Tài liệu ĐỀ ÁN: Những đổi mới trong công tác KHH ở Việt Nam và những phương hướng tiếp tục đổi mới công tác KHH ở Việt Nam. - Pdf 99


………… o0o…………

ĐÈ ÁN TỐT NGHIỆP Những đổi mới trong công tác
KHH ở Việt Nam và những
phương hướng tiếp tục đổi mới
công tác KHH ở Việt Nam
NHÓM X
LỜI MỞ ĐẦU

Một thời gian khá dài trước đây, Việt Nam đã từng duy trì một nền kinh tế
tập trung bao cấp với sự điều tiết trực tiếp những hoạt động kinh tế thông qua quá
trình đưa ra những quyết định mang tính pháp lệnh từ trung ương. Các hoạt động

gian qua.
NHÓM X
Chương 3: Phương hướng tiếp tục đổi mới công tác KHH ở nước ta
trong thời gia tới.
Phần III: Kết luận
Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn của thầy giáo Ngô Thắng
Lợi, đồng cảm ơn thầy Phạm Thanh Hưng đã giúp đỡ nhóm tác giả trong quá trình
viết bài. Mặc dù đã có nhiều cố gắng xong không tránh khỏi những thiếu sót, nhóm
tác giả rất mong có được sự đóng góp ý kiến từ phía bạn đọc. Nhóm tác giả xin
chân thành cảm ơn.

NHÓM X
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ CỦA VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI CÔNG TÁC KẾ HOẠCH HOÁ Ở VIỆT
NAM.

mỗi kỳ kế hoạch thường được kết thúc sớm hơn dự kiến và thay thế bằng kỳ kế
hoạch mới; các kế hoạch thường gối đầu lên nhau. Mô hình KHH này thể hiện tính
NHÓM X
năng động, nhạy bén và đáp ứng được sự thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế thị
trường.
KHH kinh tế của Nhật Bản chú trọng vạch ra các biện pháp chính sách mà
Chính phủ định sử dụng để quản lý nền kinh tế xét từ góc độ phát triển dài hạn.
Còn các kế hoạch phát triển chủ yếu là kế hoạch định hướng, tạo những tiền đề cho
sự phát triển của các loại hình kinh tế.
Với mô hình KHH kiểu “ cuốn chiếu”, Nhật Bản đã đạt được nhiều thành
công trong quá trình phát triển kinh tế, và đây cũng là bài học kinh nghiệm quý báu
cho Việt Nam trong việc đổi mới công tác KHH thời gian tới.
KHH ở các nước đang phát triển: trong những thập niên đầu tiên của quá
trình phát triển, hầu hết các nước đang phát triển đã coi kế hoạch hoá quốc gia trực
tiếp là cơ chế tổ chức duy nhất giúp họ vượt qua những trở ngại to lớn đối với sự
phát triển và duy trì tăng trưởng cao.
Nhưng đến thập niên 60, thì các nước đang phát triển lâm vào thời kỳ khủng
hoảng KHH. Sự khủng hoảng này đã dẫn đến sự thay đổi lớn, căn bản trong công
tác KHH kể từ thập niên 70: Nội dung của kế hoạch ngày càng đầy đủ hơn, bao
hàm không chỉ về kinh tế mà còn cả xã hội, môi trường; Bảo đảm tính chất thực tế
hơn của hệ thống KHH; Quy trình lập kế hoạch cũng được thay đổi theo hướng
tăng cường chất lượng của hệ thống số liệu, thông tin, tăng cường mối quan hệ giữa
các nhà kế hoạch với các nhà quản lý và các nhà chính trị. Với sự thay đổi trên thì
hệ thống KHH ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển nền kinh
tế của các nước này.
1.2.Cơ sở thực tiễn của vấn đề đổi mới công tác KHH ở Việt Nam.
Nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế, chúng ta thấy rằng: Vấn đề Nhà
nước và thị trường là mối quan tâm hàng đầu của nhiều nhà kinh tế trong nhiều
thập kỷ qua, không những ở nước ta mà còn ở nhiều nước trên thế giới, vì muốn
tìm ra mô hình quản lý kinh tế vĩ mô thích hợp và có hiệu quả hơn.
NHÓM X
CHƯƠNG 2:
QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI KẾ HOẠCH HOÁ Ở VIỆT NAM

2.1. Thực trạng đổi mới công tác kế hoạch hoá ở Việt Nam.
Kế hoạch hoá trong cơ chế cũ được coi là công cụ chủ yếu nhất để quản ký
kinh tế. Thông qua hệ thống các cơ quan kế hoạch nhà nước từ trung ương đến địa
phương để xây dựng kế hoạch, giao chỉ tiêu kế hoạch cho các cơ sở kinh tế, điều
hành, theo dõi và xét duyệt việc hoàn thành kế hoạch hoá mà nhà nước có thể chỉ
huy được nền kinh tế. Việc thực hiện cơ chế đó đến đầu thập kỷ 80 đã trở thành lực
cản đối với sự phát triển kinh tế.
Công tác kế hoạch hoá trong thời kì này được cải tiến dần theo hướng
chuyển từ hoạch hoá tập trung mang tính chất pháp lệnh trực tiếp sang kế hoạch

trọng nhất; Phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ; Tăng trưởng kinh tế
phải gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hoá, bảo vệ môi trường;
Dân chủ hoá đời sống xã hội; Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế xã hội với ổn
định và đổi mới về chính trị, tăng cường củng cố quốc phòng an ninh, giữ vững an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội .
Kết quả đạt được là nền kinh tế có bước phát triển về lực lượng sản xuất.
Quan hệ sản xuất và hội nhập kinh tế quốc tế đời sống vật chất, tinh thần của nhân
đân ta được cải thiện rõ rệt, văn hoá xã hội không ngừng tiến bộ; Thế và lực của đất
nước hơn hẳn 10 năm trước, khả năng tự chủ được nâng lên, tạo thêm điều kiện đẩy
mạnh CNH - HĐH đất nước.
Nguyên nhân của những kết quả này là đường lối đổi mới đúng đắn của
Đảng cùng những cố gắng và tiến bộ trong công tác quản lý của nhà nước đã phát
huy được nhân tố có ý nghĩa quyết định là ý chí kiên cường, tính năng động, sáng
tạo và nỗ lực phấn đấu của nhân dân ta.
Chiến lược này được điều chỉnh thông qua đại hội Đảng lần thứ VIII
(1996) với trọng tâm đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước. Đây là sự mở đầu giai đoạn
áp dụng phối hợp chiến lược với quy hoạch, giữa quy hoạch với kế hoạch trung hạn
và ngắn hạn trong hệ thống kế hoạch hoá. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đề
ra mục tiêu tăng trưởng kinh tế phù hợp có nội dung đáp ứng được yêu cầu của
công cuộc đổi mới đất nứơc, phát huy tiềm lực trong nước và thu hút nguồn lực bên
ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các chính sách kinh tế phù hợp với
điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2004) đã đề ra chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội 10 năm 2001-2010 với mục tiêu tổng quát là: Đưa nước ta thoát
khỏi tình trạng kém phát triển; Nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần
của nhân dân; Tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công
nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường, thể
NHÓM X
chế kinh tế thị trường định hướng XHCN được hình thành về cơ bản; Vị thế của

Nhìn chung công tác quy hoạch đã có những cố gắng và chuyển biến bước
đầu, đã gắn được mục tiêu chiến lược vào nội dung quy hoạch, xác định được tiềm
năng, định hướng phát triển cho từng vùng, từng địa phương. Tài liệu quy hoạch đã
bước đầu giúp cho các cấp lãnh đạo ở trung ương và địa phương xác định mục tiêu,
NHÓM X
nhiệm vụ và tăng cường sự chỉ đạo phát triển KT-XH ở từng địa phương cũng như
cả nước.
Công tác phân vùng quy hoạch đã có sự đổi mới và phát triển từ thấp đến
cao. Lúc đầu, chúng ta chia cả nước thành bốn vùng và sau đó đã được thay đổi và
chia cả nước thành bẩy vùng.
Sự đổi mới trong công tác quy hoạch là một trong những điểm đổi mới
trong công tác làm kế hoạch ở nước ta. Từ đó góp phần không nhỏ vào sự phát triển
kinh tế của đất nước, cũng như sự phát triển kinh tế của chính vùng đó thông qua
thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
2.1.3. Về công tác kế hoạch phát triển.
Kế hoạch phát triển là sự cụ thể hoá của chiến lược và quy hoạch phát
triển, là một công cụ định hướng được thể hiện bằng hệ thôngs các chỉ tiêu mục
tiêu, các chỉ biện pháp và các giải pháp chính sách cơ bản áp dụng trong một
khoảng thời gian nhất định.
2.1.3.1. Chuyển dần trọng tâm sang KHH định hướng phát triển năm
năm.
Trên cơ sở chiến lược phát triển KT-XH và quy hoạch phát triển, các kế
hoạch năm:1991-1995 và 1996-2000 đã được xây dựng vơí những thay đổi lớn về
nội dung như: tăng cường KHH vĩ mô; Từng bước xoá bỏ KHH mệnh lệnh và giảm
đến mức tối thiểu các chỉ tiêu pháp lệnh, chuyển sang KHH định hướng, chú ý hơn
đến các chỉ tiêu trên các lĩnh vực xã hội, khoa học và công nghệ; Đã có nhiều cố
gắng xây dựng và điều hành đảm bảo các cân đối lớn trong KHH giá trị; Xây dựng
và thực hiện các chương trình dự án quốc gia; Chú trong xây dựng cơ sở hạ tầng
KT-XH; Mở rộng quan hệ đối ngoại và hợp tác quốc tế.
Phương pháp xây dựng và quản lý kế hoạch năm năm bước đầu có sự đổi

định hướng xây dựng kế hoạch.
Tháng 8 tới tháng 9: các bộ ngành địa phương xây dựng kế hoạch và
Bộ KH & ĐT tiến hành tổng hợp bản kế hoạch KTQD.
Tháng 10 tới tháng 11: bản kế hoạch tổng hợp KTQD được trình,
duyệt qua chính phủ, ban chấp hành trung ương Đảng và Quốc hội duyệt.
Tháng 12: hoàn chỉnh và đưa kế hoạch xuống các cấp thực hiện.
2.1.3.2: Đổi mới hệ thống chỉ tiêu kế hoạch.
Hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh đã được rút gọn đáng kể chỉ còn chỉ tiêu thu, chi
ngân sách nhà nước, phân bổ vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc về nguồn vốn ngân
sách nhà nước. Xoá bỏ việc giao chỉ tiêu pháp lệnh về sản xuất và chỉ duy từ một
số chỉ tiêu về lưu thông vật tư, hàng hoá quan trọng nhằm ổn định cung cầu.
Phần lớn các chỉ tiêu kế hoạch hiện nay là chỉ tiêu giá trị, các chỉ tiêu kế
hoạch hiện vật nói chung đã được giảm bớt đáng kể đồng thời duy trì một số cân
đối hiện vật thiết yếu. Hệ thống cân đối hiện vật thiết yếu như xăng dầu, lương thực
đã tỏ ra là cần thiết cho ổn định kinh tế xã hội, các bảng cân đối giá trị ngày càng
được mở rộng và nâng cao.
Ngoài xu hứơng "giá trị hoá ", trọng tâm của các chỉ tiêu kế hoạch đang
chuyển dần sang điều tiết kinh tế vĩ mô và các chỉ tiêu xã hội .
NHÓM X
2.1.3.3. Đổi mới quy trình lập kế hoạch:
Trong thời gian qua, quy trình lập kế hoạch đã có nhiều thay đổi căn bản.
Hình thức giao số kiểm tra đã được thay thế bằng việc cung cấp thông tin cần thiết
nhằm hướng các ngành, địa phương và đơn vị cơ sở xây dựng, tổng hợp kế hoạch
theo hướng mục tiêu chung của nhà nước. Bên cạnh việc cung cấp những thông tin
hướng dẫn, Bộ kế hoạch và đầu tư còn cử các đoàn đến các địa phương để hỗ trợ,
giúp đỡ và giải quyết các vướng mắc mà các địa phương gặp phải trong khi xây
dựng kế hoạch. Quy trình lập kế hoạch mới đã hạn chế sự áp đặt hành chính chủ
quan của cấp trên với cấp dưới, phát huy được tính chủ động sáng tạo của các
ngành, các cấp chính quyền địa phương cũng như doanh nghiệp trong việc lập và
thực hiện kế hoạch .

Việc điều hành của chính phủ trong qúa trình thực hiện mục tiêu kế hoạch
hàng năm đã có hiệu quả và tác dụng thiết thực, kịp thời xử lý những diễn biến bất
thường ở trong nước và quốc tế, góp phần quan trọng cho sự ổn định kinh tế đất
nước .
2.2. Những vấn đề còn tồn tại trong quá trình đổi mới công tác kế hoạch
hoá ở Việt Nam:
Mặc dù việc đổi mới KHH trong thời gian qua có tiến bộ đáng kể nhưng do
nhiều lý do, kết quả của đổi mới KHH còn hạn chế, thậm chí cả ở trung ương và địa
phương xu hướng giữ lại hoặc trở lại KHH kiểu cũ vẫn còn khá mạnh, ngay trong
một bộ phận của nhà nước và một phần dư luận của công chúng không khí bao cấp
còn nặng.
Những hạn chế chủ yếu là:
2.2.1. Về những cơ sở lý luận và phương pháp luận cho việc đổi mới công
tác KHH:
Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, chúng ta chưa xây dựng được một
cơ sở lý luận và phương pháp luận về KHH phù hợp với thực tế đổi mới của đất
nước, do vậy không khỏi lúng túng khi thiết kế nội dung kế hoạch cũng như
phương thức điều hành kế hoạch .
Vai trò của nhà nước với tư cách là người điều tiết vĩ mô nền kinh tế nhiều
khi bị nhầm lẫn với vai trò nhà nước là chủ đầu tư đã dẫn tới kết quả đó là nội dung
kế hoạch còn nặng về phân bổ đầu tư nhà nước mà chưa coi trọng đúng mức việc
vận dụng chính sách để huy động các nguồn lực từ các thành phần kinh tế khác
cũng như nguồn lực từ nước ngoài. Vì thế, KHH chưa bao quát, chưa phát huy hiệu
lực đầy đủ đvới tổng thể nền kinh tế .
Công tác kế hoạch chỉ được quan tâm đến nhiều ở cấp trung ương, trong khi
bộ máy kế hoạch không đủ khả năng có được hệ thống thông tin giám sát ở mọi cấp
từ cơ sở, do vậy việc thực hiện nhiều khi diễn ra sai lệch với ý đồ của kế hoạch .
Mối quan hệ giữa bộ KH&ĐT với các bộ khác chưa được tăng cường và đổi
mới kịp thời để đáp ứng yêu cầu đổi mới chung của nền kinh tế .
2.2.2. Về nội dung phương pháp KHH:

Sự can thiệp trực tiếp thường xuyên của các cơ quan nhà nước nhiều khi lại
làm giảm tính ổn định của các chính sách và gây khó khăn cho các nhà kinh doanh.
Việc xây dựng quy hoạch ở nhiều địa phương đạt chất lượng chưa cao, tính
thực tế thể hiện chưa rõ nét. Sự phối hợp giữa trung ương và địa phương trong công
tác quy hoạch còn kém đã làm cho nhiều địa phương làm lại quy hoạch mặt bằng
của mình.
NHÓM X
Nhiều chương trình quốc gia chưa được xây dựng chu đáo, không xác định
rõ mục tiêu, đối tượng cụ thể được hưởng lợi; Chưa có cơ chế phù hợp cho việc tổ
chức thực hiện, kiểm tra, giám sát và đánh giá cụ thể. Số lượng chương trình quá
nhiều, chồng chéo cả về đối tượng hưởng lợi và địa bàn thực hiện. Trong khi tính
“lồng ghép” của các chương trình chưa cao thì xu hướng “chia đều” đã làm giảm
đáng kể hiệu quả của các chương trình.
2.2.4. Về cơ chế điều hành xã hội :
Mọi việc trong công tác xây dựng, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát và
đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch hầu như nằm trong tay chính phủ và một số
cơ quan tổng hợp, vì vậy khả năng điều hành cần được tăng cường thích đáng, nếu
không thì tính khả thi một số mục tiêu sẽ bị hạn chế.
Cơ chế điều hành cân đối một số sản phẩm chủ yếu, mà thực chất là cân đối
hiện vật đã tỏ ra có giới hạn rõ rệt nhất là trong xuất khẩu và kinh tế đối ngoại.
Tình hình thế giới và khu vực đang và sẽ diễn biến phức tạp hơn nhiều trong
thời gian tới đòi hỏi công tác KHH, đặc biệt là khâu điều hành kế hoạch phải linh
hoạt hơn, đưa ra các quyết sách kịp thời, phù hợp trên cơ sở những luận cứ khoa
học và thực tiễn xác đáng.
2.2.5. Về thông tin và dự báo:
Thực tế đã chứng minh đó là có được thông tin kịp thời và chính xác là một
yếu tố quyết định lớn đến thành công.
Tuy vậy nhưng hệ thông thông tin hiện nay của ta còn rất nhiều hạn chế . Đó
là:Thứ nhất, các thông tin là không thống nhất. Do mỗi nơi đều có một cơ quan thu
thập, xử lý và cung cấp thông tin riêng do đó dẫn tới việc tổng hợp thông tin này

nhiều năm, làm đứt mối liên hệ khách quan giữa sản xuất kinh doanh với thị
trường.
Bộ máy quản lý vẫn rất cồng kềnh, nhiều tầng, nấc. Đây là “miếng đất ” nảy
sinh lối quản lý hành chính quan liêu tham nhũng và là gánh nặng đối với các đơn
vị kinh tế cơ sở. Trong những năm vừa qua, Việt Nam đã tích cực thực hiện tinh
giảm biên chế gián tiếp, đổi mới bộ máy tổ chức, thực hiện cải cách hành chính
nhưng kết quả chưa được là bao.
Thứ hai, Đội ngũ cán bộ lập kế hoạch có trình độ chưa cao và chưa nhạy bén
với tình hình thực tế. Đội ngũ cán bộ đông đảo hiện nay ở các cấp , các ngành có
nhiều người tới nay không đủ khả năng đổi mới tư duy và phương pháp công tác
cho dù có được đào tạo lại. Họ không nhận thấy được sự lạc hậu của mình trong
tiến trình đổi mới và xây dựng các kế hoạch mới. Còn một bộ phận khác giữ cương
vị quan trọng trong quản lý nhưng do chưa được đào tạo nên kém thích ứng với cơ
chế quản lý mới.
Thứ ba, một trong những công cụ quản lý nền kinh tế vĩ mô là xây dựng các
kế hoạch định hướng. Nhưng cho tới nay, các kế hoạch ngắn hạn , trung han và dài
hạn vạch ra vẫn còn mang nặng tính hiện vật. Một số chỉ tiêu về nguồn lực , nhất là
nguồn lực từ bên ngoài còn được xây dựng trên tư duy chủ quan. Việc phân bổ vốn
ngân sách và vốn tín dụng đầu tư xây dựng cơ bản vẫn theo bài bản chia phần,
NHÓM X
“xin” và “cho”, ham quy mô lớn, ít chú ý đến việc lựa chọn phương án đầu tư,
phương án kỹ thuật sao cho có hiệu quả nhất.
Thứ tư, trong xây dựng các chiến lược phát triển KT-XH 10 năm có nội
dung bao gồm quá nhiều các chương trình, nhiều khi các chương trình là chồng
chéo lên nhau, sự lồng ghép giữa các chương trình còn hạn chế, đối tượng thụ
hưởng chưa được xác định cụ thể đã dẫn tới việc thực hiện chiến lược phát triển đạt
hiệu quả chưa cao.
Thứ năm, Do nền kinh tế có xuất phát điểm thấp từ một nước nông nghiệp
lạc hậu, sản xuất nhỏ là phổ biến đã dẫn tới cơ chế điều tiết chưa theo kịp tiến trình
đổi mới, cùng với những năm dài áp dụng KHH tập trung cao độ, phân phối hiện

theo định hướng nhà nước mong muốn. Đối với các thành phần kinh tế khác, thì kế
hoạch không có tính áp đặt, mà thông qua các biện pháp chính sách thống nhất với
lợi ích để khuyến khích họ tự nguyện hành động theo hướng mục tiêu kế hoạch đã
đặt ra. Như vậy, muốn các doanh nghiệp ứng xử theo kế hoạch của nhà nước thì kế
hoạch hoá và chính sách phải phù hợp với lợi ích của doanh nghiệp.
Như vậy, đổi mới kế hoạch hoá phải ăn khớp với đổi mới cơ chế quản lý
kinh tế nói chung, phù hợp với quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường
theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc sử dụng công cụ kế hoạch hoá phải phù
hợp với cơ chế thị trường, phải đảm bảo phân định giữa quản lý nhà nước và quản
lý kinh doanh ở các doanh nghiệp nhà nước. Công tác điều hành kế hoạch phải
được thực hiện thông qua những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô là chủ yếu, phối hợp
sử dụng những biện pháp gián tiếp và biên pháp trực tiếp.
3.1.2. Kế hoạch hoá trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá và hội nhập quốc tế
Nhân tố quyết định thành công và hiệu quả của công nghiệp hoá, hiện đại
hoá là khoa học và công nghệ. Tốc độ phát triển công nghệ càng cao, số lượng sản
phẩm mới, công nghệ mới ngày càng nhiều đã đặt ra một nhiệm vụ quan trọng cho
công tác kế hoạch hoá la phải xây dựng những chính sách chuyển giao công nghệ
thuận lợi, tìm ra được hướng “đi tắt, đón đầu” giúp cho nền kinh tế có tốc độ tăng
trưởng cao, ổn định, rút ngắn khoảng cách với các nước tiên tiến.
Kế hoạch hoá phải đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế
phù hợp với xu thế hội nhập, toàn cầu hoá đang ngày càng gia tăng đối với nền
kinh tế Việt Nam. Trong thời gian trước mắt, việc hình thành những chính sách
kinh tế để ứng phó với cuộc khủng hoảng trong khu vực là một nhiệm vụ cấp bách
của công tác kế hoạch hoá.
Cân bằng cán cân thanh toán là một trong bốn mục tiêu quan trọng nhất của
chinh sách kinh tế. Quá trình phát triển trong những năm qua đã để lại một số vấn
đề cần phải giải quyết ngay như: các khoản nợ nước ngoài, tỷ lệ thâm hụt cán cân
vãng lai tương đối cao… Tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế của nền kinh tế
Việt Nam diễn ra trong bối cảnh khủng hoảng tài chính khu vực đã làm cho những

- Tập trung sức tạo việc làm: Phương hướng quan trọng nhất là nhà nước
cùng toàn dân ra sức đầu tư phát triển, thực hiện tốt kế hoạch và các chương trình
kinh tế – xã hội. Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân, mọi nhà đầu
tư mở mang ngành nghề, tạo nhiều việc làm cho người lao động. Mọi công dân đều
được tự do hành nghề, thuê mướn nhân công theo pháp luật. Tiếp tục phân bố lại
dân cư trên địa bàn có tính chiến lược về kinh tế , an ninh – quốc phòng. Mở rộng
kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu lao động. Giảm đáng kể tỉ lệ thất nghiệp ở
thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn.
- Thực hiện xóa đói, giảm nghèo: Thực hiện tốt chương trình xoá đói giảm
nghèo, nhất là đối với vùng căn cứ cách mạng, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Xây
NHÓM X
dựng và phát triển quỹ xoá đói, giảm nghèo bằng nhiều nguồn vốn trong và ngoài
nước; quản lý chặt chẽ, đầu tư đúng đối tượng và có hiệu quả. Tổ chức tốt đời sống
xã hội trên từng địa bàn để trong điều kiện thu thập bình quân đầu người còn thấp
vẫn tạo được một cuộc sống khá hơn cho nhân dân.
3.1.4. Kết hợp kế hoạch hoá theo ngành với kế hoạch hoá theo địa phương
và vùng lãnh thổ
Kế hoạch hoá định hướng phát triển kinh tế – xã hội có một nội dung rất cơ
bản là sự thay đổi và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, kể cả cơ cấu ngành và cơ cấu
vùng lãnh thổ. Từ kinh nghiệm phát triển, có thể rút ra một số kết luận sau đây về
chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Một là, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu ngành công
nghiệp nói riêng, là một quá trình tiến hoá tuần tự mang tính nội tai phải trải qua
nhiều giai đoạn. Những tác động của kế hoạch hoá chỉ có thể đẩy nhanh hoặc rút
ngắn quá trình chuyển dịch cơ cấu, chứ không thể bỏ qua một giai đoạn nào.
Hai là, trong thời kỳ toàn cầu hoá, kế hoạch hoá chuyển dịch cơ cấu kinh tế
của quốc gia chủ yếu vẫn phải căn cứ vào điều kiện, tiềm năng, kỹ năng và lợi thế
hiện tại. Với cách nhìn như trên, nhà nước cần đặc biệt lưu ý và ưu tiên hỗ trợ
những ngành trọng điểm của nền kinh tế những ngành có tỷ trọng lớn và tốc độ
phát triển cao trong GDP, trong tổng số lao động sử dụng và trong tổng kim ngạch

hành tầm vĩ mô.
Hai là, tiếp tục xây dựng chiến lược 10 năm 2001-2010 và rà soát lại các quy
hoạch phát triển tổng thể nền kinh tế, quy hoạch các vùng kinh tế trọng điểm đã
được thông qua cho phù hợp với yêu cầu mới, xu thế phát triển và hội nhập kinh tế
trong vùng và các nước.
Ba là, tổ chức xây dựng các chương trình , dự án phát triển, có hiệu quả để
có thể khai thác, sử dung có hiệu quả nguồn tài nguyên, nhân lực và các lợi thế so
sánh của nước ta, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn bên ngoài theo định hướng
của kế hoạch.
Bốn là, để thực hiện chức năng chủ yếu của kế hoạch hoá là thúc đẩy sự hình
thành cơ cấu hợp lý, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững, phải
cải tiến nội dung xây dựng kế hoạch hàng năm một cách thiết thực, giảm những
khâu trung gian, giữ vững cân đối chủ yếu, nhất là cân đối giá trị, đồng thời từng
bước chuyển dần trọng tâm sang kế hoạch hoá phát triển kinh tế – xã hội 5 năm với
nội dung bao quát toàn bộ hoạt động của các thành phần kinh tế, xác định hệ thống
các mục tiêu kinh tế vĩ mô, các yêu cầu tăng trưởng kinh tế, các cơ cấu và mối quan
hệ hợp lý của nền kinh tế.
Năm là, góp phần vào việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm
tạo ra môi trường kinh tế vĩ mô ổn định và kích thích tất cả các thành phần kinh tế
phát triển với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.
3.2. Một số giải pháp đổi mới kế hoạch hoá kinh tế trong thời gian tiếp
theo:
3.2.1.Đổi mới công tác xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội:
NHÓM X
Kế hoạch hoá là một quá trình liên tục, bao gồm chiến lược phát triển kinh tế
– xã hội, quy hoạch phát triển, kế hoạch định hướng phát triển kinh tế – xã hội 5
năm, kế hoạch hàng năm và chỉ đạo, điều hành thực hiện.
Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội có nhiệm vụ hoạch định đường hướng
phát triển cơ bản của đất nước trong khoảng thời gian 10 năm, là cam kết chính trị
của Đảng và nhà nước được công bố trước toàn dân và cộng đồng quốc tế về đường

NHÓM X
quyền của chính quyền địa phương; chính quyền cấp trên chỉ nên hỗ trợ phát triển
những lĩnh vực có tác dụng lan toả ra phạm vi lớn hơn. Để đảm bảo nguyên tắc
này, cần phải xác định rõ ràng nhiệm vụ của từng cấp làm cơ sở cho việc phân bổ
các nguồn thu ngân sách.
Quy hoạch ngành được xây dựng dưới sự chủ trì của bộ quản lý ngành phối
hợp với những bộ có liên quan như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, … cùng
các cấp chính quyền địa phương. Quy hoạch ngành có thể được cụ thể hoá theo
không gian và thời gian. Với quan điểm là nhà nước chỉ hỗ trợ gián tiếp chứ không
can thiệp trực tiếp vào công việc kinh doanh của các doanh nghiệp, chỉ nên xây
dựng quy hoạch tổng thể cho những ngành co tính chất hệ thống trong toàn quốc,
như năng lượng, viễn thông, giao thông vận tải. Quy hoạch phát triển những ngành
khác chủ yếu mang tính định hướng, dự báo. Quy hoạch ngành được thực hiện
thông qua những chương trình trọng điểm quốc gia và bằng nguồn lực của cả trung
ương và địa phương. Số liệu rút ra từ quy hoạch sẽ là những cơ sở quan trọng cho
các doanh nghiệp trong việc xây dựng kế hoạch kinh doanh của họ.
3.2.3. Chú trọng kế hoạch hoá định hướng phát triển kinh tế – xã hội 5
năm
3.2.3.1. Nghị quyết Đại hội VIII đã đề ra yêu cầu:
“Chuyển dần sang kế hoạch 5 năm là chính, có phân ra từng năm”. Như
vậy, kế hoạch 5 năm sẽ là trọng tâm trong hệ thống kế hoạch, là công cụ quản lý vĩ
mô quá trình phát triển trong thời hạn 5 năm. Kế hoạch 5 năm xác định một số chỉ
tiêu cơ bản định hướng cho sự phát triển của đất nước, xác định những lĩnh vực mà
kinh tế nhà nước sẽ ưu tiên tập trung phát triển, xác định nguyên tắc hoạch định và
xây dựng chính sách cụ thể để hướng toàn bộ nền kinh tế phát triển theo định
hướng đã chọn.
Các chỉ tiêu của kế hoạch 5 năm chủ yếu mang tính định hướng phát triển.
Kế hoạch 5 năm ở cấp trung ương nên đặc biệt chú ý những chỉ tiêu như: (1) mức
thu nhập bình quân dầu người tại năm cuối của kỳ kế hoạch, (2) tỷ trọng công
nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ trong GDP, (3) tỷ trọng lực lượng lao động xã hội

bao gồm:
- Kế hoạch định hướng phát triển kinh tế - xã hội hàng năm nhằm ổn định
kinh tế vĩ mô và thực hiện mục tiêu phát triển của năm đó. Một nội dung quan
trọng của kế hoạch hàng năm là cân đối vốn đầu tư toàn xã hội. Cân đối này gồm 3
phần: một là, kế hoạch đầu tư của nhà nước trung ương; hai là, kế hoạch đầu tư của
các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Ba là, các biện pháp chính sách huy
động thêm vốn của khu vực kinh tế dân doanh và vốn đầu tư nước ngoài.
- Kế hoạch đầu tư của nhà nước: Quốc hội quyết định tổng mức đầu tư cụ
thể hàng năm, gồm cả tín dụng nhà nước và công trình trọng điểm khởi công trong
năm kế hoạch; Thủ tướng Chính phủ quyết định dự án đầu tư và phân bổ đầu tư cụ
thể hàng năm. Như vậy, về cơ bản đầu tư nhà nước trung ương sẽ tập trung chủ yếu
vào các dự án quy mô lớn phát huy tác dụng trên phạm vi liên tỉnh.
- Kế hoạch ngân sách nhà nước bao gồm kế hoạch thu chi ngân sách và cân
đối ngân sách hàng năm. Nên nghiên cứu thực hiện phương pháp “cuốn chiếu” cho
NHÓM X
việc xây dựng kế hoạch ngân sách trung hạn. Do thu và chi ngân sách thường
không ăn khớp nhau về thời điểm, nên Chính phủ và chính quyền các cấp được
phép vay tín dung để có thể bảo đảm kế hoạch chi tiêu.
- Kế hoạch cung ứng tiền tệ là một kế hoạch linh hoạt, và kế hoạch từng quý
sẽ là công cụ chủ yếu điều hành cung ứng tiền tệ của nền kinh tế, bảo đảm mục tiêu
kiềm chế lạm phát ổn định ở mức độ chấp nhận được. Kế hoạch xuất – nhập khẩu
và quản lý cán cân thanh toán quốc tế, quản lý vay và trả nợ nước ngoài; hạn chế số
lượng các mặt hàng quản bằng hạn ngạch ở mức tối thiểu cần thiết.
3.2.4.2. Kế hoạch hàng năm ở cấp trung ương bao gồm một số chỉ tiêu dự
báo và một số chỉ tiêu pháp lệnh.
Sự khác biệt của các chỉ tiêu kế hoạch ở cấp trung ương, ở cấp tỉnh và
huyện, đặc biệt là những chỉ tiêu về xã hội, phụ thuộc chủ yếu vào việc phân cấp
nhiệm vụ giữa những cấp này. Trước tình hình những vấn đề xã hội và công nghệ
ngày càng trở nên bức xúc, trong thời gian tới cần sớm nghiên cứu để đưa vào kế
hoạch những chỉ tiêu hữu dụng cho việc giải quyết những vấn đề này.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status