Tài liệu Đề án "Bán phá giá hàng hóa ở VN" - Pdf 99


Đề án

Đề tài "Bán phá giá hàng hóa
ở VN"

1

Chương 1 :
Tổng quan về bán phá giá hàng hoá 1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Giá trị thông thường
1.1.1.1. Khái niệm

Giá trị thông thường là giá bán có lãi của sản phẩm tương tự được bán với số lượng
thích đáng trên thị trường nội địa tới người tiêu dùng độc lập.

1.1.1.2. Điều kiện để xác định giá trị thông thường của hàng hoá
 Sản phẩm tương tự
 Số lượng thích đáng

phép chỉ định một nước thay thế.

1.1.2. Giá xuất khẩu:
1.1.2.1. Khái niệm:
Giá xuất khẩu là giá đã trả thực sự hoặc có khả năng trả giá xuất khẩu tới cộng
đồng, tới một khách hàng độc lập. Trong các trường hợp:
Nếu không có giá đã trả hoặc có khả năng trả tức là không có giá xuất khẩu thì ph
ải
sử dụng giá kiến tạo.
Nếu không có giá xuất khẩu tới cộng đồng thì không phải chịu sự điều tra.
Nếu không có khách hàng độc lập thì phải sử dụng giá kiến tạo.
Ví dụ: người xuất khẩu bán hàng cho người nhập khẩu mà người nhập khẩu đó có
quan hệ họ hàng với người xuất khẩu, mức giá bán 1 là 90USD (là giá xuất khẩu
không tin cậy).
Các chi phí: 20% , lãi thông thường: 10%.

3
Người nhập khẩu bán hàng cho người mua không có quan hệ họ hàng ở mức giá
bán hai là 100USD.
Như vậy giá bán 1 là giá không tin cậy.
giá bán 2 là giá tin cậy thứ nhất
giá xuất khẩu kiến tạo sẽ là: 100 – ((20%+10%)*100)= 70 USD.
70USD là giá xuất khẩu kiến tạo.

1.1.2.2. Các biện pháp xác định giá xuất khẩu:
 Nếu sản phẩm nhập khẩu có gía đã được chi trả trong thực tế hoặc có khả năng
chi trả ( như giá trong hoá đơn) thì đó là m
ức gía xuất khẩu.
 Nếu sản phẩm nhập khẩu không có giá trị chi trả trong thực tế hoặc không có
khả năng chi trả ( như gía trong hoá đơn) hoặc không thể xác định được giá của

Chú ý: Lãi là ở mức bình thường trên doanh số. 1.2. Khái niệm về bán phá giá hàng hoá
1.2.1. Khái niệm
 Theo điều VI của Hiệp định chung về buôn bán và thuế quan (GATT) năm 1947
xác định:
Bán phá giá là hành động mang sản phẩm của một nước sang bán thành hàng hoá ở
mộ
t nước khác, với mức giá xuất khẩu thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm
đó khi bán ở trong nước.
Một sản phẩm được coi là bán phá giá khi nó được đưa vào hoạt động thương mại
tại nước nhập khẩu với giá xuất khẩu thấp hơn giá có thể so sánh được trong tiến
trình buôn bán thông thường đối với sản phẩm tương tự khi đưa tới người tiêu dùng
ở trong nướ
c xuất khẩu.
Như vậy, trung tâm của khái niệm bán phá giá là có sự tách biệt về giá, khi giá xuất
khẩu thấp hơn gía trị thông thường của hàng hóa đó ở trong nước xuất khẩu.

5
Bán phá giá hàng hoá không đồng nghĩa với hàng hoá bán rẻ. Một nước có thể xuất
khẩu hàng hoá đó sang nước khác, bán với giá rẻ hơn hàng hoá cùng loại đang bán
trên thị trường nước nhập khẩu, nếu giá bán không thấp hơn gía bán của hàng hoá
đó trên thị trường nước xuất khẩu thì hành động đó không phải là bán phá giá.
Ví dụ về việc bán phá giá hàng hoá như sau:
Một người sản xuất TV lâu năm bán mặt hàng tivi PANASONIC với giá
300USD/chiếc, nếu ngườ
i đó xuất khẩu TV cùng loại PANASONIC tới nước khác
và bán với giá 230USD /chiếc thì người đó đã thực hiện hành động bán phá giá.


doanh khác và lợi ích Nhà nước).
Một khái niệm với ba nội dung nêu trên có liên quan mật thiết với nhau và nó là
quan hệ nhân quả; nếu cắt bỏ bất kỳ vế nào củakhái niệm trên thì khái niệm sẽ mãi
mãi không thể là một khái niệm hoàn chỉnh.
1.2.2. Điều kiện bán phá giá hàng hoá
Theo điều 23- “Pháp lệnh giá” của Việt Nam ngày 8/5/2002
Các hành vi sau không bị coi là hành vi bán phá giá:
 Hạ giá bán hàng tươi sống
 Hạ giá bán hàng tồn kho do chất lượng giả
m, lạc hậu về hình thức, không phù
hợp với thị hiếu người tiêu dùng.
 Hạ giá bán hàng hoá theo mùa vụ
 Hạ giá bán hàng hoá để khuyến mại theo quy định của pháp luật
 Hạ giá bán hàng hoá trong trường hợp phá sản, giải thể, chấm dứt hoạt động sản
xuất, kinh doanh, thay đổi địa điểm, chuyển hướng sản xuất, kinh doanh.
Điều kiện bán phá giá hàng hoá là phải lũng đoạ
n được mặt hàng đó ở thị trường
trong nước để tránh nguồn hàng nhập khẩu trở lại.
Có thể nói bán phá giá hàng hoá là một trong những biểu hiện trực tiếp lớn nhất
của sự can thiệp của Nhà nước trong lĩnh vực Ngoại thương, đồng thời là thủ đoạn
quan trọng để mở rộng khả năng tiêu thụ hàng hoá trên thị trường ngoài nước. Đặc
đi
ểm của bán phá giá hiện nay là phần lớn do Nhà nước tiến hành và tổn thất do
Ngân sách Nhà nước gánh chịu. 7
1.3. Mục tiêu của bán phá giá
Mục tiêu của bán phá giá hàng hoá là nhằm đánh bại đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh
thị trường tiêu thụ, đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá và cuối cùng là đạt được lợi

tranh, giảm lượng bán và tăng giá bán. Khi tự do cạnh tranh, sau một khoảng thời
gian không dài thị trường không cân bằng, lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm
thoả thuận giảm sản lượng xuống tạo ra mức cân bằng mới của thị trường nhưng
vẫn có lợi nhuận cao hơn cạnh tranh ngang.
Còn đối với các nước xuất khẩu, khi thực hiện hành động bán phá gía nhằm mục
tiêu lợi nhuận, nướ
c xuất khẩu phải hạn chế tối đa nhập khẩu, các doanh nghiệp
trong nước thoả thuận với nhau về giá, nâng mức giá trong nước lên. Mặt khác, họ
xuất khẩu với giá triệt tiêu đối thủ. Sau khi chiếm lĩnh thị trường nước nhập khẩu,
họ sẽ tìm cách thao túng để thu lợi nhuận tối đa.
 Nguyên nhân của việc tăng lợi nhuận khi bán phá giá:
Các doanh nghiệp trong nước đ
ã thoả thuận với nhau để xác định mức sản lượng
từng hãng và xác định mức giá chung trong nước. Khi đó họ sẽ thu được nhiều lãi
trong việc nâng giá bán.
Tăng được số lượng hàng xuất khẩu do giá rẻ hơn tại nước nhập khẩu , tạo điều
kiện cho các hãng này mở rộng sản xuất, tận dụng được hết công suất, máy móc
thiết bị dẫn đến giả
m chi phí, do đó mà bù lỗ cho việc bán phá giá ở nước ngoài.
Khi mọi đối thủ cạnh tranh đã bị đánh bại, họ sẽ lũng đoạn thị trưòng nước nhập
khẩu về mặt hàng được đem bán phá giá và lợi nhuận sẽ lớn hơn gấp nhiều lần.
Một số ví dụ về việc bán phá giá mặt hàng tivi của Nhật tại thị trường Mỹ:
Từ nh
ững năm 1960, các công ty điện tử hàng đầu của Nhật Bản là HITACHI,
SANYO, SHARP và TOSHIBA đã cạnh tranh gay gắt với nhau. Nhưng ngày
10/09/1964, họ đã thoả thuận thống nhất nâng giá bán, quy định sản lượng của mỗi
công ty.
Kết quả của việc thoả thuận nâng giá này là người Nhật phải trả giá 700USD cho 1
chiếc tivi màu trong khi ở Mỹ giá là 400USD/chiếc tivi cùng loại. Các công ty của
Mỹ đã không chịu nổi sự cạnh tranh và đế

thị trường nội điạ của nước nhập khẩu, tri
ệt tiêu được sự cạnh tranh của hàng nội
địa thì các hãng sẽ tìm cách thao túng thị trường nội địa để thu được lợi nhuận tối
đa.
Cũng có thể có một số nước làm ra sản phẩm với giá thành rất thấp do sử dụng lao
động trẻ em, tiền lương thấp và sử dụng lao động của tù nhân làm hàng xuất khẩu.
Việc sử dụng lao động trẻ em ngoài việc mang lại siêu lợi nhuậ
n còn là cách để

10
cạnh tranh với đối thủ cạnh tranh. Nhờ giá nhân công rẻ mạc, người ta có thể hạ giá
thành sản phẩm , xuất khẩu hàng hoá bán phá giá ở nước ngoài.
 Đối với mặt hàng ngoại nhập khẩu, do thu được lợi nhuận siêu ngạch có được từ
trốn thuế nhập khẩu, hàng ngoại sẽ điều tiết và chiếm lĩnh được thị trường với
giá cạnh tranh so với hàng hoá sản xuấ
t trong nước. Ví dụ: hàng vải trên thị
trường Việt Nam, thực tế hàng vải nội chỉ giữ 20% thị phần còn 80 % thị phần
là hàng vải ngoại nắm giữ, trong đó hàng Trung Quốc chiếm 60% thị phần, phần
lớn số vải từ Trung Quốc là do nhập lậu, trốn thuế nên được bán với giá dù chỉ
bằng 1/3- 1/2 hàng sản xuất trong nước.
1.5. Những ảnh hưởng của vi
ệc bán phá giá hàng hoá

Hành động bán phá giá có thể có lợi trong một số trường hợp ,nhưng nếu lạm dụng
quá thì sẽ gây nhiều tác hại đối với nước nhập khẩu cũng như nước xuất khẩu.

1.5.1. Đối với nước xuất khẩu

hoạt động kinh tế.
1.5.2. Đối với nước nhập khẩu
1.5.2.1. Tác động tích cực
Người tiêu dùng có cơ hội để lựa chọn , tiêu dùng những mặt hàng mới, lạ giá cả dễ
chấp nhận.
Đối mặt vớ
i những mặt hàng từ nước ngoài đưa vào với giá rẻ, buộc các dịch vụ
trong nước phải tìm cách cải tiến mẫu mã hàng hóa, đổi mới máy móc thiết bị, nâng
cao chất lượng sản phẩm, tích cực áp dụng công nghệ tiên tiến, tận dụng nguồn
nhân lực để hạ chi phí sản xuất nhằm giữ vững vị trí trên thị trường và thu được lợi
nhuận tối ưu. 12
1.5.2.2. Tác động tiêu cực
Bán phá giá hàng hoá cũng gây ra không ít những khó khăn cho nước nhập khẩu,
nhất là đỗi với các nước đang phát triển, có thị trường hẹp.
Trước hết với người tiêu dùng của nước nhập khẩu họ phải sử dụng những mặt
hàng kém chất lượng, hàng giả, đôi khi cả hàng quá thời hạn sử dụng, không đảm
bảo về an toàn về an toàn thực phẩm, vệ sinh, ả
nh hưởng nghiêm trọng đến sức
khoẻ của người dân.
Các chủ doanh nghiệp, những người kinh doanh do hám lợi, thu được lợi nhuận
cao, do đó tìm mọi cách nhập lậu hàng hoá, trốn thuế gây thất thu cho Ngân sách
Nhà nước. Hơn nữa do không thể cạnh tranh đựơc với hàng nước ngoài nên nhiều
xí nghiệp trong nước bị đình trệ sản xuất, bị phá sản hoàn toàn. Khi đó nó là
nguyên nhân quan trọng gây ra hiện tượng trì trệ, hạn chế t

u tra xã hội học của hội người tiêu dùng Việt Nam tại Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh cho thấy: các nhóm hàng ôtô, xe máy, rượu bia, thuốc lá
của Mỹ, Nhật, Pháp và các nước châu Âu khác chiếm ưu thế. Với nhóm mặt hàng
gia dụng trước năm 1992 hàng Việt Nam chiếm 62%, hàng Mỹ chiếm 15%m các
nước châu Âu chiếm 14%, và 11% là các nước còn lại thì từ năm 1992 trở lại đây
hàng Trung Quốc đã từng bước chiếm chiếm lĩnh trận địa này. Các m
ặt hàng như
đồ chơi trẻ em, hàng dân dụng, xe máy, xe đạp, các giống cây trồng, thuốc trừ sâu
của Trung Quốc cũng xâm nhập mạnh vào thị trừơng nước ta trong thời gian gần
đây.
Sự kiện Trung Quốc gia nhập WTO sẽ làm cho Trung Quốc cạnh tranh mạnh hơn
trong những ngành hiện nay. Trung Quốc họ đang có lợi thế so sánh, trong khi đó
những mặt hàng thuộc nhóm A ( những ngành có hàm lượng lao động cao, chủ yếu
là lao động gi
ản đơn như vải vóc, quần áo giầy dép, dụng cụ lữ hành, dụng cụ du
lịch ,) cũng là lĩnh vực mà Việt Nam có lợi thế so sánh. Do đó Việt Nam sẽ phải
gặp nhiều khó khăn hơn trong cuộc cạnh tranh này, còn Trung Quốc sẽ tìm mọi
biện pháp để thực hiện mục tiêu của mình.
Bên cạnh đó, tình trạng buôn lâụ, trốn thuế ở nước ta ngày càng gia tăng và càng
phức tạp h
ơn. Buôn lậu làm cho hàng ế thừa, hàng kém phẩm chất được bày bán
tràn lan trên thị trường, gây tổn thất nặng nề cho các nhà sản xuất trong nước, gây
thiệt hại về kinh tế và sức khoẻ cho người tiêu dùng.

14
Xét về tổng thể, do sự cạnh tranh không lành mạnh của các hãng nước ngoài, nền
công nghiệp nội địa nước ta đang trong thế suy yếu. Xét cụ thể trong một số ngành
sau:

2.1.1. Ngành dệt may

thông qua việc bán hạ gía các mặt hàng của mình, đặc biệt là mặt hàng vải Trung
Quốc. Giá hàng vải Trung Quốc chỉ bằng 1/3- 1/2 hàng sản xuất trong nước. Một
mét vải siu TrungQuốc giá 12.000- 15.000đ tuỳ theo khổ và màu, trong khi đó vải
siu Long An là 21.000đ.
Loại vải Mousseline Trung Quốc (TQ) hoa màu đủ loại gía chỉ từ 16.000- 18.000đ.
Các loại vải phin, thô, lanh, giá chưa
đến 10.000đ/m. Quần áo TQ giá rất rẻ, lại
thích hợp với tầm vóc người Việt Nam. Một bộ complet tương đối đẹp, nếu mua ở
cửa hiệu sang trọng ở Bắc Kinh giá có thể đến 2triệu đồng, nhưng nếu mua bộ
tương tự ở Việt Nam thì chỉ có vài trăm nghìn.
Hàng vải nhập ngoại đổ bộ vào thị trường Việt Nam qua nhiều con đường: tiều
ngạch, chính ng
ạch,… Điển hình là nhập qua con biên giới phía bắc với Trung
Quốc( đưa vào thị trường Việt Nam 50% tống số lượng vải nhập lậu)
Ngoài ra tình trạng buôn lậu vải bằng đường biển qua các tàu viễn dương, đặc biệt
là qua đường bưu điện cũng đáng báo động.
Hiện nay, các cửa khẩu ở miền Trung và Tây Nam như Lao Bảo,Nội Bài, cũng là
những ngõ vào lớn của vải ngo
ại.
 Các biện pháp bảo vệ thị trường nội đia:
Để bảo vệ vững chắc thị trường nội địa cho mặt hàng dệt may, bảo hộ sản phẩm
trong nước Nhà nước ta cần có các biện pháp:
+ Biện pháp khuyến khích ngưòi VN tiêu dùng hàng trong nước sản xuất.
+ Những chính sách khuyến khích đầu tư vào ngành dệt và ngành sản xuất nguyên
phụ liệu cho ngành may. Đồng thời, Nhà nứơc cần tă
ng cường đầu tư vào các cơ sở
sản xuất này, trang bị những công nghệ hiện đại, tạo ra sự gắn kết giữa dệt và may.
+ Đầu tư vào các cơ sở đào tạo đội ngũ cán bộ và công nhân dệt may, cần có sự
quan tâm hơn nữa về vấn đề thời trang.


doanh bày bán xe đạp nội địa nhãn hiệu VIFIA, LIXEHA, Xuân Hoà hay Thống
Nhất nhưng rất ít người mua.

17
Trong khi nhu cầu xe đạp trong cả nước rất lớn khoảng 500.000- 600.000 xe/năm,
khả năng sản xuất trong nước có thể đáp ứng được, nhưng chúng ta đã nhường
3/4thị phần cho xe đạp nhập từ các nước Nhật, Pháp, Singapor và chủ yếu nhất là
hàng của Trung Quốc. Hàng Trung Quốc đa phần là nhập lậu, trốn thuế, mẫu mã
đẹp và thay đổi liên tục, giá bán rẻ: xe đạp mini TQ giá từ 400-600.000 đ/chiếc, xe
đạ
p địa hình TQ năm 1996: 1,3 triệu đồng/chiếc, sang năm 1997 chỉ có
800.000d/chiếc, chất lượng vẫn thế mà kiểu dáng đẹp hơn, các đại lý bán xe đạp
TQ có thể chịu vốn, do đó bỏ xa hàng Việt Nam.

2.1.2.2. Xe máy
Việt Nam là một nước đang phát triển với thu nhập bình quân đầu người khoảng
400.000đ(năm 2001). Các thành phố lớn của Việt Nam đang trong quá trình phát
triển trong đó các khu vực chính của các thành phố đều
đang được xây dựng, hầu
hết các đường phố ở các thành phố như Hà Nội, Hồ Chí Minh đều rất hẹp. Đó là lý
do tại sao xe máy, xe đạp là những phương tiện phổ biến nhất ở Việt Nam kể từ
những năm 70.
Năm 1999 lượng xe máy tiêu thụ trên thị trường Việt Nam khoảng nửa triệu chiếc,
người ta cho rằng còn lâu nữa mới có thể đạt được một tri
ệu chiếc/năm. Bất ngờ
cuộc “đổ bộ” ào ạt của xe Trung quốc, đến năm 2000 con số này đã lên đến 1,8
chiếc. Năm 2001 lượng linh kiện xe máy nhập khẩu lên đến hơn hai triệu bộ.
Cuộc “đổ bộ” của xe Trung quốc giá rẻ từ năm 1999 đã buộc các hãng xe gắn máy
lớn hạ giá- 51 doanh nghiệp lắp ráp xe Trung quốc dạng IKD đã tạo nên sức ép
kinh tế đáng k

Đến tháng 04/2002 đã xuất hiện loại xe Wave Alpha TQ với mẫu mã, màu sắc
giống hệt của hãng Honda Việt Nam nhưng có giá bán rẻ hơn nhiều. Tại cửa hàng
xe máy của công ty Đức Phương trên đường Lê Văn Việt (quận 9- TP Hồ Chí
Minh), xe Wave Alpha Trung Quốc được bán với giá 7,5 triệu đồng/xe, chủ bán xe
bao giấy tờ và có giấy hải quan chỉ sau 1 ngày.
Như vậy với việ
c bán phá giá xe máy của hãng xe nhập từ Trung quốc đã ảnh
hưởng ít nhiều tới thị trường xe máy nội địa. Cuộc đổ bộ của xe Trung quốc với giá
rẻ đã làm cho nhiều hãng xe của Việt Nam phải điêu đứng một thời gian để tìm
cách trụ vững.

19

2.1.3. Hàng phân bón
Một tình trạng rất mới trong 5 tháng của năm 2002 trên thị trường Việt Nam là
các doanh nghiệp sản xuất phân NPK , nhất là các công ty có vốn đầu tư nước
ngoài đang đứng trước nguy cơ thua lỗ mà nguyên nhân chủ yếu là do phân NPK
chủng loại 16:16:8(NPK16:16:8), nhập khẩu từ Hàn Quốc đang được bán với gía
rất thấp trên thị trường Việt Nam.
Trong nước hiện nay có hai “đại gia” về sản xuất phân NPK 16:16:8 là Công ty liên
doanh phân bón Việt- Nhật (JVF) , công su
ất thiết kế 350.000 tấn phân NPK trong
một năm và công ty kiên doanh phân bón Baconco, cũng có công suất tương tự.
Nhu cầu phân NPK trong nước hiện nay khoảng 1.5 triệu tấn/năm, trong đó có
khoảng 300000- 400000 tấn là phân NPK 16:16:8.
Hơn ba năm trước, khi JVF và Baconco chưa thành lậ,phân NPK 16:16:8 chủ yếu
nhập từ Philippin, khoảng 300000- 350000 tấn/năm. Gần đây do trong nước đã sản
xuất được loại phân này nên lượng nhập khẩu giảm mạnh, chỉ còn 50000- 100000
tấn/n
ăm.

Coca-cola. Công ty liên doanh Coca-cola Ngọc Hồi áp dụng chế độ khuyế
n mại
đến hết tháng 1/1996. Theo đó cứ mua 3 két coca hoặc 3 két sprite được tăng thêm
một két hay mua 5 thùng coca hoặc 5 thùng sprite thì tặng thêm 1 thùng. Nếu tính
ra thì Coca-cola đã hạ giá đến 25%, với mức giá này thì Coca-cola đã làm một cuộc
phá giá.Vì thuế doanh thu nước ngọt lúc bấy giờ là 8%, thuế nhập khẩu hương liệu
là 30%, khó có một giá thành sản xuất rẻ hơn mức giá khuyến mại này.
Một hãng khổng lồ sản xuất ở vài chục nước khác nhau như Coca-cola và Pepsi chỉ

cần mang ít hàng tồn kho tạm thời đưa vào Việt Nam cho không người tiêu dùng
cũng không ảnh hưởng gì đến doanh thu của họ. Muốn đánh gục đối phương họ đã
không làm như vậy vì của cho không sẽ mang tiếng là đồ bỏ đi. Họ đã bán dưới giá
thành sản xuất của các công ty trong nước và mở rộng các đợt khuyến mại liên tục
trị giá hàng tỷ đồng, họ không hề chịu lỗ
bởi vì số hàng này chỉ là số hàng thừa
theo kế hoạc sản xuất trên toàn thế giới mà họ đã thu đủ lợi nhuận.

21
Đối với các hãng liên doanh việc giảm gía bán sản phẩm đến mức thấp hơn giá
thành dẫn đến doanh nghiệp bị lỗ, liên doanh không được chia lời, thực chất chỉ
phía Việt Nam chịu thiệt còn phía nước ngoài vẫn có lãi thông qua việc cung cấp
nguyên liêụ, công nghệ thiết bị với giá cao.
Không thể đứng vững nổi trong cuộc cạnh tranh khôngbình đẳng và không cân sức
này, công ty Tribeco, “con chim đầu đàn” của ngành sản xuất nước ngọt Việt Nam
đang lâm vào tình trạng “hấp hối’. Năng suất năm 1996 giảm 30% đến giữa năm
1997 thì sản lượng đã giảm đến 60% so với những năm trước.

2.2. Thực trạng bán phá giá hàng xuất khẩu của Việt Nam
Trong quan hệ thương mại Quốc tế, cho đến nay, các doanh nghiệp Việt Nam khi
xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài đã bị các doanh nghiệp nước ngoài khởi kiện 8

Hoa kỳ là từ cuộc chiến thương hiệu CAFISH đã làm cho cái tên cá tra, cá basa nổi
tiếng ở thị trường Mỹ. Nếu vụ kiện
được xem xét trên dữ kiện VN thì Mỹ sẽ đưa ra
mức thuế chống phá giá là 191%. Trường hợp VN được xem là nền kinh tế thị
trường thì mức để tính thuế là 144%.
Một điều đáng lưu ý là: nếu coi VN là một nước có cơ chế thị trường, một nước
nào đó có thể xem xét việc đánh thuế chống bán phá giá đối với hàng VN nếu xét
thấy trị giá thông thường của hàng hoá cao hơn giá xuất kh
ẩu bán cho người nhập
khẩu hoặc hàng hoá được bán cho người nhập khẩu với giá thấp hơn tổng chi phí
của hàng hoá. Riêng với trường hợp nhập khẩu từ nước không có nền kinh tế thị
trường mở (kinh tế phi thị trường), nước xuất khẩu có thể lấy mức giá của nước thứ
ba để so sánh khi xác định xem có đánh thuế chống bán phá giá hay không.
Đáng tiếc là cho đến nay, các nước khi tiến hành đ
iều tra nhằm áp dụng thuế chống
bán phá giá đối với hàng VN thường dùng biện pháp so sánh giá xuất khẩu của VN
với giá xuất khẩu của nước thứ ba. Ví dụ như Colombia khi điều tra đã lấy giá gạo
của Việt nam so sánh với giá gạo xuất khẩu của Thái Lan. Điều này là không công
bằng với VN.
Thực tế cho thấy, những mặt hàng xuất khẩu của VN bị kiện bán phá giá hầu như

những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu không cao (trừ cá basa), hoặc không phải
là mặt hàng xuất khẩu chiến lược nên các doanh nghiệp VN chưa thực sự quan tâm
đến vấn đề này.

232.3. Tác hại của việc bán phá giá hàng hoá đối với nền kinh tế nước ta
2.3.1. . Những thiệt hại về mặt kinh tế

phá sản của một số xí nghiệp đã gây ra tình trạng thất nghiệp gia tăng dẫn đến thu
nhập giảm, cùng với nó là các tệ nạn xã hội cũng gia tăng.
Người tiêu dùng phải sử dụng những loại hàng hoá kém phẩm chất, quá hạn, hàng
giả, thậm chí hàng độc hại từ n
ước ngoài nhập vào gây nguy hại cho sức khoẻ của
người tiêu dùng.
Bán phá giá, thu được lợi nhuận lớn, do đó mà tình trạng buôn lậu, trốn thuế, gian
lận thương mại ngày càng gia tăng. Một số cán bộ có chức có quyền do hám lơị đã
tiếp tay cho bọn tội phạm làm tha hoá đạo đức, phẩm chất nghề nghiệp, gây ra
những thiệt hại lớn đối với xã hội. Tiêu biểu là vụ Tân Trường Sanh ở thành ph

Hồ Chí Minh năm 1997 đã tiếp tay cho bọn buôn lậu, với trị giá hàng lên tới 25 tỷ
đồng, bọn tội phạm đã sử dụng kho hàng của quân đội để cất giữ hàng hoá.
Đứng trước những thiệt hại này, một số câu hỏi cần thiết phải đằt ra là chúng ta
phải có phương án “chiến đấu” như thế nào với việc hàng ngoại bán phá giá hay chỉ
có một điệp khúc “đề ngh
ị Nhà nứơc cấm nhập hàng ngoại”?. Trong khi đó đến
năm 2006, thời hạn thực hiện giảm thuế theo Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu
lực chung (CEPT) để thiết lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) có hiệu lực
chẳng còn xa.

Chương 3:
Một số kiến nghị giải quyết tình trạng bán phá giá ở
Việt Nam


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status