Tài liệu ĐỀ ÁN: “Tác động tràn của FDI đến khu vực kinh tế trong nước” doc - Pdf 99


………… o0o…………

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Tác động tràn của FDI đến khu
vực kinh tế trong nước
Lời mở đầu
FDI có thể ảnh hưởng tới nến kinh tế ở tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá và xã
hội. Tuy nhiên, đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước nghèo, kỳ vọng lớn
nhất của việc thu hút FDI chủ yếu là nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Kỳ vọng này
dường như được thể hiện trong tư tưởng của các nhà kinh tế và các nhà hoạch định
chính sách với 3 lý do chính. Một là, FDI góp phần làm tăng thặng dư của tài sản vốn,
góp phần cải thiện cán cân thanh toán nói chung và ổn định kinh tế vĩ mô. Hai là, các
nước đang phát triển thường có tỷ lệ tích luỹ vốn thấp và vì vậy, FDI được coi là một

Nam đã thu được những kết quả khá ấn tượng về thu hút FDI. Cùng với sự tăng
trưởng nhanh về GDP chung của cả nền kinh tế, khu vực có vốn FDI chiếm tỷ trọng

1
ngày càng tăng trong GDP. Thành quả trên được đánh giá là lết quả của cải cách
chính sách kinh tế ở Việt Nam thực hiện trong giai đoạn vừa qua, đồng thời kết quả
đó cũng gợi mở về quan hệ hai chiều giữa tăng trưởng kinh tế và đầu tư trực tiếp nước
ngoài.
Trong thời gian qua chính sách đầu tư nước ngoài của Việt Nam không kém hấp
dẫn so với một số nước trong khu vực và trên thế giới, nhưng hiệu lực và tính thực thi
chính sách thấp làm giảm dòng vốn FDI đăng ký và gây khó khăn cho giải ngân
nguồn vốn này. Dù xét dưới góc độ nào, biến động thất thường về FDI đăng ký sẽ bất
lợi cho tăng trưởng kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế và cạnh tranh
trong khu vực về thu hút FDI ngày càng gay gắt hơn.
Ngoài ra, ít dự án có quy mô lớn cũng là một dấu hiệu không tốt nếu xét về
chuyển giao công nghệ và phổ biến kiến thức. Các Công ty lớn thường có năng lực về
công nghệ, nên sự hiển diện của các Công ty này ít ra cũng là biểu hiện cho việc đầu
tư sản xuất các hàng hoá vốn có hàm lượng công nghệ cao. Các Công ty lớn còn
mang lại niềm hy vọng cho nước nhận đầu tư có được tác động tràn tích cực từ kênh
chuyển giao công nghệ và kiến thức.
Mức thu nhập cao phản ánh năng suất lao động cao của khu vực có vốn FDI là
một biểu hiện bình thường ở các nước đang phát triển. Năng suất lao động cao từ khu
vực FDI thường mong đợi sẽ lan toả ra các khu vực khác, và thực tế ở một số quốc
gia điều đó đã được kiểm định là có xảy ra. Tuy nhiên, trong trường hợp của Việt
Nam cũng cần phải xem xét. Khu vực có vốn FDI tập trung trong các ngành sản xuất
thay thế nhập khẩu, tức được bảo hộ và trong chừng mực nào đó có sức mạnh thị
trường. Do vậy, khả năng sinh ra tác động tràn tích cực hay tác động lan toả chắc
chắn bị hạn chế. FDI tập trung cao trong các ngành được bảo hộ, tập trung vốn có thể
ngăn cản quá trình di chuyển lao động giữa các doanh nghiệp FDI. Như vậy, khả
năng xuất hiện tác động tràn tích cực do di chuyển lao động là rất hạn chế.

đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất cứ tài sản nào khác để
tiến hành hoạt động đầu tư theo quy định của luật đầu tư nước ngoài.
Tóm lại, đầu tư trực tiếp nước ngoài tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một
nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kỳ một tài sản nào khác vào quốc gia đó để có
được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia
đó với mục tiêu tối đa hoá lợi ích của mình.
Như vậy đầu tư trực tiếp nước ngoài bao giờ cũng là một dạng quan hệ kinh tế có
nhân tố nước ngoài : chủ đầu tư, vốn đầu tư, địa điểm đầu tư từ các quốc gia khác
nhau. Nhân tố nước ngoài ở đây không chỉ thể hiện ở sự khác biệt về quốc tịch hoặc
lãnh thổ cư trú thường xuyên của các bên tham gia vào quan hệ đầu tư trực tiếp nước
ngoài mà còn thể hiện ở việc di chuyển tư bản trong đầu tư trực tiếp vượt ra khỏi biên
giới một quốc gia.
Qua đó ta có thể thấy được đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay có hai đặc điểm
nổi bật đó là : có sự di chuyển tư bản trong phạm vi quốc tế và chủ đầu tư trực tiếp
tham gia vào quá trình hoạt động sử dụng vốn và quản lý đối tượng đầu tư.
Trong thực tiễn, FDI được thực hiện theo những hình thức khác nhau, trong đó
những hình thức được áp dụng phổ biến bao gồm:
+ Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh
+ Doanh nghiệp liên doanh

3
+ Doanh nghip 100% vn nc ngoi
Ngoi nhng hỡnh thc u t trờn , cũn mt vi hỡnh thc u t 100% vn nc
ngoi khỏc nh BOT( xõy dng kinh doanh chuyn giao), BTO( xõy dng
chuyn giao kinh doanh)

2. Vai trũ FDI i vi s tng trng v phỏt trin kinh t cỏc nc ang
phỏt trin:
2.1. FDI bổ sung vốn cho nền kinh tế:
Từ thế kỷ trớc, nh kinh tế học Paul Samuelson đã đa ra lý thuyết vòng


4
Có thể nới công nghệ l yếu tố quyết định tốc độ tăng trởng v sự phát triển
của mọi quốc gia, đối với các nớc đang phát triển thì vai trò ny cng đợc
khẳng định rõ. Bởi vậy, tăng cờng khả năng công nghệ luôn l một trong những
mục tiêu u tiên phát triển hng đầu của mọi quốc gia. Tuy nhiên, để thực hiện
mục tiêu ny đòi hỏi không chỉ cần nhiều vốn m còn phải có một trình độ phát
triển nhất định của khoa học - kỹ thuật.
Lênin cũng đã từng khẳng định: Không có kỹ thuật đại t bản chủ nghĩa
đợc xây dựng trên những phát minh mới nhất của khoa học hiện đại, không có
một tổ chức nh nớc có khoa học khiến cho hng triệu ngời phải tuân theo hết
sức nghiêm ngặt một tiêu chuẩn thống nhất trong công việc sản xuất v phân
phối sản phẩm thì không thể nói đến chủ nghĩa xã hội đợc.
Đầu t nớc ngoi (đặc biệt l FDI) đợc coi l nguồn quan trọng để phát
triển khả năng công nghệ của nớc chủ nh. Vai trò ny đợc thể hiện qua hai
khía cạnh chính l chuyển giao công nghệ sãn có từ bên ngoi vo v sự phát
triển khả năng công nghệ của các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng của nớc chủ nh.
Đây l những mục tiêu quan trọng đợc nớc chủ nh mong đợi từ các nh đầu
t nớc ngoi.
Chuyển giao công nghệ thông qua con đờng FDI thờng đợc thực hiện chủ
yếu bởi các TNC, dới các hình thức chuyển giao trong nội bộ giữa các chi nhánh
của một TNC v chuyển giao giữa các chi nhánh của các TNC. Phần lớn công
nghệ đợc chuyển giao giữa các chi nhánh của các TNC sang nớc chủ nh (nhất
l các nớc đang py_ đợc thông qua các doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoi v
doanh nghiệp liên doanh m bên nớc ngoi nắm phần lớn cổ phần dới các
hạng mục chủ yếu nh tiến bộ công nghệ, ap công nghệ, công nghệ thiết kế v
xây dựng, kỹ thuật kiểm tra chất lợng, công nghệ quản líy, công nghệ
marketing. Theo số liệu thống kê của trung tâm nghiên cứu TNC của Liên hợp
quốc, các TNC đã cung cấp khoảng 95% trong số các hạng mục công nghệ m
các chi nhánh của TNC ở các nớc đang phát triển nhận đợc trong năm 1993.

nớc ny.
FDI cũng có tác động tích cực trong phát triển nguồn nhân lực của nớc chủ
nh thông qua các dự án đầu t vo lĩnh vực giáo dục đo tạo. Các cá nhân lm
việc cho các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoi có cơ hội học hỏi, nâng cao
trình độ bản thân khi tiếp cận với công nghệ v kỹ năng quản lý tiên tiến. Các
doanh nghiệp FDI cũng có thể tác động tích cực đến việc cải thiện nguồn nhân
lực ở các công ty khác m họ có quan hệ, đặc biệt l các công ty bạn hng. Những
cải thiện về nguồn nhân lực ở các nớc tiếp nhận đầu t còn có thể đạt hiệu quả
lớn hơn khi những ngời lm việc trong các doanh nghiệp FDI chuyển sang lm
việc cho các doanh nghiệp trong nớc hoặc tự mình thnh lập doanh nghiệp mới.
Đầu t nớc ngoi còn có vai trò đáng kể đối với tăng cờng sức khoẻ v dinh
dỡng cho ngời dân nớc chủ nh thông qua các dự án đầu t vo ngnh y tế,
dợc phẩm, công nghệ sinh học v chế biến thực phẩm.
2.4. FDI giúp mở rộng thị trờng v thúc đẩy xuất khẩu:
Xuất khẩu l yếu tố quan trọng của tăng trởng. Nhờ có đẩy mạnh xuất
khẩu, những lợi thế so sánh của yếu tố sản xuất ở nớc chủ nh đợc khai thác có
hiệu quả hơn trong phân công lao động quốc tế. Các nớc đang phát triển tuy có
khả năng sản xuất với mức chi phí có thể cạnh tranh đợc nhng vẫn rất khó
khăn trong việc thâm nhập thị trờng quốc tế. Bởi thế, khuyến khích đầu t nớc
ngoi hớng vo xuất khẩu luôn l u đãi đặc biệt trong chính sách thu hút FDI
của các nớc ny. Thông qua FDI các nớc tiếp nhận đầu t có thể tiếp cận với
thị trờng thế giới, vì hầu hết các hoạt động FDI đều do các TNC thực hiện. ở tất

6
cả các nớc đang phát triển, các TNC đều đóng vai trò quan trọng trong việc mở
rộng xuất khẩu do vị thế v uy tín của chúng trong hệ thống sản xuất v thơng
mại quốc tế. Đối với các TNC, xuất khẩu cũng đem lại nhiều lợi ích cho họ thông
qua sử dụng các yếu tố đầu vo rẻ, khai thác đợc hiệu quả theo quy mô sản xuất
(không bị hạn chế bởi quy mô thị trờng của nớc chủ nh) v thực hiện chuyên
môn hoá sâu từng chi tiết sản phẩm ở những nới có lợi thế nhất, sau đó lắp ráp

trng kinh t núi chung.

7
Vậy Tác động tràn là tác động gián tiếp xuất hiện khi có mặt của các doanh
nghiệp FDI làm cho các doanh nghiệp trong nước thay đổi hành vi của mình như thay
đổi công nghệ, thay đổi chiến lược sản xuất kinh doanh…
Có 4 kênh xuất hiện tác động tràn nhiều nhất: kênh di chuyển lao động, kênh phổ
biến & chuyển giao công nghệ, kênh liên kết sản xuất và kênh cạnh tranh.

2. Các kênh chủ yếu xuất hiện tác động tràn:
2.1. Kênh di chuyển lao động:
Lao động có kỹ năng chuyển từ doanh nghiệp FDI tới doanh nghiệp trong nước
được coi là một kênh quan trọng có thể tạo ra tác động tràn tích cực. tác động tràn xảy
ra nếu như số lao động này sử dụng kiến thức đã học được trong thời gian làm việc tại
các doanh nghiệp FDI vào công việc trong doanh nghiệp trong nước. Có hai cách để
tạo ra tác động tràn. Đó là số lao động này tự thành lập Công ty riêng hoặc làm thuê
cho các doanh nghiệp trong nước, nhất là trong cùng ngành mà doanh nghiệp FDI
đang hoạt động.
2.2. Kênh phổ biến & chuyển giao công nghệ:
Đây là một kênh rất quan trọng để tạo ra tác động tràn tích cực của FDI. Cho đến
nay chỉ tiêu hay được dùng để đo khả năng hấp thụ công nghệ là trình độ học vấn
hoặc trình độ chuyên môn của lao động trong doanh nghiệp và chỉ tiêu biểu thị cho
đổi mới công nghệ của doanh nghiệp thể hiện qua chỉ tiêu cho các hoạt động R&D.
Một yếu tố khác ảnh hưởng đến việc xuất hiện tác động tràn là khả năng tiếp thu
công nghệ mới của chính các doanh nghiệp FDI. Nhiều nghiên cứu cho rằng công
nghệ mới chủ yếu do các công ty mẹ tạo ra , trong khi đó các công ty con ở các nước
đang phát triển hầu như chỉ tập trung đến khâu sản xuất chiếm lĩnh thị trường dựa trên
các lợi thế về công nghệ do công ty cung cấp.Do đó khả năng tiếp thu công nghệ của
các công ty con hoạt động ở nước nhận đầu tư ngày càng cao , càng có lợi cho quá
trình sinh ra tác động tràn tích cực qua rò rỉ công nghệ.

I. TÌNH HÌNH THU HÚT FDI CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM
QUA:
Từ đầu thập niên 1990, kinh tế vĩ mô của Việt Nam được ổn định, tốc độ phát triển
kinh tế cũng lên quỹ đạo và ở mức tương đối cao. Quan hệ với Trung Quốc và các
nước khác trong khu vực đã bình thường hoá. Nhật đã quyết định viện trợ trở lại
(1992) và Hội nghị các nhà tài trợ giúp Việt Nam xây dựng cơ sở hạ tầng đã được
quyết định sẽ tổ chức hằng năm (bắt đầu năm 1993). Sự chuyển biến thuận lợi nầy
cùng với vị trí địa lý tốt, tình hình chính trị, xã hội ổn định và một nước có dân đông,
có nguồn lao động phong phú đã làm cho Việt Nam trở thành môi trường đầu tư nhiều
tiềm năng. Theo kết quả thăm dò hằng năm về kế hoạch đầu tư nước ngoài của vài
ngàn doanh nghiệp lớn Nhật Bản do Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) thực
hiện, Việt Nam đã sớm trở thành một trong những môi trường mà doanh nghiệp Nhật
chú ý. Việt Nam xếp thứ 5 trong lần thăm dò năm 1992. Năm 1993 Việt Nam ở vị trí
thứ 4 và trong 2 năm liên tiếp sau đó đã vươn lên vị trí thứ 2. Từ năm 1996 vị trí của
Việt Nam giảm nhưng hầu như năm nào cũng nằm trong 5 nước được doanh nghiệp
Nhật đánh giá cao về tiềm năng.

Việt Nam tiếp tục được nước ngoài đánh giá cao về tiềm năng nhưng dòng chảy
FDI vào Việt Nam từ nửa sau thập niên 1990 đã giảm nhanh và hiện nay cũng chưa
hồi phục (Xem Hình 2)9

Tuy các yếu tố về kinh tế vĩ mô, về dân số, lao động, về vị trị địa lý vẫn thuận lợi
nhưng chính sách liên quan đến FDI của Việt Nam chưa ổn định, thiếu nhất quán, hay
thay đổi và chưa có chiến lược phát triển công nghiệp lâu dài. Đến năm 2000, Việt
Nam mới sửa đổi Luật đầu tư nước ngoài theo hướng cạnh tranh được với các nước
chung quanh. Hơn nữa, việc vận dụng luật vào việc quản lý thực tế vẫn chưa có hiệu
quả.

quả tích cực cho phát triển kinh tế. Trước hết có thể thấy tỉ trọng của FDI trong sản
xuất công nghiệp khá cao (gần 40% năm 2000) nhưng chỉ chiếm độ 10% trong lao
động công nghiệp (Biểu 1). Dĩ nhiên điều đó cũng có nghĩa là năng suất lao động của
các doanh nghiệp FDI cao hơn các thành phần kinh tế khác. Nhưng FDI ít tạo ra công
ăn việc làm không phải chỉ vì lý do đó mà chủ yếu vì cho đến nay FDI có khuynh
hướng tập trung vào những ngành thay thế nhập khẩu và ít dùng lao động. Như Biểu 1
cho thấy, vị trí của FDI trong tổng nhập khẩu cao hơn trong tổng xuất khẩu. Dĩ nhiên
các doanh nghiệp FDI nhập khẩu nhiều nguyên liệu và máy móc để phục vụ cho cả
các dự án đầu tư hướng về xuất khẩu nhưng nếu phần lớn FDI là hướng về xuất khẩu
thì tỉ lệ của FDI trong nhập khẩu sẽ thấp hơn nhiều.

Để phân tích sâu hơn tính chất của các doanh nghiệp có vốn nước ngoài, ta thử
chia khu vực công nghiệp chế biến (manufacturing sector) thành 23 ngành và tính thử
tỉ lệ của tư bản dùng cho mỗi lao động (capital/labor ratio, viết tắt là K/L) và tỉ lệ xuất
khẩu trong tổng doanh số bán ra (export/sales, viết tắt là E/S) trong từng ngành.
Thống kê về tư bản được tính bằng cách cộng tất cả kim ngạch đầu tư đã thực hiện từ
trước đến thời điểm cuối năm 2002. Thống kê về lao động lấy số liệu vào cuối năm
2002, kim ngạch xuất khẩu và doanh số bán ra là của năm 2002.

Trong Hình 3, trục tung đo tỉ lệ E/S và trục hoành đo tỉ lệ K/L. Ta thấy ngay rằng
trừ một vài ngoại lệ, những ngành có hàm lượng lao động cao (tỉ lệ K/L thấp) là
những ngành mà FDI hoạt động chủ yếu là phục vụ xuất khẩu (tỉ lệ E/S cao), điển
hình là may mặc, giày dép, chế biến đồ gỗ, Điều này hợp với lý luận cơ bản về kinh
tế quốc tế vì Việt Nam là nước phong phú về lao động nên có lợi thế so sánh trong các
ngành có hàm lượng lao động cao.

12

Nhưng cho đến nay những ngành mà kim ngạch FDI chiếm vị trí hàng đầu là
những ngành thay thế nhập khẩu. Bốn ngành có kim ngạch FDI nhiều nhất (kim

ở nhóm ngành may mặc và da giày. Trong số chuyển đi, khoảng 42% là lao động có
kỹ năng, tỷ lệ thấp nhất trong nhóm ngành dệt may - da giày (37%) và cao nhất là
nhóm ngành chế biến thực phẩm (50,3%). Nếu so sánh chỉ tiêu này thì khả năng có
thể sinh ra tác động tràn ở ngành chế biến thực phẩm cao hơn là dệt may.
Tuy nhiên 32% số doanh nghiệp FDI được hỏi cho rằng lao động đã chuyển đi
khỏi chủ yếu chuyển tới các doanh nghiệp FDI khác, 23% cho rằng số lao động này tự
mở Công ty và 18% trả lời lao động chuyên đi làm cho các doanh nghiệp trong nước
(số còn lại trả lời không biết). Như vậy, tuy tính linh hoạt về di chuyển lao động khá
cao của khu vực doanh nghiệp FDI trong ba nhóm ngành trên, nhưng 1/3 số lao động
chỉ di chuyển trong nội bộ khu vực doanh nghiệp FDI và rất có thể phần lớn trong số
họ là lao động có kỹ năng. Kết quả này có phần ủng hộ cho nhận định về hiện tượng co cụm
về lao động của khu vực FDI hay thấy ở các nước đang phát triển.
Chỉ có 4,6% doanh nghiệp trong nước thuộc nhóm ngành chế biến thực phẩm trả lời
đã tiếp nhận lao động từ doanh nghiệp FDI, trong khi không doanh nghiệp nào trong hai
nhóm còn lại tuyển được lao động từ các doanh nghiệp FDI chuyển sang.
Tổng hợp kết quả các cuộc điều tra gần đây cho thấy các doanh nghiệp FDI tích
cực chuyển giao công nghệ cho lao động ở nhà máy và chuyển giao tri thức điều
hành, quản lý cho kỹ sư, nhân viên quản lý các cấp người Việt Nam. Khi nguời Việt
Nam không hoặc chưa thoả mãn các điều kiện về chuyên môn, doanh nghiệp nước
ngoài mới đưa người ở các nước khác đến. Người nước khác ở đây không nhất thiết là
người nước gốc của MNCs mà kể cả người ở các nước thứ ba. Đặc biệt nhiều công ty
FDI gốc Đài Loan hoặc Hong Kong thường thuê kỹ sư người ở Trung Quốc, công ty
FDI Nhật thường thuê người Đài Loan, v.v Sau 3-4 năm hoạt động, các doanh
nghiệp FDI dần dần tìm người Việt Nam thay thế để giảm phí tổn sản xuất. Tiền
lưong của một kỹ sư người Việt Nam bằng nửa người Trung Quốc và bằng 1/4 người
cùng trình độ từ Đài Loan sang.

Để tăng hiệu quả việc di chuyển lao động, điều tiên quyết của Việt Nam là cần
tăng cường giáo dục, đào tạo để cung cấp nguồn nhân lực cần thiết. Chính sách gần
đây của Việt Nam (hạn chế doanh nghiệp FDI chỉ được dùng người nước ngoài trong

Kết quả điều tra cho thấy, năm 2003 các doanh nghiệp trong nước có tỷ lệ lao
động có kỹ năng thấp hơn rất nhiều so với tỷ trọng lao động kỹ năng của doanh
nghiệp FDI. Đáng quan tâm hơn tỷ trọng này còn có xu hướng giảm đi theo các năm
Các doanh nghiệp FDI chỉ tiêu cho hoạt động R&D cao gấp gần 3 lần so với các
doanh nghiệp trong nước, trong đó mức chênh lệch cao nhất ở nhóm ngành cơ khí -
điện tử. Nếu tính cả chỉ tiêu mức độ tập trung vốn thì có thể thấy sản phẩm có khí
điện tử của khu vực doanh nghiệp FDI có hàm lượng công nghệ cao hơn nhiều và vì
vậy khả năng năng xẩy ra tác động tràn là thấp.
Chi cho R&D ở nhóm ngành dệt may cao hơn hẳn so với ngành chế biến thực
phẩm và mức chênh lệch giữa doanh nghiệp trong và nước ngoài là thấp. Đáng lưu ý
là xu hướng giảm tỷ trọng chi tiêu bình quân cho R&D so với doanh thu trong khu
vực doanh nghiệp FDI, đặc biệt trong nhóm ngành cơ khí, điện tử. Điều này có thể có
nhiều nguyên nhân, chẳng hạn các doanh nghiệp không có đối thủ cạnh tranh trong
nước.
kết quả điều tra cho thấy tới 70% doanh nghiệp FDI rất ít khi tiếp cận với công
nghệ từ Công ty mẹ chuyển giao và 36% cho rằng ý tưởng đổi mới công nghệ bắt
nguồn từ nhu cầu thực tiễn cũa. Như vậy, thực tế là các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam
hoạt động khá độc lập với Công ty mẹ ở nước ngoài đặc biệt là trong đầu tư đổi mới
công nghệ. Có 2 cách lý giải cho điều này. Một là bản thân các Công ty mẹ cũng là
Công ty nhỏ, do đó năng lực cho hoạt động R&D không cao và không thể hỗ trợ

15
nhiều cho các Công ty con. Lý giải này phù hợp với nhận định khá phổ biến hiện nay
là các Công ty nước ngoài đầu tư vào Việt Nam chủ yếu là các Công ty vừa và nhỏ.
Cách lý giải thứ 2 là Việt Nam chưa phải là thị trường đầu tư trọng tâm, hoặc trình độ
công nghệ trong nước yếu dẫn đến không cần thiết phải đầu tư với công nghệ cao
hơn. Chúng tôi cho rằng có thể trong thực tiễn cả hai cách lý giải này đều đúng và bổ
sung cho nhau.
Như vậy, dù phân tích dưới góc độ nào, kết quả điều tra mẫu 93 doanh nghiệp
phần nào phản ánh thực tế ở Việt Nam là ít thấy biểu hiện về tác động tràn tích cực

chiếm 10% tổng kim ngạch xuất khẩu vào năm 2001.16
Trước giai đoạn may mặc (apparel) là các giai đoạn kéo sợi (spinning), dệt
(weaving) và dệt kim (knitting). Theo Biểu 7, số doanh nghiệp FDI hiện diện khá
đông đảo trong tất cả các giai đoạn, đặc biệt là khá tích cực trong giai đoạn may mặc.
Trong hai ngành may mặc và dệt nầy, các nước, các nền kinh tế đầu tư tích cực nhất
là Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore và Hong Kong. Nhiều công ty Nhật cũng tích cực.
Trừ Singapore, các dự án của các nước nầy có tỉ lệ xuất khẩu rất cao và tỉ lệ K/L thấp.
Điều nầy cho thấy các nước công nghiệp mới ở Á châu và Nhật Bản đã tận dụng lao
động Việt Nam để sản xuất và xuất khẩu mặt hàng điển hình có hàm lượng lao động
cao.

Nhưng hoạt động của các doanh nghiệp FDI trong ngành may mặc có tạo ra một
sự liên kết với các doanh nghiệp trong nước thuộc các giai đoạn kéo sợi và dệt không?
Theo điều tra của Viện quản lý kinh tế Trung Ương, vào năm 2002, vẫn còn tới hơn
2/3 số doanh nghiệp FDI dùng nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng may mặc.

Điều tra của tôi vào tháng 8 và tháng 9/2003 cho thấy các doanh nghiệp có vốn 100%
nước ngoài thường có khuynh hướng nhập khẩu hầu như toàn bộ bán thành phẩm và
nguyên liệu cần thiết. Chẳng hạn truờng hợp công ty 100% vốn Nhật Bản sản xuất
quần áo ở Khu chế xuất Tân Thuận, vào năm 2003, mặc dầu đã sau 7 năm hoật động
tại Việt Nam, vẫn còn có tới 97% nguyên liệu và bán thành phẩm nhập khẩu từ nước
ngoài.

Những doanh nghiệp FDI có dùng (mặc dù số lượng chưa nhiều) nguyên liệu và
bán thành phẩm sản xuất trong nước nằm trong 2 trường hợp sau: Một là các xí
nghiệp liên doanh với các đối tác phía Việt Nam, các đối tác nầy thường là các công
ty quốc doanh mà sản xuất chính của họ là các mặt hàng trung gian đó. Một trong

Về sản phẩm 4.00 5.00 7.24 2.90 6.12 6.41 2.62
Về công nghệ 3.47 4.59 7.14 2.45 6.11 7.43 2.75
Về lao động có
tay nghề
3.97 4.47 6.25 2.36 5.76 7.00 3.23
Nguồn: Điều tra doanh nghiệp của CIEM

18
Điều tra này cũng phản ánh phần nào việc các doanh nghiệp FDI liên tục tung các
sản phẩm mới ra thị trường, trong khi các doanh nghiệp trong nước dường như vẫn
đang phải dòn sức lực vào dây chuyền và công nghệ sản xuất.
Bột giặt Daso đang phải đối mặt với Omo, Tide; sữa Vinamilk, Nutifood phải
cạnh tranh với Nestle, Abott, Mead&Johnson, Dumex ; bia Sài Gòn, Laser đang
"chống trả" Heineken, Tiger, Foster…Thị trường hàng điện tử Việt Nam dù nhỏ
nhưng có sự hiện diện đầy đủ của các "anh hào" điện tử toàn cầu: Sony, Panasonic,
Toshiba, Samsung, LG Các DN Việt Nam rất vất vả trong cuộc cạnh tranh này, thất
bại là khả năng khó tránh khỏi". Hiện các sản phẩm lắp ráp trong nước đang chiếm
khoảng 70% thị phần hàng điện tử Việt Nam, tuy nhiên phần lớn vẫn là những thương
hiệu của các tập đoàn điện tử hàng đầu thế giới.
Theo nghiên cứu của Công ty GFK trong năm 2004, các sản phẩm thương hiệu
Việt Nam chỉ chiếm 6% thị phần sản phẩm điện tử nghe nhìn; 48% là các sản phẩm
có thương hiệu Nhật Bản và 35% là các thương hiệu Hàn Quốc Đối với sản phẩm
điện tử gia dụng, thương hiệu Việt Nam chỉ chiếm 3%; các thương hiệu Nhật chiếm
53%; các thương hiệu Hàn Quốc là 35%
Một số DN sản xuất hàng tiêu dùng trong nước đã nỗ lực rất lớn và đạt được
những thành quả bước đầu trong cuộc cạnh tranh với các thương hiệu nước ngoài. Có
thể kể sản phẩm nước tăng lực Number One của Công ty Tân Hiệp Phát như một điển
hình. Bất ngờ xuất hiện một cách ấn tượng trên thị trường với phong cách mới lạ và
độc đáo, những chai nước tăng lực Number One đã kéo tụt doanh số của những "đại
gia" nước giải khát có ga, nhảy lên vị trí số một cả về thị phần lẫn doanh số của ngành

, trinhdo
i
, quimo
i
, hopdong
i
, Dtinh
i
,
Dnganh).
Kết quả và đánh giá.
Ở mặt bằng chung, ngoại trừ biến hopdong, tất cả các biến khác đều có tác động
dương tới thay đổi NSLĐ. Tuy nhiên, ở từng nhóm ngành và từng nhóm doanh
nghiệp, đóng góp của các biến là khác nhau. Đặc biệt chú ý là lao động có tay nghề
không ảnh hưởng tới thay đổi về NSLĐ của các nhóm ngành phân tích và của nhóm
doanh nghiệp tư nhân trong nước. Đối với doanh nghiệp tư nhân trong nước ở ngành
dệt - may và cơ khí - điện tử từ thậm chí cả vốn và lao động kỹ năng đều không có tác
động rõ rệt tới thay đổi NSLĐ của doanh nghiệp. Kết quả này phản ánh phần nào thực
trạng ở Việt Nam là các doanh nghiệp tư nhân chủ yếu sử dụng lao động phổ thông là
chính và doanh nghiệp dệt may và cơ khí -điện tử cũng là các doanh nghiệp nhỏ xét
về vốn. Ngoài rakết quả tính toán cho thấy ở những đô thị lớn có ảnh hưởng tích cực
đối với các doanh nghiệp thuộc nhóm dệt may nói chung và thuộc nhóm DNNN,
nhưng lại không có ảnh hưởng đến nhóm doanh nghiệp tư nhân trong nước. Điều này
có thể là do sản phẩm của các doanh nghiệp tư nhân khó cạnh trang được với cùng
loại sản phẩm do các doanh nghiệp khác sản xuất tại các đô thị lớn. Do vậy, doanh
nghiệp tư nhân thường cung cấp sản phẩm cho các thị trường có sức mua thấp hơn,
chẳng hạn ở vùng nông thôn.
Kết quả kiểm định ở ước lượng I cho biết sự xuất hiện của doanh nghiệp FDI làm
thay đổi NSLĐ của các doanh nghiệp trong nước theo hướng tích cực hay cho thấy
dấu hiệu của việc xuất hiện tác động tràn tích cực. Ở góc độ ngành, biến tytrong có

(1.91)
0.158***
(7.69)
0.114*
(2.01)
0.122***
(4.61)
0.103**
(2.09)
0.156***
(3.81)
0.123**
(2.1)
0.097
(1.57)
0.081
(1.08)
tytrong 0.290***
(3,05)
0.602**
(2.71)
0.117
(1.69)
0.064
(1.53)
0.032
(0.91)
0.04
(0.35)
0.028

(-0.47)
0.055
(0.78)
0.044
(0.56)
Quimo 0,113***
(8,58)
0.077***
(2.98)
0.101***
(5.74)
0.105***
(4.31)
0.102***
(9.93)
0.075***
(4.38)
0.084***
(4.72)
0.104***
(4.88)
0.128***
(5.81)
0.057
(1.36)
0.140***
(4.98)
0.081
(1.08)
Hopdong -0.098

(1.52)
0.213***
(4.7)
0.083
(0.96)
0.165***
(4.18)
0.241**
(2.36)
0.061
(1.32)
-0.147
(-1.46)
0.164
(1.73)
0.035
(0.32)
Nganh Ước tính Ước tính Ước tính Ước tính Ước tính Ước tính Ước tính Ước tính Ước tính Ước tính Ước tính Ước tính
Hệ số tự do 0,353***
(2,65)
0.301**
(2.81)
-0.049
(0.33)
2.264***
(7.71)
0.49***
(6.63)
0.601***
(4.26)

2. Khả năng hấp thụ tác động tràn của doanh nghiệp trong nước
Nhiều nghiên cứu định lượng cho các nước đang phát triển, nhất là các nước
nghèo đã chỉ ra sự xuất hiện tác động tràn qua kênh tiếp thu công nghệ còn phụ thuộc
vào khả năng hấp thụ của doanh nghiệp. Kokko (1993) lại cho thấy tác động tràn tỷ lệ
thuận với mức độ khác biệt về công nghệ. Tổng kết các nghiên cứu này cho thấy các
kết luận trái ngược nahu có thể là do phương pháp phân tích khác nhau, nhưng cũng
có thể do đặc điểm của ngành và của quốc gia được khảo sát. Mặc dù vậy hầu hết các
tác giả đều cho rằng việc xác định khả năng hấp thụ tác động tràn là khó khăn, nhưng
lại có ý nghĩa cho xây dựng chính sách.
Để kiểm định các giả thuyết trên đây cho trường hợp của Việt Nam, phần này
cũng tiến hành một số ước lượng sử dụng mẫu số liệu thống nhất như ở các phần trên.
Trong phạm vi số liệu cho phép, các ước lượng lần lượt được thực hiện cho các nhóm
doanh nghiệp phân theo chất lượng lao động (biểu thị cho khả năng hấp thụ công
nghệ), theo quy nô vốn, theo quy mô lao động và theo vị trí địa lý. Từ đó có thể đưa
ra một số nhận xét về mối quan hệ giữa các yếu tố nêu trên với tác động tràn.
Về phương pháp luận khả năng hấp thụ tác động tràn được đánh giá bằng cách so
sánh ít nhất hai n nhóm doanh nghiệp có khả năng hấp thụ công nghệ khác nhau, ở
đây được thể hiện qua trình độ của lao động, đo bằng tỷ lệ lao động có chuyên môn
tay nghề trên số lao động không có chuyên môn tay nghề của doanh nghiệp. Chỉ số
này được sắp xếp theo thứ tự tăng dần, trong đó nhóm 25% số quan sát đầu tiên được
định nghĩa là có chất lượng lao động thấp và 25% số quan sát cuối cùng thể hiện mức
chất lượng cao. Vì vậy, khái niệm chất lượng cao và thấp về trình độ lao động trong
phần này mang tính tương đối giữa các quan sát với nhau trong mẫu số liệu.
Phân loại doanh nghiệp theo quy mô vốn và lao động phần lớn dựa vào tiêu thức
hiện nay của TCTK, nhưng được điều chỉnh nhằm tìm ra các điểm cắt hợp lý hơn cho
nghiên cứu dựa vào đường phân bổ của vốn và lao động.
Vai trò của vị trí địa lý đã được thể hiện qua biến Dtinh. Phần này sẽ xét tác động
của biến tytrong tới các nhóm doanh nghiệp trong và ngoài các đô thị lớn bằng cách
thực hiện hai ước lượng khác nhau và so sánh.
Để so sánh với các phần trước, doanh nghiệp vẫn được chia thành hai nhóm,

ngoài vùng đô thị lứon cho rằng các doanh nghiệp FDI này thường hoạt động trong
ngành đặc thù hoặc sản xuất dựa vào vùng nguyên liệu. Do vậy, sự cạnh tranh đối với
các doanh nghiệp trong nước cũng có thể giảm đi. Trong một số trường hợp, sự xuất
hiện của doanh nghiệp FDI còn tạo ra mối liên kết ngang giữa các doanh nghiệp trong
và ngoài nước và nhờ đó xuất hiện tác động tràn tích cực. Tuy nhiên, do định nghĩa
"ngoài vùng đô thị" trong nghiên cứu này là quá rộng nên ở đây chưa thể lý giải được
hoàn toàn kết quả của mô hình do thiếu các thông tin cần thiết.
Về khả năng hấp thụ tác động này của nhóm DNNN, có nếu xét ở mặt bằng
chung, tác động tràn không xuất hiện ở các DNNN như đã phân tích ở trên. Tuy
nhiên, thông qua phân loại DNNN theo quy mô, tác động tràn tích cực đã xuất hiện ở
nhóm DNNN có quy mô vừa nếu xét tiêu chí vốn và ở nhóm DNNN có quy mô nhỏ
nếu xét tiêu chí lao động. Mức độ tác động tuy nhiên rất yếu so với các doanh nghiệp
tư nhân cùng quy mô (vốn hoặc lao động) và chỉ được kiểm định ở mức ý nghĩa 10%.
Tức là, ở mức ý nghĩa 1% và 5%, tác động tràn có thể không xẩy ra. Kết quả này
khẳng định lại các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ nói chung và cso khả năng

22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status