Vụ kiện bán phá giá hàng thuỷ sản VN tại Mĩ. - Pdf 11

Lời cam đoan
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ hớng dẫn nhiệt tình của thạc sĩ Mai
Thế Cờng để tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành bản đề án này. Với lòng
biết ơn của mình tôi xi gửi tới các thầy cô giáo đã giảng dạy tôi trong những
năm học vừa qua.
Bản đề án của tôi hoàn thành dựa trên sự nỗ lực của bản thân và sự giúp
đỡ của giáo viên hớng dẫn. Trong quá trình thực hiện không có bất kỳ sự sao
chép hay đánh cắp bản thảo nào. Những lời trên đây đều là sự thật, nếu có bất
kỳ hành vi gian lận không trung thực nào tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Sinh viên
Hoàng Minh Toán
Lời mở đầu
Thơng mại quốc tế ngày càng phát triển đặc biệt là trong thập kỷ vừa qua,
nó đóng vai trò lớn đối với các nền kinh tế trên thế giới, mở ra nhiều cơ hội cho
tất cả các doanh nghiệp và ngời tiêu dùng toàn cầu. Tuy nhiên bên cạnh những
thuận lợi, thơng mại quốc tế cũng đem lại không ít khó khăn, thách thức đối với
các doanh nghiệp khi thâm nhập thị trờng quốc tế, mà các doanh nghiệp Việt
Nam không là ngoại lệ.
Thông qua vụ kiện bán phá giá tôm của các doanh nghiệp Việt Nam trên
đất Mỹ giúp chúng ta có cách nhìn nhận xác thực hơn về tình hình thơng mại
quốc tế hiện nay. Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm đồng thời nhìn nhận nghiêm
túc về chính sách thơng mại của Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế. Vì
lý do đó mà tôi chọn đề tài: "Vụ kiện phá giá Việt Nam tại Mỹ"
phần I
Khái quát về xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào Mỹ
I. Tình hình sản xuất kinh doanh thủy sản tại Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là nớc nhập khẩu thuỷ sản lớn thứ 2 trên thế giới sau Nhật Bản
với trị giá nhập khẩu trên 8 tỉ USD/năm. Năm 2000 Hoa Kỳ nhập khẩu thuỷ sản
từ 130 quốc gia trên thế giới với khối lợng 1,6 triệu tấn, giá trị đạt khoảng 10 tỉ
USD. Ngời tiêu dùng Hoa Kỳ sử dụng xấp xỉ 8% tổng sản lợng thuỷ sản của thế
giới trong đó hơn một nửa là nhập khẩu. Hoa Kỳ có khoảng 1300 nhà máy chế

triệu USD.
6. Cá hồi nguyên con tơi và ớp lạnh
Hoa Kỳ đứng thứ 2 thế giới về khai thác cá hồi với sản lợng 550 tấn năm
1995, nhng ngời tiêu dùng trong nớc rất a chuộng cá hồi Đại Tây Dơng nuôi
nhân tạo ở Nauy, Canada và Chi Lê nên mỗi năm họ phải nhập khẩu 60.000 tấn
cá hồi trị giá 280 triệu USD.
7. Điệp tơi và ớp lạnh
Hoa Kỳ là nớc tiêu thụ điệp tơi lớn thứ 3 thế giới sau Trung Quốc và Nhật
Bản. năm 1995 sản lợng nhập khẩu 26.000 tấn trị giá 216 triệu USD.
Nhìn chung, do thói quen nên cơ cấu mặt hàng thuỷ sản nhập khẩu vào
Hoa Kỳ rất đa dạng, phong phú bao gồm nhiều loại thuỷ sản nớc mặn, nớc ngọt,
nguyên liệu hoặc đã qua chế biến. Do sức mua lớn nên khối lợng nhập khẩu
thuỷ sản vào thị trờng này rất lớn và mức tăng trởng vẫn duy trì ở mức cao. Các
doanh nghiệp đánh bắt sản xuất thuỷ sản Việt Nam có thể tăng cờng đầu t để
nâng cao sản lợng phục vụ cho xuất khẩu.
III. Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trờng Hoa Kỳ
Năm 1994, xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang Hoa Kỳ mới đạt 5,8
triệu USD. Sau 5 năm 1999 con số này đã tăng gần 20 lần với doanh số 108
triệu USD chiếm 1,3% thị phần nhập khẩu thuỷ sản của Hoa Kỳ và chiếm 10%
trị giá xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Năm 2000 có 120 doanh nghiệp có
hàng thuỷ sản xuất khẩu sang Hoa Kỳ với doanh số 300 triệu USD. Hoa Kỳ trở
thành thị trờng tiêu thụ thuỷ sản lớn thứ 2 của Việt Nam sau Nhật Bản. Mức
tăng trởng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang Hoa Kỳ rất cao vào năm
2000, tăng 2,3 lần so với 1999. Năm 2001 mặc dầu nền kinh tế Hoa Kỳ rất khó
khăn, đặc biệt sau sự kiện 11/9, song xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang
Hoa Kỳ vẫn có sự tăng trởng lớn với khối lợng 71 nghìn tấn sản phẩm, đạt
doanh số 489 triệu USD, tăng so với năm 2000 tơng ứng là 86,6% và 62,4%
chiếm 27,52% tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản và trở thành thị trờng xuất khẩu
thuỷ sản lớn nhất của Việt Nam trong năm này.
Những mặt hàng thuỷ sản chủ yếu của Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ

động song phơng, đa phơng về tham gia vào các tổ chức quốc tế nhằm tranh thủ
những lợi ích mà toàn cầu hoá mang lại. Đây là một trong những nguyên nhân
quan trọng giúp cho vn đạt đợc nhiều thành tựu trong hoạt động xuất khẩu hàng
hoá, dịch vụ nói riêng. Tuy nhiên, trong quá trình tự do hoá thơng mại, việc
hàng rào thuế quan ngày càng cắt giảm thì các biện pháp phi thuế quan ngày
càng tăng điển hình là thuế chống bán phá giá. Vì vậy, tình trạng hàng hoá xuất
khẩu của Việt Nam bị các nớc nhập khẩu vận dụng thuế chống bán phá giá chủ
yếu là: mì chính, tỏi, giầy dép, tôm cá. Tính đến năm 2001 Việt Nam đã gặp
phải các vụ kiện chống bán phá giá nh sau:
Năm Đối tác thơng mại Mặt hàng Phán quyết cuối cùng
1994 Columbia Gạo Không đánh thuế mặc dù bán phá giá
mức 9,07% vì không gây tổn hại cho n-
ớc này
1998 Liên minh châu Âu Mì chính Đánh thuế chống bán phá giá mức
16,8%
Giầy dép Không đánh thuế vì thị phần nhỏ hơn so
với Trung Quốc, Inđônêxia và Thái Lan
200 Ba Lan Bật lửa Đánh thuế chống phá giá mức 0,09%
EURO/chiếc
2001 Canada Tỏi Đánh thuế chống phá giá 1,48 CAD/kg
(Nguồn: Bộ Thơng mại)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status