LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Lợi nhuận và các giải pháp nâng
cao lợi nhuận ở công ty xuất nhập
khẩu tạp phẩm TOCONTAP
Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Thị Phương Liên
Sinh viên thực hiện :Đặng Thu Trang
Luận văn tốt nghiệp ĐHTM
LỜI NÓI ĐẦU
Khi nói đến hoạt động sản xuất kinh doanh, người ta thường đề cập
đến hiệu quả của nó. Năng suất - chất lượng- hiệu quả là mục tiêu phấn đấu
của nền sản xuất tiên tiến, là thước đo của trình độ về mọi mặt trong toàn bộ
nền kinh tế quốc dân cũng như đối với từng đơn vị sản xuất.
Một đơn vị sản xuất là một tế bào của nền kinh tế nói chung, sự phát
triển mạnh mẽ của mỗi tế bào đó sẽ tạo nên sự tăng trưởng của nền kinh tế .
ở nước ta các doanh nghiệp Nhà nước là nơi trực tiếp sáng tạo ra của cải vật
chất, tạo nguồn tích luỹ cho xã hội, nó giữ vai trò chủ đạo trong quá trình
xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong
giai đoạn hiện nay nền kinh tế nước ta đang ở trong bước chuyển mình lớn
từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô
của Nhà nước, được Nhà nước bao cấp hoàn toàn sản xuất kinh doanh , đến
trong công ty XNK tạp phẩm Hà Nội (TOCONTAP )
Với lòng biết ơn sâu sắc: em xin bày tỏ lời cám ơn trân thành tới cô
Nguyễn Thị Phương Liên cùng các cô chú, anh chị thuộc công ty XNK tạp
phẩm Hà Nội (TOCONTAP) trong thời gian qua đã hết lòng giúp đỡ tạo
điều kiện cho em để hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, tháng 5 năm 2003
Sinh viên: Đặng Thu Trang
K35-E1-TMQT
Đặng Thu Trang
2 K35-E1
Luận văn tốt nghiệp ĐHTM Chương I: Những lý luận chung về lợi nhuận.
I/Lợi nhuận của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
1.Doanh nghiệp.
1.1Khái niệm :
Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường là một tổ chức kinh tế được
tổ chức ra để tiến hành các hoạt đông SXKD theo pháp luật vì mục tiêu lợi
nhuận .
Tuỳ theo các tiêu thức phân loại mà tồn tại các loại hình doanh nghiệp
khác nhau , theo hình thức sở hữu vốn thì doanh nghiệp được chia thành 3
loại :
Doanh nghiệp nhà nước .
công bằng .
2/Lợi nhuận của doanh nghiệp
2.1Khái niệm:
*Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng đánh giá hiệu quả kinh tế của các
doanh nghiệp trong hoạt động SXKD . Đó là kết quả tài chính cuối cùng sau
một quá trình tiến hành SXKD của doanh nghiệp .
*Theo thuật ngữ Thương Mại (The langugue of trade): Lợi nhuận (
profit) là thu nhập ròng có được do sản xuất hay bán các hàng hoá và dịch
vụ. Nghĩa là số tiền còn lại dành cho nhà doanh nghiệp sau khi đã thanh toán
tất cả các khoản vốn (lãi suất), đất đai (tô), lao động ( bao gồm chi phí quản
lý, lương, tiền công), nguyên liệu thô, thuế và khấu hao. Nếu như doanh
Đặng Thu Trang
4 K35-E1
Luận văn tốt nghiệp ĐHTM
nghiệp làm ăn kém cỏi, lợi nhuận có thể là số âm và trong trường hợp đó
chúng biến thành các khoản lỗ.
*Đứng ở góc độ doanh nghiệp, lợi nhuận thực chất là khoản chênh
lệch giữa doanh thu và tổng chi phí SXKD mà doanh nghiệp bỏ ra để có
được doanh thu đó trong một thời kì nhất định. Theo đó ,lợi nhuận được xác
định như sau:
Lợi nhuận = Doanh thu - Chi phí - Thuế
*Nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận
Việc nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ nguồn gốc và bản chất lợi nhuận
được các nhà kinh tế học tiến hành từ những năm đầu của thế kỷ 18. Mặc dù
vậy khoảng gần 200 năm sau thì nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận mới
được K. Marx làm sáng tỏ, ông cũng chính là người đã vạch trần bản chất
bóc lột của chủ nghĩa tư bản đối với người lao động làm thuê.
Trước đó các trường phái kinh tế học và các nhà tư tưởng kinh tế đã
không ngừng nghiên cứu về nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận nhưng vẫn
không thể đi đến thống nhất giải thích một cách rõ ràng rằng lợi nhuận được
động do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không ( ký
hiệu là m)
Từ đó ta thấy rằng tham gia vào việc tạo ra giá trị thặng dư có 2 yếu tố
là : tư bản bất biến và tư bản khả biến. Nếu ký hiệu giá trị hàng hoá được sản
xuất trong xí nghiệp tư bản chủ nghĩa là Gt thì Gt =c+v+m (1)- hao phí lao
động thực tế của xã hội để sản xuất ra hàng hoá. Nhưng đối với các nhà tư
bản để che dấu sự bóc lột của mình họ cho rằng giá trị thặng dư không phải
do sức lao động của công nhân làm thuê tạo ra mà đó là do hao phí tư bản
tạo ra, tức là c và v, c+v tạo ra. Trên quan điểm đó các chủ tư bản cho rằng
Đặng Thu Trang
6 K35-E1
Luận văn tốt nghiệp ĐHTM
chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa tạo ra lợi nhuận chứ không phải do bộ
phận (v) tạo ra giá trị thặng dư.
Nếu ký hiệu chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa là K (K=c+v) thì ta có
giá trị hàng hoá: Gt=K+m (2), từ đó ta có K=Gt-m, điều đó cho thấy chi phí
sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn luôn nhỏ hơn chi phí thực tế của xã hội để
sản xuất ra hàng hoá. Khi c+v chuyển thành chi phí sản xuất tư bản chủ
nghĩa thì đối với nhà tư bản, giá trị thặng dư biểu hiện thành sự tăng lên bề
ngoài của chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa mà nhà tư bản thu được.
Giá trị thặng dư một khi so sánh với tổng tư bản ứng trước thì mang
hình thức lợi nhuận. Nếu ký hiệu lợi nhuận là p thì từ (1) và (2) ta có
Gt=K+p hay giá trị hàng hoá chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa + lợi
nhuận. Thực chất của lợi nhuận là giá trị thặng dư được tạo ra trong
sản xuất, hay giá trị thặng dư là nội dung bên trong, là cơ sở của lợi
nhuận, còn lợi nhuận là biểu hiện bên ngoài của m.
Trên thực tế khi xét về mặt lượng, cơ sở của p là m nhưng lượng p thu
được nhiều hay ít còn phụ thuộc vào giá trên cả thị trường.
-Khi giá cả bằng giá trị thì p=m
-Khi giá cả lớn hơn giá trị thì p>m
bóc lột trong xã hội TBCN. Nguồn gốc lợi nhuận là do người lao động làm
thuê tạo ra, nó là phần giá trị dôi ra ngoài tiền công do người lao động làm
ra. Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa thì lợi nhuận bị nhà tư bản chiếm đoạt mất
và biểu hiện quan hệ mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa chủ tư bản và công
nhân làm thuê tạo lên mâu thuẫn giai cấp trong xã hội tư bản, còn dưới chế
độ xã hội chủ nghĩa thì lợi nhuận chính là để phục vụ lợi ích của người lao
động, nhờ có nó mà người lao động sẽ được thoả mãn về lợi ích kinh tế và
góp phần vào việc phát triển kinh tế đất nước, xây dựng xã hội tiến bộ công
bằng văn minh vì cuộc sống ấm no của người lao động.
Đặng Thu Trang
8 K35-E1
Luận văn tốt nghiệp ĐHTM
2.2Kết cấu lợi nhuận .
Mỗi doanh nghiệp với mỗi ngành nghề ,mỗi lĩnh vực đầu tư lại đẻ ra
một loại lợi nhuận khác nhau . Nhưng nhìn chung lợi nhuận doanh nghiệp
bao gồm :
Lợi nhuận từ hoạt động SXKD
Lợi nhuận từ hoạt động tài chính.
Lợi nhuận hoạt động bất thường
2.2.1Lợi nhuận từ hoạt động SXKD :
Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh là lợi nhuận thu được do
tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ, lao vụ từ các hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Đối với các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh thì lợi nhuận
thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh là bộ phận chiếm tỷ trọng lớn
nhất trong tổng mức lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được. Nó là điều kiện
tiền đề để doanh nghiệp thực hiện tích luỹ phục vụ cho tái sản xuất mở rộng,
đồng thời cũng là điều kiện tiền đề để doanh nghiệp lập ra các quỹ hỗ trợ
mất việc làm, quỹ khen thưởng, Do đó lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh
doanh có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
triệt để các cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp, đa dạng hóa các cơ hội tìm
kiếm lợi nhuận, giảm thiểu những rủi ro trước những biến đổi không thể
lường hết được từ phía môi trường kinh doanh của doanh nghiệp.
*
Phương pháp xác định lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
Ta có công thức xác định lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh
như sau:
Đặng Thu Trang
10 K35-E1
Luận văn tốt nghiệp ĐHTM
-
Doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh
Là toàn bộ những khoản doanh thu từ việc tiêu thụ những sản phẩm
hàng hoá và dịch vụ, lao vụ trong kỳ. Trong đó bao gồm:
+Doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh chính: Là khoản tiền
thu được từ các hoạt động sản xuất kinh doanh chính của doanh nghiệp
được ghi trong giấy phép kinh doanh của doanh nghiệp.
+Doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh phụ: Là khoản thu phụ
thêm ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh chính của doanh nghiệp nhằm
khai thác và tận dụng tối đa các nguồn lực sẵn có trong doanh nghiệp.
-Các khoản giảm trừ doanh thu bao gồm:
+Giảm gía hàng bán: Là khoản tiền mà doanh nghiệp chấp nhận giảm
giá cho người mua trong trường hợp hàng kém phẩm chất hoặc sai qui cách
phẩm chất theo hợp đồng, bên mua đề nghị giảm giá. Hoặc là do bên mua
mua với số lượng lớn và được doanh nghiệp giảm giá. Như vậy giảm giá
bao gồm:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí quản lý phân xưởng
-Chi phí bán hàng
Là khoản chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng
hoá, dịch vụ Bao gồm tiền lương và các khoản phụ cấp trả cho nhân viên
bán hàng, chi phí về vật liệu đóng gói, vận chuyển bảo quản hàng hoá. Chi
phí khấu hao tài sản cố định, công cụ, dụng cụ, đồ dùng phục vụ cho bán
hàng. Ngoài ra còn có các chi phí khác như chi phí quảng cáo, tiếp thị, điều
tra thị trường, bảo hành, hoa hồng
-Chi phí quản lý doanh nghiệp:
Đặng Thu Trang
12 K35-E1
Luận văn tốt nghiệp ĐHTM
Là toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá phát sinh
trong quá trình quản lý doanh nghiệp, quản lý hành chính và các chi phí
chung khác của toàn bộ doanh nghiệp được biểu hiện bằng tiền.
Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm: Chi phí nhân viên quản lý
doanh nghiệp, chi phí vật liệu dùng trong quản lý, chi phí đồ dùng văn
phòng, chi phí khấu hao tài sản cố định. Ngoài ra còn có các khoản chi phí:
thuế và lệ phí, chi phí dự phòng, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền
khác.
2.2.2Lợi nhuận hoạt động tài chính
Là lợi nhuận thu được từ hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp
, đầu tư vốn ra bên ngoài doanh nghiệp như: góp vốn liên doanh, liên kết
kinh doanh, góp vốn cổ phần, hoạt động mua bán tín phiếu, trái phiếu, cổ
phiếu, cho thuê tài sản, kinh doanh bất động sản, lãi tiền gửi và cho vay
thuộc nguồn vốn kinh doanh và quỹ, mua bán ngoại tệ. Hiện nay xu hướng
phát triển của thị trường chứng khoán mà hoạt động đầu tư tài chính chủ yếu
Doanh thu từ hoạt động bất thường: là các khoản thu từ các hoạt động
kinh doanh không thường xuyên, không dự tính trước hoặc có nhưng
ít khả năng xảy ra của doanh nghiệp, bao gồm các khoản như: Thanh
lý tài sản, nhượng bán tài sản cố định đã hết thời hạn sử dụng, nợ khó
đòi đã xử lý nay đòi được, tiền phạt bồi thường do phía đối tác vi
phạm hợp đồng, các khoản thu nhập bị bỏ sót
Chi phí bất thường: là các khoản chi phí phát sinh ta mà doanh nghiệp
không lường trước được bao gồm: Các khoản chi phí thanh lý,
nhượng bán tài sản cố định đã hết thời hạn sử dụng, khoản tiền bị phạt
bồi thường hợp đồng và truy thu thuế, tài sản thiếu không xác định
được nguyên nhân, chi phí bị bỏ sót
Từ các phương pháp xác định lợi nhuận của doanh nghiệp ta có công
thức xác định tổng lợi nhuận của doanh nghiệp như sau:
Đặng Thu Trang
14 K35-E1
Luận văn tốt nghiệp ĐHTM
Như vậy, có thể thấy do ngành hàng và lĩnh vực kinh doanh khác nhau
mà có sự khác nhau về tỷ trọng lợi nhuận của mỗi bộ phận lợi nhuận trong
tổng lợi nhuận của doanh nghiệp. Mặt khác tuỳ thuộc vào từng doanh
nghiệp, từng giai đoạn và thời kỳ kinh doanh mà kết cấu lợi nhuận của
doanh nghiệp có thể gồm 3 hoặc 4 bộ phận lợi nhuận mà doanh nghiệp đã
đạt trong kỳ.
Nghiên cứu kết cấu lợi nhuận có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi
doanh nghiệp để doanh nghiệp có thể có những biện pháp thích hợp nhằm
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; cho thấy cứ một đồng
doanh thu thì sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Nếu tỷ suất lợi nhuận
càng cao thì chứng tỏ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả
tốt, chi phí cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là hợp lệ và
ngược lại. Nếu đem so sánh tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu của doanh
nghiệp với ngành mà cho thấy thấp hơn điều đó chứng tỏ doanh nghiệp đang
bán với giá thấp hơn, hoặc giá thành sản phẩm của doanh nghiệp cao hơn (có
chi phí sản xuất kinh doanh cao hơn) so với các doanh nghiệp khác cùng
ngành.
2.3.2Tỷ suất lợi nhuận trên vốn (doanh lợi vốn)
Là quan hệ tỷ lệ giữa số lợi nhuận đạt được trong kỳ so với số vốn
bình quân sử dụng trong kỳ bao gồm vốn cố định và vốn lưu động.
Công thức xác định: Trong đó:
P’
v : là tỷ suất lợi nhuận vốn trong kỳ
P : tổng lợi nhuận đạt được trong kỳ
V
bq: Tổng vốn kinh doanh bình quân trong kỳ
được xác định bằng công thức:
Đặng Thu Trang
16 K35-E1
Luận văn tốt nghiệp ĐHTM
Trong đó:
V
đó cho thấy lợi nhuận có vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát
triển doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường gồm có nhiều cá nhân, tổ chức và doanh
nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó hoạt động sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp đóng vai trò chính tạo nên sự phát triển chung
của nền kinh tế đất nước, sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp cũng
chính là tạo ra thu nhập cho nhà nước, cho người lao động. Vì vậy lợi nhuận
cũng có vai trò với nhà nước, với người lao động. Cụ thể vai trò của lợi
nhuận được thể hiện ở các điểm sau:
*Vai trò của lợi nhuận đối với doanh nghiệp
Lợi nhuận có vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp, vừa là mục tiêu, vừa là động lực, vừa là điều kiện
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường tuy mỗi giai
đoạn có những mục tiêu và nhiệm vụ có thể khác nhau. Song cuối cùng các
mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể mà doanh nghiệp đề ra trong từng thời kỳ cũng
chỉ phục vụ cho mục đích cuối cùng của mình đó là tạo ra lợi nhuận đạt
được.
Kinh tế thị trường tự do kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật qui
định, tự hạch toán lấy thu bù chi, lỗ chịu lãi hưởng. Vì vậy, lợi nhuận vừa là
mục tiêu, vừa là động lực, vừa là điều kiện tồn tại của doanh nghiệp. Không
có lợi nhuận, doanh nghiệp sẽ không có vốn để tổ chức hoạt động kinh
doanh nhằm mục đích thu lợi cũng như thực hiện việc tối đa hoá lợi nhuận.
Cũng chính vì lợi nhuận mà các doanh nghiệp không ngừng mở rộng và tăng
cường hoạt động sản xuất kinh doanh của mình đáp ứng nhu cầu thị trường
Đặng Thu Trang
18 K35-E1
Luận văn tốt nghiệp ĐHTM
dành thắng lợi trong cạnh tranh. Chỉ hoạt động kinh doanh mang lại lợi
vụ nộp Ngân sách Nhà nước và chia cho các chủ thể tham gia liên doanh,
thì phần còn lại doanh nghiệp phân phối vào các quĩ như: quĩ đầu tư và phát
triển kinh doanh, quĩ dự phòng tài chính, các quĩ này dùng để đầu tư mở
rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, thay đổi trang thiết bị máy móc, nghiên
cứu trang thiết bị công nghệ mới, hợp lý hoá sản xuất với nhu cầu của thị
trường, nhờ vậy mà doanh nghiệp có thể tự chủ hơn về mặt tài chính, dễ
dàng đầu tư chiều sâu nâng cao năng suất lao động tạo tiền đề cho việc nâng
cao lợi nhuận của doanh nghiệp.
Lợi nhuận tác động đến mọi mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, ảnh hưởng đến nguồn vốn kinh doanh và tình hình tài
chính phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh cuả doanh nghiệp.
Khi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả có
nghĩa là doanh nghiệp là doanh nghiệp có lợi nhuận, điều đó cho thấy không
những doanh nghiệp bảo toàn được vốn kinh doanh mà còn có một khoản lợi
nhuận bổ xung vào nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Trong điều
kiện kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt thì vốn có ý nghĩa rất quan trọng
cho phép doanh nghiệp thực hiện các dự án có qui mô lớn, thực hiện đầu tư
nghiên cứu đổi mới và hoàn thiện công nghệ sản xuất kinh doanh, nâng cao
uy tín là khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Như vậy lợi
nhuận là điều kiện quan trọng đảm bảo cho tình hình tài chính của doanh
nghiệp vững chắc.
*Đối với chủ thể đầu tư và người lao động
Đối với các chủ thể đầu tư tham gia vào hoạt động kinh doanh trên thị
trường thì lợi nhuận đối với họ là niềm mơ ước, là khát vọng và ước muốn
đạt được. Còn đối với người lao động làm việc trong các doanh nghiệp thì
lợi nhuận gắn liền và có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của họ, với họ lợi
Đặng Thu Trang
20 K35-E1
Luận văn tốt nghiệp ĐHTM
nhuận làm tăng thu nhập và cải thiện đời sống, tăng lợi ích kinh tế của họ.
các chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với các hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Chính sách vĩ mô của Nhà nước đúng đắn và thông thoáng sẽ tạo điều
kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phát triển tốt hơn,
do đó sẽ cho phép doanh nghiệp nâng cao được lợi nhuận hoạt động của
mình. Ngược lại nếu các chính sách vi mô không phù hợp, tác động tiêu cực
tới hoạt động của doanh nghiệp thì sẽ kìm hãm sự phát triển của doanh
nghiệp và ảnh hưởng xấu tới lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được.
Tóm lại, lợi nhuận vừa là mục tiêu , vừa là động lực , là điều kiện tồn
tại và phát triển của doanh nghiệp, nhờ có lợi nhuận mà doanh nghiệp mở
rộng qui mô sản xuất kinh doanh, đầu tư đổi mới trang thiết bị cải tiến và
nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo nguồn vốn và khả năng tài chính vững
chắc cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận góp phần vào việc đem
lại thu nhập cải thiện cuộc sống và tái sản xuất sức lao động của người lao
động, tạo công an việc làm, giải quyết thất nghiệp. Lợi nhuận còn là nguồn
thu cho ngân sách Nhà nước, tạo nguồn tích luỹ cơ bản để tái sản xuất và
mở rộng nền kinh tế quốc dân. Với tầm quan trọng như vậy mà các doanh
nghiệp luôn tìm mọi biện pháp để nâng cao lợi nhuận và tối đa hoá lợi
nhuận.
II. Những biện pháp nâng cao lợi nhuận trong doanh nghiệp .
1/Ý nghĩa của việc nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp
Xuất phát từ vai trò quan trọng của lợi nhuận, vừa là mục tiêu, vừa là
động lực , vừa là điều kiện tồn tại và phát triển của doanh nghiệp cho thấy
việc nâng cao lợi nhuận là sự cần thiết tất yếu khách quan đối với mỗi doanh
Đặng Thu Trang
22 K35-E1
Luận văn tốt nghiệp ĐHTM
nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Nếu doanh nghiệp hoạt động sản xuất
trên thị trường.
Lợi nhuận còn có ý nghĩa tạo nguồn thu nhập và nâng cao thu nhập
cho người lao động, cải thiện cuộc sống của người lao động, tạo công an
việc làm , giải quyết tình trạng thất nghiệp.
Nâng cao lợi nhuận cũng có nghĩa là nâng cao nguồn thu cho ngân
sách Nhà nước, nâng cao phúc lợi xã hội, góp phần vào việc tạo động lực
phát triển của nền kinh tế đất nước.
Xuất phát từ những ý nghĩa quan trọng trên cho thấy việc nâng cao lợi
nhuận không chỉ có ý nghĩa quyết định đối với doanh nghiệp mà còn có ý
nghĩa đối với Nhà nước, với người lao động, với sự phát triển của nền kinh
tế quốc dân.
2.Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp, bao
gồm những nhân tố nằm ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp, và những
nhân tố nằm trong tầm kiểm soát của doanh nghiệp, cụ thể dưới đây là các
nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp.
2.1Các nhân tố khách quan:
Là những nhân tố nằm ngoài ý muốn chủ quan của doanh nghiệp,
thường đó là các nhân tố thuộc môi trường kinh doanh mà doanh nghiệp
không có khả năng tác động mà chỉ có thể thích ứng với những thay đổi từ
những phía môi trường đó:
Sự thay đổi về môi trường tự nhiên địa lý khí hậu: như thiên tai, bão
lụt, hoả hoạn, động đất, , sự thay đổi từ phía môi trường tự nhiên làm
doanh nghiệp không lường trước được, nhiều khi gây thiệt hại cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới lợi
nhuận mà doanh nghiệp đạt được.
Đặng Thu Trang
24 K35-E1