ĐỀ ÁN MÔN HỌC
Một số giải pháp đẩy mạnh xuất
khẩu gạo ở Việt Nam
Giáo viên hướng dẫn : Hoàng Văn Định
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Hân Đề án môn học Nguyễn Thị
Hân
LỜI NÓI ĐẦU
Sự nghiệp đổi mới kinh tế Việt Nam đã và đang đạt được những thắng
lợi rất khả quan, trước hết phải kể đến thắng lợi của mặt trận nông nghiệp.
Trong nông nghiệp, thắng lợi lớn nhất là bước ngoặt phát triển về sản xuất và
xuất khẩu lúa gạo.
Từ một nước nông nghiệp thiếu đói kéo dài, Việt Nam không chỉ tự túc
được lương thực ổn định, mà còn vươn lên đẩy mạnh xuất khẩu và trở thành
nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới. Đó là một kỳ tích mà cả thế giới biết
đến.
Thành tựu đó chứng minh đường lối đổi mới nông nghiệp của Đảng nói
chung, định hướng chiến lược sản xuất và xuất khẩu gạo nói riêng là đúng đắn.
của các thầy, cô đặc biệt là thầy Hoàng Văn Định, em xin chân thành cảm ơn
các thầy, cô.
Do trình độ có hạn nên đề án của em không tránh khỏi những sai sót, em
rất mong được sự góp ý và giúp đỡ của các thầy cô.
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Hân 2
Đề án môn học Nguyễn Thị
Hân
NỘI DUNG
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU GẠO
I.THỰC CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA XUẤT KHẨU GẠO
1. Thực chất xuất khẩu
Xuất khẩu là hoạt động trao đổi hàng hoá, dịch vụ với nước ngoài và với
2. Vai trò của xuất nhập khẩu gạo
Xuất khẩu được thừa nhận là hoạt động rất cơ bản của hoạt động kinh tế
đối ngoại là phương tiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển.Việc mở rộng xuất
khẩu để tăng thu nhập ngoại tệ cho tài chính và cho nhu cầu nhập khẩu cũng
như tạo cơ sở cho phát triển hạ tầng là một mục tiêu quan trọng nhất của chính
sách thương mại.Nhà nước đã và đang thực hiện các biện pháp thúc đẩy các
ngành kinh tế theo hướng xuất khẩu , khuyến khích khu vực tư nhân mở rộng
xuất khẩu để giải quyết công ăn việc làm tăng thu nhập, ngoại tệ cho đất nước.
2.1. Tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá
đất nước.
Quá trình công nghiệp hoá cần một lượng vốn lớn để nhập khẩu máy
móc, thiết bị kĩ thuật công nghệ cao để có thể theo kịp nền công nghiệp hiện đại
của các nước đã phát triển.Nguồn vốn cho nhập khẩu được hình thành từ rất
nhiều nguồn vốn khác nhau:
- Đầu tư nước ngoài
- Vay nợ, viện trợ
- Thu từ hoạt động du lịch
- Xuất khẩu…
Các nguồn vốn khác quan trọng nhưng rồi cũng phải trả bằng cách này
hay cách khác ở thời kỳ sau. Nguồn vốn quan trọng nhất vẫn là xuất khẩu , xuất
khẩu quyết định quy mô và tốc độ tăng của nhập khẩu.
Hiện nay các nước xuất khẩu gạo với khối lượng lớn chủ yếu là các nước
đang phát triển: Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc, Pakistan…Chính vì thế
nguồn ngoại tệ thu về từ xuất khẩu gạo đối các nước này là rất quan trọng.
4
Đề án môn học Nguyễn Thị
Hân
5
Đề án môn học Nguyễn Thị
Hân
tạo việc làm ổn định cũng chính là một biện pháp hữu hiệu để tăng thu nhập, ổn
định xã hội.
Đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là Việt Nam thì xuất khẩu gạo
là một lợi thế lớn. Bởi sản xuất và xuất khẩu gạo có những lợi thế căn bản như:
đất đai, khí hậu, nguồn nước, nguồn nhân lực … Và đặc biệt yêu cầu về vốn kỹ
thuật trung bình, với các lợi thế như vậy tăng cường xuất khẩu gạo là hướng đi
đúng đắn nhất.
Xuất khẩu gạo hay xuất khẩu hàng hoá nông sản nói chung có tác động to
lớn đến nền kinh tế nước ta, giúp khai thác được tất cả các lợi thế tương đối
cũng như tuyệt đối của Việt Nam trong quá trình hội nhập. Trong quá trình sản
xuất lúa gạo, Việt Nam đã thu đước những kết quả to lớn từ một nước nhập
khẩu trở thành một nước xuất khẩu thứ hai thế giới. Tuy nhiên xuất khẩu gạo
Việt Nam còn chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có. Cần có giải pháp cụ thể
cho vấn đề này.
II. ĐẶC ĐIỂM XUẤT KHẨU GẠO
1. Đặc điểm về sản xuất
Về mặt sinh thái, sức đề kháng sâu bệnh và khả năng chịu đựng của lúa
kém do vậy sản xuất lúa phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên. Điều này có
ảnh hưởng nhất định đến xu hướng phát triển chung cũng như mùa màng thu
hoạch trong từng thời điểm cụ thể.
Do sản xuất lúa gạo phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên do đó lúa chỉ
được trồng phổ biến ở các nước có đồng bằng châu thổ, khí hậu nhiệt đới ẩm,
nắng lắm, mưa nhiều, những nước này chủ yếu là các nước đang phát triển như
: Thái Lan, Việt Nam, Ấn Độ , Pakistan…Hiện nay do trình độ đô thị hoá, việc
tăng dân số quá nhanh cũng như việc xây dựng các khu công nghiệp ồ ạt nên
thế giới. Trong khi đó các nước này chỉ cung cấp 4-5% lượng gạo được trao đổi
trên thế giới, Châu Á là khu vực sản xuất nhiều nhất và cũng tiêu thụ lượng gạo
lớn nhất. Năm 1995 trừ số lượng đã xuất khẩu đi các lục địa khác, mức tiêu thụ
gạo còn lại của Châu Á vẫn gấp 21,4 lần Châu Mỹ, 23,2 lần Châu Phi và 80,5
lần Châu Âu.
- Buôn bán giữa các chính phủ là phương thức chủ yếu vì thế xuất khẩu
sản phẩm lúa gạo ổn định hơn so với hàng công nghiệp.
7
Đề án môn học Nguyễn Thị
Hân
Nguyên nhân , thứ nhất, là do yếu tố chính trị quốc gia. Mỗi nước đều
phải đảm bảo an ninh lương thực, nếu lương thực không được đảm bảo sẽ có
ảnh hưởng rất lớn tới chính trị quốc gia đó. Vì thế buốn bán chủ yếu được ký
kết giữa các chính phủvới nhau thông qua các hiệp định, các hợp đồng có tính
nguyên tắc, dài hạn và định lượng cụ thể hàng năm vào đầu các niên vụ. Thứ
hai, một số nước dùng xuất khẩu gạo để thực hiện các ý đồ chính trị thông qua
viện trợ, cho không, bán chịu dài hạn…điều này được thực hiện giữa các chính
phủ là chủ yếu.
- Các nước lớn đóng vai trò chi phối thị trường gạo thế giới:
Trên thế giới chỉ một vài nước là xuất khẩu với một lượng gạo lớn và có
uy tín: Thái Lan, Mỹ, Ttung Quốc, Việt Nam…. Nếu lượng gạo xuất khẩu của
các nước này có sự biến động có thể ảnh hưởng đến giá cả của gạo dẫn tới
những biến động trong cung – cầu gạo, hay có thể ảnh hưởng đến tình hình sản
xuất đến các loại hàng hoá khác.
- Trong mậu dịch gạo thế giới, có rất nhiều loại gạo khác nhau của các
nước xuất khẩu gạo trên thị trường thế giới. Tương ứng với mỗi loại gạo , tuỳ
thuộc chất lượng, phẩm cấp khác nhau lại hình thành một mức giá cụ thể phù
thuộc vào các tiêu chuẩn cụ thể về chọn giá quốc tế mà trong nhiều thập kỷ qua,
người ta vẫn lấy giá gạo xuất khẩu của Thái Lan làm giá gạo quốc tế. Vì gạo có
- Giá cả là một yếu tố quan trọng là thước đo sự cân bằng cung – cầu
trong nền kinh tế thị trường. Tuy cầu về gạo là ít biến động nhưng với những
sản phẩm đặc sản thì gái có quyết định khá lớn.
2. Nhân tố về cơ sở vất chất – kỹ thuật và công nghệ của sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm.
- Các nhân tố về cơ sở vật chất – kỹ thuật đó là hệ thống vận chuyển, kho
tàng, bến bãi, hệ thống thông tin liên lạc… Hệ thống này bảo đảm việc lưu
thông nhanh chóng kịp thời, đảm bảo cung cấp nguồn hàng một cách nhanh
nhất, tiết kiệm thời gian và chi phí lưu thông.
- Các nhân tố về kỹ thuật, công nghệ sản xuất và tiêu thụ đặc biệt quan
trọng trong việc tăng khả năng tiếp cận và mở rộng thị trường tiêu thụ gạo. Hệ
thống chế biến với công nghệ dây truyền hiện đại sẽ gạp phần tăng chất lượng
và giá trị của gạo.
3. Nhân tố về chính sách vĩ mô.
9
Đề án môn học Nguyễn Thị
Hân
Nhóm nhân tố này thể hiện sự tác động của nhà nước tới hoạt động xuất
khẩu gạo. Trong điều kiện hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam mới tham gia
thị trường xuất khẩu rất cần tới sự quan tâm hướng dẫn của nhà nước. Đặc biệt
hiện nay khả năng marketinh tiếp cận thị trường, sự am hiểu luất kinh doanh,
khả năng quản lý của doanh nghiệp còn hạn chế, vì thế việc đào tạo cán bộ
quản lý, cán bộ làm công tác tiêu thụ là rất quan trọng. Hơn nữa hiện nay xuất
khẩu gạo gọp phần rất lớn vào phát triển nền kinh tế nhưng đời sống của người
nông dân còn gặp nhiều khó khăn yêu cầu nhà nước cần có sự điều tiết lợi ích
giữa nhà nước – doanh nghiệp – người nông dân sao cho thoả đáng và hợp lý
nhất.
1997 7009.7 38.8 27523.9
1998 7362.7 39.6 29145.5
1999 7653.6 41.0 31393.8
2000 7666.3 42.4 32529.5
2001 7492.7 42.9 32108.4
2002 7504.3 45.9 34447.2
2003 7449.3 46.3 34518.6
Tổng 97976.9 379829.4
Nguồn: Tổng cục thống kê 1-2001và Bộ NN & PTNT, Vụ Kế hoạch và
quy hoạch 2002
1.1. Về sản lượng
Từ năm 1990-2003 sản lượng lúa có xu hướng tăng và ổn định. Trung
bình mỗi năm tăng 1776.2 tấn tương ứng 5.03% so với năm trước. Đây là mức
tăng của năm 1992 là khá cao 10.2% so với năm 1991 về số tuyệt đối là 1986.5
nghìn tấn mức tăng này là khá cao đặc biệt trong thời gian này nước ta mới bắt
đầu thực hiện cơ chế mở cửa, nền kinh tế mới có sự chuyển biến tích cực. Từ
1990- 2003 sản lượng lúa luôn tăng tuy không đều qua các năm, có năm tăng
2338.8 nghìn tấn(2002) có năm tăng 71.4 nghìn tấn (2003) và đặc biệt năm
2001 đã bị giảm sút 421.1 nghìn tấn so với năm 2000. Tuy nhiên năm 2002 lại
tăng với lượng cao nên sản lượng 2002 so với 2000 vẫn tăng 1917.7 nghìn tấn.
Chênh lệch
Năm
Sản lượng(1000tấn)
+/- %
11
trực tiếp làm nên thành quả của mặt trận nông nghiệp những năm qua. 12
Đề án môn học Nguyễn Thị
Hân
1.2. Diện tích
Từ 1990-2003 diện tích gieo trồng không ngừng tăng, nhưng được chia
làm hai giai đoạn rõ rệt. Từ 1990-2000 diện tích tăng và ổn định qua các năm,
năm 1991 diện tích tăng 260 nghìn ha- tương ứng tăng 4.3% so với năm 1990,
năm 1998 tăng 263 nghìn ha –3.7% so với năm 1997. Đây là hai năm diện tích
gieo trồng tăng với tốc độ cao. Nguyên nhân là do nhà nước thực hiện đổi mới
quản lý trong nông nghiệp từ đó khuyến khích được sản xuất với quy mô lớn và
số vụ trong năm cũng tăng để đáp ứng nhu cầu gạo hàng hoá. Từ năm 2001 –
2003 diện tích có sự biến động không ổn định , năm 2001 diện tích giảm 173.6
nghìn ha, đến năm 2002 diện tích có tăng 11,6 nghìn ha so với năm 2001 nhưng
vẫn thấp hơn năm 2000 là 162 nghìn ha. Đến năm 2003 diện tích lại giảm so
với năm 2002 là 55 nghìn ha. Nguyên nhân do trình độ đô thị hóa ngày càng
tăng các khu công nghiệp, dân cư chủ yếu đuợc xây dựng ở vùng đồng bằng
dẫn đến diện tích trồng lúa ngày càng bị thu hẹp . Do đó những năm sắp tới cần
tăng cường thâm canh thực hiện tăng sản lượng dựa vào tăng năng suất cây
trồng chính là chủ yếu.
1.3.Về năng suất
Xu hướng tăng của năng suất ổn dịnh hơn so với xu hướng tăng của diện
tích. Từ năm 1991-2003 năng suất luôn tăng trong đó năm 1992 mức tăng khá
cao 2.2 tạ / ha – 7.07%, năm 2002 mức tăng 3 tạ/ha – 7% so với năm trước. Có
được mức tăng liên tục như trên là do nông nghiệp nước ta đã có được những
đầu tư về vốn, khoa học, kỹ thuật cho sản xuất nhưng mức sản lượng này còn
thấp so với tiềm năng và so với nhiều nước trên thế giới. Do đó Viêt Nam cần
mất mùa trong nhà”) là tổn thất xảy ra ở tất cả các khâu của hệ thống sau thu
hoạch từ khi thu hoạch, sơ chế , bảo quản, chế biến đưa nông sản ra thị trường
cho đến khi tiêu dùng.
Theo số liệu thống kê và số liệu điều tra những năm trước đây (1990-
1991) của viện công nghệ sau thu hoạch và tổng cục thống kê thì tổn thất sau
thu hoạch lúa ở Việt Nam từ 13%-16% trên tổng sản lượng lúa thu hoạch ,
tương đương 1-2% GDP hàng năm. Mức tổn thất được chi tiết cho các khâu
sau:
+Khâu thu hoạch: 1.3-1.7%
+Khâu vận chuyển:1.2-1.5%
+Khâu đập, tuốt lúa: 1.4-1.8%
+Khâu phơi sấy, làm sạch:1.9-2.1%
14
Đề án môn học Nguyễn Thị
Hân
+Khâu bảo quản :3.2-3.9%
+Khâu xay xát:4-5%
Theo điều tra của viện công nghệ sau thu hoạch, trong gần 10 năm (1992-
2002), nhờ áp dụng công nghệ sau thu hoạch của lúa giảm xuống 10-12%. Như
vậy trung bình đã giảm được 3- 4% tương đương 1 triệu tấn lúa. Các nhà kinh
tế đã tính toán rằng cứ 1% tổn thất tương đương 7 triệu USD hay 100 tỷ đồng .
Việc giảm tỷ lệ tổn thất xuống còn 3- 4% tương ứng việc tăng thêm 1-28
triệu USD hay 300- 400 tỷ VND cho đất nước.
Giá trị sản lượng của lúa gạo tăng lrên: Nhờ áp dụng công nghệ sau thu
hoạch đặc biệt công nghệ bảo quản, chất lượng gạo xuất khẩu thay đổi theo
hướng tỷ trọng gạo có chất lượng cao tăng lên , tỷ trọng gạo có chất lượng thấp
giảm xuống. Năm 1990 tỷ lệ gạo 40% tấm chiếm 55% tổng khối lượng gạo xuất
khẩu, gạo phẩm chất cao 5% tấm chỉ chiếm 3.3%. Năm 1998 gạo phẩm chất
cao tăng lên 27% từ 1999 gạo phẩm chất cao xuất khẩu chiếm 35- 40%. Công
xuất khẩu, trung bình mỗi năm khoảng 13.5 triệu tấn tronmg đó Đồng bằng
sông Hồng là 4 triệu tấn, sông Cửu Long là 9 triệu tấn. Các cơ sở xay xát quốc
doanh thực hiện một quy trình xay xát khép kín từ khử trấu, xát trắng đánh
bóng, tạo màu, phân loại, đóng bao. Các cơ sở tư nhân chỉ tiến hành 1 hay 2
công đoạn của quá trình xay xát gạo nhưng chiếm 75% lượng gạo xay xát của
cả nước.
II. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM
Năm 1989 Việt Nam đã có mức tăng trưởng đầy ấn tượng về lượng gạo
xuất khẩu . Năm đó chúng ta xuất khẩu được hơn 1.4 triệu tấn gạo, thu về 290
triệu USD với giá bình quân 204 USD/tấn trở thành nước xuất khẩu gạo thứ 3
thế giới sau Thái Lan và Mỹ. Những năm tiếp theo lượng gạo xuất khẩu có xu
hướng tăng ở mức ổn định và trở thành 1 trong 10 mặt hàng xuất khẩu thu về
lượng ngoại tệ lớn cho đất nước .
10 nhà xuất khẩu gạo năm 2003
STT Tên nước Sản lượng (tấn)
1 Thái Lan 7,500,000
2 Ấn Độ 4,000,000
3 Việt Nam 3,500,000
4 Mỹ 2,950,000
5 Trung Quốc 2,250,000
6 Burma 1,500,000
7 Pakistan 800,000
8 Urugoay 650,000
9 Ôtrâylia 500,000
10 Ai Cập 500,000
Giá trị % thay đổi so
với năm
trước
1989 1450 - 290 -
1990 1624 12.00 374 28.96
1991 1033 -36.39 234 -37.43
1992 1946 88.38 418 78.63
17
Đề án môn học Nguyễn Thị
Hân
1993 1722 -11.51 362 -13.40
1994 1983 15.16 424 17.13
1995 1988 0.25 530 25.00
1996 3003 51.06 855 61.32
1997 3575 19.05 870 1.75
1998 3730 4.33 1024 17.70
1999 4508 20.86 1025 0.09
2000 3476 -22.89 672 -34.44
2001 3729 7.28 619 -7.89
2002 3240 13.11 726 17.28
2003 3890 20.06 734 1.10
Nguồn: Tổng hợp từ niên giám thống kê
Xu hướng sản lượng và kim ngạch xuất khẩu tăng nhưng được chia làm 3
giai đoạn khá rõ.
Từ năm 1989-1992 giai đoạn này lượng xuất khẩu không đều đến năm
1991 giảm ở mức thấp 1033 nghìn tấn kéo theo kim ngạch cũng ở mức thấp
giảm hơn năm trước(1990) là 37.43%. Khi đó Pakistan đã giành mất vị trí thứ 2
của nước ta. Tuy nhiên đến năm 1992 nước ta nhanh chóng giành lại vị trí thứ
2.Chất lượng vầ chủng loại gạo
Chất lượng gạo trên thế giới được phân thành 5 loại dựa trên 9 chỉ tiêu:
Tỉ lệ tấm, kích thước hạt, màu gạo, độ ẩm, mức độ đánh bóng, tỷ lệ Amilaza, tỷ
lệ Protêin, nhiệt hoá, mùi thơm. Còn gạo của chúng ta chủ yếu chỉ quan tâm đến
3 chỉ tiêu đầu.
Cùng với sự tăng lên về số lượng chủng loại, chất lượng gạo của Việt
Nam trong những năm gần đây được cải thiện đáng kể. Trong những năm đầu
xuất khẩu gạo, tỷ lệ gạo chất lượng thấp và trung bình chiếm tới 80-90%, đến
năm 1998 chỉ còn 47% và cuối năm 2003 tỷ lệ này là 40%. Tỷ lệ gạo chất
lượng cao( 5-10%) đã tăng từ 1% năm 1989 lên 55% năm 2003 tỷ lệ gạo chất
lượng thấp chỉ còn 21%.
Bảng : Chất lượng gạo xuất khẩu qua các năm
Năm Cấp loại gạo(% tấm )
19
Đề án môn học Nguyễn Thị
Hân
5 10 15 20 25 >25
1989 0.35 - - 2.22 5.02 92.41
1990 3.98 10.21 5.69 3.42 20.47 56.23
1991 7.51 27.58 4.98 5.58 25.85 28.50
1992 18.96 21.48 11.03 4.25 13.82 30.96
1993 25.62 25.62 13.24 8.23 19.08 16.21
1994 44.51 25.00 4.03 9.03 7.31 10.12
1995 30.50 24.58 12.02 10.73 18.11 4.06
1996 30.59 17.66 5.45 6.23 21.70 18.37
1997 27.63 16.20 7.11 1.27 35.98 12.08
1998 26.92 26.15 13.97 0.41 30.82 1.73
Châu Mỹ 311.000 8 226.800 7
Châu Âu 155.600 4 194.400 6
Nguồn : Thời báo kinh tế- Niên giám thống kê
Trong cả thời kỳ 1991-2003 gạo xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường
thế giới luôn chiếm tỷ trọng lớn từ 7-18%, do tăng sản lượng xuất khẩu kỷ lục
4.5 triệu tấn, Việt Nam chiếm thị phần thị trường gạo thế giới 18.2% và đạt kim
ngạch xuất khẩu 1.025 triệu USD. Hơn nữa gạo Việt Nam giá rẻ phù hợp với
nhu cầu các thị trường những nước đang phát triển. Thị trường gạo nhập khẩu
Việt Nam từ nước năm 1991 mở rộng ra 80 nước và có mặt ở cả 5 châu lục.
Bảng tỷ trọng xuất khẩu gạo của Việt Nam
Năm 1990 1995 1999 2000 2001 2002
Tỷ trọng
So với TG
(%)
7.7 9.0 18.2 14.8 15.4 13.6
Nguồn : Theo số liệu tổng cục Thống kê 2002
Năm 2003 thị trườnggạo khu vực Châu Á 59%, Châu Phi 20%, Trung
Đông 9%(năm 2002 các số liệu tương ứng 485, 10%,29%) . Đây là 3 thị
trườngtiêu thụ với lượng lớn trong đó thị trường Châu á khá ổn định, thị trường
Châu Phi và Trung Đông mức dao động khá lớn,thị trường Châu Mỹ và Châu
Âu nhỏ hơn nhưng ổn định hơn. Thị trường Châu Phi tiêu thụ chủyêú gạo chất
lượng thấp 25% tấm, trong khi Trung Đông lại nhập khẩu gạo với chất lượng
21
Đề án môn học Nguyễn Thị
Hân
những năm 1995-2000, đôi khi giá gạo của nướcta còn cao hơn giá gạo của
Thái Lan.
22
Đề án môn học Nguyễn Thị
Hân
Tổng cộng trong 15 năm xuất khẩu gạo nước ta đã thu về trên 8 tỷ USD,
đạt mức bình quân 572 triệu USD/năm, một con số đáng tự hào mà trước đó
mới chỉ là mơ ướ. Xét về giá trị ngoại tệ mạnh thu được, xuất khẩu gạo đứng
thứ hai sau dầu thô, song xét về tính chất sản phẩm thì xuất khẩu gạo cố nhiều
điểm trội hơn hẳn dầu thô. Thứ nhất, gạo xuất khẩu là phần dư của nước ta sau
khi đã thoả mãn mọi tiêu dùng trong nước, khác với dầu thô xuất khẩu toàn bộ.
Thứ hai, gạo xuất khẩu là sản phẩm 100% của Việt Nam , khác với dầu thô là
sản phẩm của liên doanh.Thứ ba dầu lảan phẩm khai thác từ tài nguyên thiên
nhiên, càng xuất khẩu tài nguyên càng cạn kiệt, trong khi đó gạo là sản phẩm
trồng trọt, số lượng và chất lượng gạo xuất khẩu chỉ phụ thuộc vào kết quả sản
xuất và trìnhđộ thâm canh, xuất khẩu gạo tăng, đầu ra của lúa gạo mở rộng tạo
động lực mới để phát triển sản xuất theo huớng thâm canh cao (do kích thích
giá lúa tăng, nông dân tăng thu nhập, tăng mức đầu tư thâm canh, tăng văng
suất và chất lượng gạo). Thứ tư, hỉệu quả kinh tế - xã hội – quốc phòng – an
ninh và môi trường của sản xuất và xuất khẩu gạo cao hơn nhiều so với bất kỳ
một hàng xuất khẩu nào của nuớc ta. Hiệu quả đó không chỉ trước mắt mà còn
lâu dài vì nhu cầu lúa gạo cho an ninh lương thực thế giới đang có xu hướng
tăng, hạt gạo Việt Nam còn có thể vượt xa đến nhiều nước so với hiện nay. Thứ
năm, giá gạo trên thị trường thế giái ổn định hơn so với các mặt hàng xuất khẩu
khác do quan hệ cung cầu ít biến động hơn.
Xét trên 5 góc độ đó, rõ ràng xuất khẩu gạo là lợi thế của nước ta và lợi
thế này nếu biết khai thác hợp lý sẽ tồn tại lâu daì và là một hướg làm giàu cho
đất nước ít có sản phẩm nào sánh kịp.
tích gieo trồng lúa gạo.
- Do sự dịch chuyển cơ cấu gieo trồng nên những diện tích trồng lúa kém
hiệu quả được chuyển sang gieo trồng các loại cây trồng hiệu quả hơn hoặc
nuôi trồng thuỷ sản.
- Trình độ thâm canh của nước ta còn thấp, năng suất lao động chưa cao;
công nghệ sản xuất giống lạc hậu do đó giống lúa chất lượng kém, năng xuất
thấp còn phổ biến; trình độ cơ giới hoá thấp chủ yếu là lao động thủ công (đặc
biệt vùng Đồng bằng sông Hồng).
- Với sự ảnh hưởng của một thời gian dài chiến tranh, rồi sang thời kỳ kế
hoạch hoá tập trung nước ta không chú trọng tới việc giữ gìn và phát triển các
giống lúa đắc sản nên hiện nay lúa ác sản của nước ta chất lượng không cao,
năng xuất thấp do đó không được chú trọng trong trông lúa xuất khẩu. 24