bao giờ tiến hành giao dịch mua bán trực
tuyến. Với tiềm năng phát triển thương mại to lớn, tăng trưởng TMĐT của Trung Quốc có ý nghĩa
quyết định cho cả Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và một phần nào đó ảnh hướng không nhỏ tới
TMĐT toàn thế giới. Tuy nhiên, tại Trung quốc hệ thống thanh toán trực tuyến chưa phát triển, hầu
hết các giao dịch B2C được tiến hành dưới hình thức giao dịch trực tuyến nhưng thanh toán vẫn theo
phương thức truyền thống. Hệ thống đảm bảo an toàn trên mạng còn nhiều yếu, có tới 80% người
mua bán trực tuyến có vấn đề liên quan tới an toàn mạng. Thêm vào đó mạng lưới giao thông vận tải
chưa hiệu quả cũng làm giảm lợi ích từ hoạt động TMĐT của các doanh nghiệp.
2.2. Hàn Quốc
Theo đánh giá của OECD, năm 2004 Hàn Quốc đứng thứ nhất trong số 30 nước thành viên của
tổ chức này về mức độ đóng góp của CNTT đối với toàn nền kinh tế cũng như đối với xuất khẩu.
Mức tăng hàng năm của mua bán trực tuyến đạt khoảng 85% trong 2 năm 2001 và 2002. Ước đoán
tổng giá trị TMĐT năm 2002 đạt 29 tỷ USD và sẽ tăng khoảng 10 lần vào năm 2006.
Chính phủ Hàn Quốc rất tích cực hỗ trợ TMĐT phát triển. Năm 2000, Chính phủ đã ban hành
Chính sách toàn diện đối với phát triển TMĐT, năm 2002 Chính phủ tiếp tục ban hành Chiến lược
quốc gia thúc đẩy kinh doanh điện tử.
3. Xu hướng phát triển TMĐT tới 2010
Các nước đang phát triển sẽ là thị trường tiềm năng cho TMĐT do tỷ lệ kết nối Interrnet tăng
2005 con số này là (….). Tuy nhiên, ứng dụng TMĐT của doanh nghiệp còn ở mức sơ khai. Phần lớn
các website chỉ dừng ở mức cung cấp thông tin khái quát về doanh nghiệp và sản phẩm, chưa thực sự
là công cụ tương tác giữa khách hàng và doanh nghiệp. Việc ký kết hợp đồng điện tử và thanh toán
trực tuyến trong các giao dịch thương mại chưa thực hiện được do thiếu một môi trường pháp lý
thích hợp và các hạ tầng công nghệ tin học và viễn thông cần thiết.
Chính phủ chưa có sự chỉ đạo, hướng dẫn hoặc định hướng chính thức nào và chưa có chính
sách khuyến khích, hỗ trợ cần thiết cho doanh nghiệp. Nguồn nhân lực phục vụ ứng dụng TMĐT còn
thiếu và chưa đủ trình độ để đáp ứng nhu cầu, mặc dù các trung tâm đào tạo CNTT, các khoa CNTT
vẫn tiếp tục tăng về số lượng.
Tập quán kinh doanh và tâm lý tiêu dùng tại VN cũng chưa hoàn toàn thuận lợi cho các ứng
dụng của TMĐT. Người dân còn chưa quen với phương thức mua hàng gián tiếp, doanh nghiệp cũng
chưa xây dựng được những quan hệ đối tác đủ tin cậy để đưa phương thức B2B vào áp dụng cho các
giao dịch thương mại thường xuyên.
3. Một số hoạt động liên quan tới TMĐT tới 2005
3.1. Đường lối chung
•
Ngày 17/10/2000, Bộ Chính trị có Chỉ thị 58/CT-TW về đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong
sự nghiệp hiện đại hoá, công nghiệp hoá đất nước giai đoạn đến 2010. Chỉ thị nêu rõ:
“Tập trung phát triển các dịch vụ điện tử trong các lĩnh vực tài chính (thuế, kho bạc, kiểm
toán…) ngân hàng, hải quan, hàng không, thương mại, thương mại điện tử…”
•
Ngày 24/5/2001, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 81/QĐ-TTg phê duyệt nhiệm vụ
của Chỉ thị 58/TC-TW, trong đó giao nhiệm vụ cho Bộ Thương mại “Tổ chức triển khai
các biện pháp xúc tiến thương mại để hỗ trợ các doanh nghiệp tìm kiếm thị trường trong
gia và ứng dụng TMĐT ở Việt Nam.
•
Ngày 25/1/2002, Thủ tướng Chính phủ có Công văn số 68/VPCP-TH giao Bộ Thương
mại làm đầu mối xây dựng Pháp lệnh TMĐT. Bộ Thương mại đã hoàn thành Dự thảo 6
Pháp lệnh này vào cuối năm 2003.
•
Tháng 11/2003 Quốc Hội quyết định xây dựng Luật Giao dịch điện tử và thu hút dự thảo
Pháp lệnh TMĐT vào luật này.
•
Ngày 17/7/2002, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 95/2002/QĐ-TTg giao Bộ
Thương mại chủ trì dự án Tổ chức triển khai và phát triển TMĐT thời kỳ đến 2005. Dự án
này mới bắt đầu triển khai giai đoạn đầu.
3.4 Nghiên cứu khoa học
•
Ngày 28/6/1999, Thủ tướng Chính phủ có Công văn số 3148/TC-HCSN giao Bộ Thương
mại xây dựng Dự án quốc gia về “Kỹ thuật TMĐT”. Bộ Thương mại làm đầu mối, phối
hợp với trên 20 Bộ, Ngành triển khai nghiên cứu 14 tiểu dự án và xây dựng một báo cáo
tổng hợp của Dự án từ tháng 9/1999, hoàn tất các thủ tục nghiệm thu Dự án vào đầu năm
2002.
•
Năm 2001, Bộ Thương mại đã tổ chức nghiên cứu đề tài khoa học cấp nhà nước (Đề tài
KC.01-05) về một số vấn đề kỹ thuật và công nghệ chủ yếu trong TMĐT và triển khai thử
nghiệm.
•
Một số bộ ngành và nhiều tổ chức, doanh nghiệp đã tiến hành các nghiên cứu và thử
nghiệm ở mức độ khác nhau về các khía cạnh liên quan tới TMĐT.
3.5 Hợp tác quốc tế
tiên phong ứng dụng TMĐT ở Việt Nam, đồng thời các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn cần sự hỗ trợ
của Nhà nước để có thể tiếp thu những ứng dụng tiên tiến của TMĐT một cách hiệu quả. Loại hình
giao dịch thương mại B2B sẽ dần dần chiếm ưu thế.
III. NHỮNG THÁCH THỨC CHỦ YẾU ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN THƯƠNG
MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006 - 2010
Mặc dù cơ hội cho sự phát triển TMĐT tại Việt Nam trong năm năm tới là to lớn nhưng các
thách thức cũng rất nặng nề. Tại thời điểm xuất phát của giai đoạn này Việt Nam phải đương đầu với
một số thử thách chủ yếu sau.
1. Nguồn nhân lực cho TMĐT còn thiếu
•
Phần lớn doanh nghiệp mới nghe nói tới TMĐT nhưng chưa biết tới lợi ích, các điều kiện
tham gia TMĐT
•
Tuyệt đại đa số dân chúng chưa biết tới khái niệm TMĐT
•
Các cơ quan nhà nước mọi ngành, mọi cấp chưa biết tới khái niệm TMĐT
•
Mới có rất ít lãnh đạo doanh nghiệp và cán bộ quản lý có kiến thức ban đầu về TMĐT
•
Một số trường đại học bắt đầu quan tâm tới đào tạo về TMĐT nhưng đội ngũ giảng viên
hầu như chưa hình thành
•
Số công chức nhà nước biết tới TMĐT rất ít, được đào tạo manh mún từ năm 2000 nhờ sự
hỗ trợ của một số dự án song phương và đa phương.
•
Chưa hình thành nguồn nhân lực đáp ứng việc ứng dụng, chuyển giao và phát triển công
vài năm mới ban hành đủ
•
Thực thi luật kém
3. Hạ tầng ICT còn yếu
•
Hạ tầng mạng viễn thông, đặc biệt là Internet
•
Máy tính các loại
•
Các phần mềm ứng dụng
•
An ninh, an toàn mạng
4. Các thách thức khác
4.1 Bộ máy quản lý còn non yếu
•
Mới chính thức giao Bộ Thương mại thống nhất quản lý nhà nước về TMĐT vào đầu năm
2004, nguồn lực còn hạn chế.
•
Chưa có các tổ chức hỗ trợ TMĐT thuộc nhà nước hoặc phi lợi nhuận.
•
Chưa có cơ quan thống kê về TMĐT
4.2. Bối cảnh kinh tế - xã hội chưa thuận lợi
•
Chính phủ điện tử còn non yếu, chưa cung cấp các dịch vụ công thiết yếu cho TMĐT: hải
quan điện tử, thuế điện tử, cấp phép xuất nhập khẩu điện tử, đăng ký đầu tư điện tử, v.v...
Doanh nghiệp là người bán, người mua, người phát triển phát triển công nghệ lớn nhất. Chính
mỗi doanh nghiệp sẽ tự quyết định có tham gia thương mại điện tử hay không, tham gia như thế nào,
vào thời điểm nào, sẽ đầu tư nhân lực và nguồn lực ra sao, v.v... Nói cách khác, doanh nghiệp là lực
lượng nòng cốt đối với việc ứng dụng và phát triển thương mại điện tử.
3. Nhà nước có vai trò tạo ra môi trường thuận lợi, cung cấp nhiều dịch vụ công hỗ trợ cho
TMĐT và tích cực ứng dụng TMĐT
Mặc dù doanh nghiệp là lực lượng nòng cốt, đóng vai trò quyết định trong ứng dụng và phát
triển thương mại điện tử nhưng Nhà nước đóng vai trò quan trọng. Nhà nước có nhiệm vụ tạo ra môi
trường thuận lợi cho ứng dụng và phát triển thương mại điện tử, xây dựng khung khổ pháp lý, thiết
lập sự cạnh tranh lành mạnh, hỗ trợ tạo ra cơ chế giải quyết tranh chấp, bí mật riêng tư, bảo vệ người
tiêu dùng, v.v... Đồng thời, Nhà nước cũng là khách hàng rất lớn của các doanh nghiệp, chiếm tỷ
trọng đáng kể trong các giao dịch thương mại.
Nhà nước có nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ công hỗ trợ cho thương mại điện tử như hải quan
điện tử, thuế điện tử, đăng ký đầu tư điện tử, cấp phép nhập khẩu điện tử, v.v... Nếu nhà nước không
hoàn thành tốt nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ công này thì thương mại điện tử cũng rất khó phát
triển một cách toàn diện và mạnh mạnh mẽ.
4. Nhà nước và doanh nghiệp cần chủ động, tích cực trong hợp tác quốc tế để tạo ra môi
trường thuận lợi, thu hút công nghệ tiên tiến cho sự phát triển TMĐT
Thương mại điện tử mang tính toàn cầu. Ngay từ năm 1998, Hội nghị bộ trưởng lần thứ hai
của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã nhấn mạnh thương mại điện tử trên phạm vi toàn cầu
đang tăng trưởng nhanh chóng và tạo ra nhiều cơ hội mới cho thương mại. Các thành viên cũng cam
kết tiếp tục duy trì thực tế không đánh thuế hải quan đối với các giao dịch điện tử qua biên giới. Năm
2001 WTO tiếp tục khẳng định thương mại điện tử tạo ra nhiều cơ hội mới nhưng đồng thời cũng đặt
ra những thách thức mới cho thương mại của mọi thành viên, dù là thành viên phát triển hay đang