Luận văn tốt nghiệp ĐHTM
Lời nói đầu
Khi nói đến hoạt động sản xuất kinh doanh, ngời ta thờng đề cập đến
hiệu quả của nó. Năng suất - chất lợng- hiệu quả là mục tiêu phấn đấu của nền
sản xuất tiên tiến, là thớc đo của trình độ về mọi mặt trong toàn bộ nền kinh tế
quốc dân cũng nh đối với từng đơn vị sản xuất.
Một đơn vị sản xuất là một tế bào của nền kinh tế nói chung, sự phát
triển mạnh mẽ của mỗi tế bào đó sẽ tạo nên sự tăng trởng của nền kinh tế . ở
nớc ta các doanh nghiệp Nhà nớc là nơi trực tiếp sáng tạo ra của cải vật chất,
tạo nguồn tích luỹ cho xã hội, nó giữ vai trò chủ đạo trong quá trình xây dựng
và phát triển đất nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Trong giai đoạn hiện
nay nền kinh tế nớc ta đang ở trong bớc chuyển mình lớn từ cơ chế kế hoạch
hoá tập trung sang cơ chế thị trờng có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nớc, đợc Nhà
nớc bao cấp hoàn toàn sản xuất kinh doanh , đến nay các đơn vị này phải tự
hạch toán kinh doanh lời ăn, lỗ chịu, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có nỗ lực
rất lớn để tồn tại.
Mặt khác, trong điều kiện nền kinh tế thị trờng cạnh tranh găy gắt diễn
ra giữa các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau đã đòi hỏi
các doanh nghiệp không ngừng tích luỹ vốn phát triển và đầu t mở rộng kinh
doanh. Điều này chỉ có thể thực hiện đợc khi hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp mang lại hiệu quả cao thu đợc nhiều lợi nhuận. Lợi nhuận hiện nay đợc
coi là một trong những đòn bảy kinh tế có hiệu lực nhất kích thích mạnh mẽ
các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Lợi nhuận không
những phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh trong điều kiện nền kinh tế thị
trờng mà nó còn là nguồn tài chính quan trọng để thực hiện tái sản xuất mở
rộng hoạt động sản xuất kinh doanh và nâng cao đời sống của ngời lao động
trong doanh nghiệp.
Đặng Thu Trang
1 K35-E1
Luận văn tốt nghiệp ĐHTM
Xuất phát từ vai trò to lớn của lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh,
Tuỳ theo các tiêu thức phân loại mà tồn tại các loại hình doanh nghiệp
khác nhau , theo hình thức sở hữu vốn thì doanh nghiệp đợc chia thành 3 loại :
Doanh nghiệp nhà nớc .
Doanh nghiệp t nhân .
Doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp .
Doanh nghiệp nhà nớc : là tổ chức kinh tế do nhà nớc đầu t vốn thành lập
và tổ chức hoạt động SXKD nhằm phục vụ mục tiêu KT-CT của nhà nớc .
Doanh nghiệp t nhân là doanh nghiệp do một cá nhân thành lập ,quản lí
và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình với các khoản nợ của
doanh nghiệp .
Doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp : Là doanh nghiệp trong đó chủ doanh
nghiệp là tập thể các cá nhân hoặc tổ chức . Những thành viên này cùng tiến
hành các hoạt động sxkd ,cùng phân chia lợi nhuận và cùng chịu trách nhiệm
các khoản nợ của công ty trong phần vốn góp của mình.
Việc phân loại này chỉ rõ mối quan hệ sở hữu vốn ,tài sản thuộc các
thành phần kinh tế khác nhau ,là căn cứ để phân chia hiệu quả kinh tế theo vốn
Đặng Thu Trang
3 K35-E1
Luận văn tốt nghiệp ĐHTM
góp và cũng là căn cứ để nhà nớc quy định chế độ chính sách kinh tế ,định h-
ớng phát triển phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp.
1.2Đặc trng của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng .
Trong nền kinh tế thị trờng tồn tại nhiều loại hình doanh nghiệp khác
nhau nên cũng tồn tại những đặc trng khác nhau .Tuy nhiên doanh nghiệp nói
chung đều mang những đặc trng sau:
Mọi doanh nghiệp đều không ngừng tìm cách nâng cao hiệu quả
SXKD.
Các DN là các đơn vị tự chủ trong SXKD và tự chủ về tài chính.
Hoạt động SXKD của doanh nghiệp bị chi phối bởi các quy luật của
nền kinh tế thị trờng nh: Quy luật cạnh tranh ,quy luật cung cầu, quy
đi đến thống nhất giải thích một cách rõ ràng rằng lợi nhuận đợc sản sinh ra từ
đâu.
Ngời đầu tiên nghiên cứu về lợi nhuận đó là Adamsmith, theo ông Lợi
nhuận là khoản khấu trừ vào giá trị sản phẩm do công nhân tạo ra, nguồn gốc
của lợi nhuận là do toàn bộ t bản đầu t đẻ ra trong cả lĩnh vực sản xuất và lu
thông.
Khác với Adamsmith, DavidRicardo cho rằng Lợi nhuận là phần giá
trị d thừa ra ngoài giá trị hàng hoá do công nhân tạo ra luôn luôn lớn hơn số
tiền công mà công nhân đợc hởng và phần chênh lệch đó chính là lợi nhuận.
Nh vậy, t tởng của DavidRicardo đã có những tiến bộ hơn những lý luận của
Adamsmith, Ông đã chỉ ra đợc nguồn gốc của lợi nhuận chính là phần giá trị
thừa ngoài các chi phí trả cho công nhân và chính lợi nhuận do công nhân tạo
ra chứ không phải do toàn bộ t bản đầu t đẻ ra.
Vào thế kỷ 19, nguồn gốc của lợi nhuận mới đợc nhận thức một cách
đúng đắn qua sự phân tích của K.Marx. Bằng vào những lí luận khoa học và
Đặng Thu Trang
5 K35-E1
Luận văn tốt nghiệp ĐHTM
phơng pháp khoa học, K.Marx chỉ ra rằng tham gia vào quá trình tạo ra giá trị
hàng hoá có 3 bộ phận đó là : t bản bất biến, t bản khả biến và giá trị thặng d.
T bản bất biến là bộ phận giá trị tồn tại dới hình thái t liệu sản xuất
( nhà xởng, máy móc, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu phụ...) mà giá trị
của nó đợc bảo tồn và chuyển nguyên vẹn vào sản phẩm, không biến
đổi về lợng trong quá trình sản xuất ( ký hiệu là c)
T bản khả biến là bộ phận t bản tồn tại dới hình thức sức lao động của
công nhân làm thuê tạo ra và không đợc trả công , nói cách khác đó là
bộ phận t bản đợc dùng để mua sức lao động không tái hiện ra giá trị
nhng thông qua lao động trừu tợng của công nhân làm thuê mà tăng lên,
tức là biến đổi về mặt lợng ( ký hiệu là v)
Giá trị thặng d là phần giá trị dôi ra ngoài giá trị hàng hoá sức lao động
-Khi giá cả nhỏ hơn giá trị thì p<m
Nh vậy ta có thể thấy p có thể lớn hơn hoặc bằng hoặc nhỏ hơn m và đ-
ợc qui định bởi quan hệ cung cầu trên thị trờng. Nếu cung lớn hơn cầu thì giá
cả hàng hoá nhỏ hơn giá trị hàng hoá, do đó lợi nhuận của doanh nghiệp thu đ-
ợc là nhỏ hơn giá trị thặng d. Ngợc lại, khi cung nhỏ hơn cầu dẫn tới giá cả
hàng hoá sẽ lớn hơn giá trị hàng hoá và do đó lợi nhuận sẽ lớn hơn giá trị
thặng d.
Bên cạnh đó K.Marx còn chỉ ra đợc quan hệ mâu thuẫn giữa lợi nhuận
và tiền lơng. Việc hạ thấp tiền lơng trong khi các giá cả hàng hoá không đổi
làm cho lợi nhuận tăng lên và ngợc lại tiền lơng tăng lên trong khi giá cả hàng
hóa không tăng sẽ làm giảm lợi nhuận , biểu hiện sự đối lập về lợi ích kinh tế
giữa chủ t bản với công nhân làm thuê.
Trên đây là sự phân tích nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận dới hình
thái sản xuất t bản chủ nghĩa còn dới nền sản xuất xã hội chủ nghĩa thì lợi
nhuận còn giữ nguyên nguồn gốc và bản chất đó không? Câu trả lời sẽ là : Lợi
nhuận vẫn đợc tạo ra do bộ phận (v) tức là do ngời lao động tạo ra nhng khác ở
Đặng Thu Trang
7 K35-E1
Luận văn tốt nghiệp ĐHTM
chỗ: dới chế độ t bản chủ nghĩa thì t liệu sản xuất là thuộc về chủ nghĩa t bản,
do vậy mà lợi nhuận thu đợc thì chủ nghĩa t bản bỏ túi làm của riêng của
mình , còn dới chế độ xã hội chủ nghĩa thì dựa trên chế độ công hữu về t liệu
sản xuất do vậy sau khi đã trả tiền lơng cho ngời lao động thì phần lợi nhuận
đó sẽ đợc dùng để bổ xung vào nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp, phần
còn lại thì phân phối vào các quĩ với mục đích tiếp tục duy trì hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp và cuối cùng là để phục vụ lợi ích của ngời
lao động.
Kết luận: Qua phân tích trên ta có thể khẳng định bản chất của lợi
nhuận trong sản xuất kinh doanh là giá trị thặng d , là hình thức biến tớng của
giá trị thặng d - kết quả của lao động không đợc trả công, là quan hệ bóc lột
động sản xuất kinh doanh chính và lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh
phụ cụ thể:
*Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh chính
Lợi nhuận thu đợc từ hoạt động kinh doanh chính đợc hình thành từ việc
thực hiện chức năng và nhiệm vụ chủ yếu của doanh nghiệp, những nhiệm vụ
này đợc ghi trong quyết định thành lập doanh nghiệp và đợc ghi trong giấy
phép đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp. Bộ phận lợi nhuận này chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng mức lợi nhuận cuả doanh nghiệp, đồng thời đây cũng là
chỉ tiêu phản ánh việc thực hiện đúng chức năng và nhiệm vụ mà doanh
nghiệp đề ra.
Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh chính đợc xác định là khoản
chênh lệch giữa doanh thu từ hoạt động kinh doanh chính với chi từ hoạt
động kinh doanh chính đó.
*Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh phụ
Là lợi nhuận thu đợc từ các hoạt động đợc tiến hành ngoài chức năng
nhiệm vụ chính của doanh nghiệp,hỗ trợ các hoạt động kinh doanh chính của
doanh nghiệp và tận dụng tối đa các nguồn lực của doanh nghiệp, nâng cao
Đặng Thu Trang
9 K35-E1
Luận văn tốt nghiệp ĐHTM
hiệu quả sử dụng vốn, sức lao động và các yếu tố vật t kỹ thuật, máy móc thiết
bị.
Lợi nhuận thu đợc từ hoạt động kinh doanh phụ là khoản chênh lệch
giữa doanh thu từ hoạt động kinh doanh phụ và chi phí phân bổ cho hoạt động
kinh doanh phụ đó.
Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh phụ tuy chiếm tỷ trọng không lớn
trong tổng mức lợi nhuận song nó có ảnh hởng tới sự tăng giảm tổng mức lợi
nhuận mà doanh nghiệp thu đợc và đồng thời cho thấy việc tận dụng triệt để
các cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp, đa dạng hóa các cơ hội tìm kiếm lợi
nhuận, giảm thiểu những rủi ro trớc những biến đổi không thể lờng hết đợc từ
kinh doanh khác nhau mà doanh nghiệp thuộc diện chịu thuế gián thu khác
nhau. Thuế gián thu ở khâu tiêu thụ bao gồm:
Thuế XK
Thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có)
Thuế GTGT đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phơng pháp
trực tiếp và thuế GTGT đầu vào cha đợc khấu trừ đối với các doanh
nghiệp nộp thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ.
+Trị giá vốn hàng bán :
Là một nhân tố quan trọng ảnh hởng trực tiếp tới lợi nhuận mà doanh
nghiệp thu đợc. Trị giá vốn hàng bán tuỳ thuộc vào từng loại hình doanh
nghiệp khác nhau mà đợc xác định khác nhau.
1. Đối với doanh nghiệp thơng mại thì trị giá vốn hàng bán là chi phí
mua hàng hoá để tiêu thụ trong kỳ, nó bao gồm:
Giá mua của hàng hoá tiêu thụ trong kỳ
Đặng Thu Trang
11 K35-E1
Luận văn tốt nghiệp ĐHTM
Chi phí phát sinh trong quá trình mua hàng nh: chi phí vận
chuyển, bốc dỡ, chi phí đóng gói... phân bổ cho hàng hoá tiêu
thụ trong kỳ.
2. Đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì trị giá vốn hàng bán là
giá thành sản xuất của sản phẩm, lao vụ, dịch vụ, tiêu thụ trong kỳ bao
gồm:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí quản lý phân xởng
-Chi phí bán hàng
Là khoản chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá,
dịch vụ... Bao gồm tiền lơng và các khoản phụ cấp trả cho nhân viên bán hàng,
chi phí về vật liệu đóng gói, vận chuyển bảo quản hàng hoá. Chi phí khấu hao
Chi phí hoạt động tài chính: bao gồm chi phí tham gia liên doanh liên
kết, chi phí bán chứng khoán, chi phí môi giới cho vay, chi phí do chênh
lệch chuyển đổi ngoại tệ, chi phí trả lãi vay, chi phí dự phòng tài
chính...
2.2.3Lợi nhuận hoạt động bất th ờng
Là khoản lợi nhuận mà doanh nghiệp thu đợc từ các hoạt động kinh
doanh mang tính chất không thờng xuyên, doanh nghiệp không dự kiến trớc đ-
ợc hoặc có dự kiến nhng không có khả năng thực hiện đợc. Những khoản lợi
nhuận này thu đợc do nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan đem lại.
-Lợi nhuận hoạt động bất thờng đợc xác định nh sau:
Đặng Thu Trang
13 K35-E1
Luận văn tốt nghiệp ĐHTM
Doanh thu từ hoạt động bất thờng: là các khoản thu từ các hoạt động
kinh doanh không thờng xuyên, không dự tính trớc hoặc có nhng ít khả
năng xảy ra của doanh nghiệp, bao gồm các khoản nh: Thanh lý tài sản,
nhợng bán tài sản cố định đã hết thời hạn sử dụng, nợ khó đòi đã xử lý
nay đòi đợc, tiền phạt bồi thờng do phía đối tác vi phạm hợp đồng, các
khoản thu nhập bị bỏ sót...
Chi phí bất thờng: là các khoản chi phí phát sinh ta mà doanh nghiệp
không lờng trớc đợc bao gồm: Các khoản chi phí thanh lý, nhợng bán
tài sản cố định đã hết thời hạn sử dụng, khoản tiền bị phạt bồi thờng hợp
đồng và truy thu thuế, tài sản thiếu không xác định đợc nguyên nhân,
chi phí bị bỏ sót...
Từ các phơng pháp xác định lợi nhuận của doanh nghiệp ta có công
thức xác định tổng lợi nhuận của doanh nghiệp nh sau:
Nh vậy, có thể thấy do ngành hàng và lĩnh vực kinh doanh khác nhau
mà có sự khác nhau về tỷ trọng lợi nhuận của mỗi bộ phận lợi nhuận trong
tổng lợi nhuận của doanh nghiệp. Mặt khác tuỳ thuộc vào từng doanh nghiệp,
từng giai đoạn và thời kỳ kinh doanh mà kết cấu lợi nhuận của doanh nghiệp
thu thì sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Nếu tỷ suất lợi nhuận càng cao
thì chứng tỏ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả tốt, chi phí
cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là hợp lệ và ngợc lại.
Nếu đem so sánh tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu của doanh nghiệp với ngành
mà cho thấy thấp hơn điều đó chứng tỏ doanh nghiệp đang bán với giá thấp
hơn, hoặc giá thành sản phẩm của doanh nghiệp cao hơn (có chi phí sản xuất
kinh doanh cao hơn) so với các doanh nghiệp khác cùng ngành.
2.3.2Tỷ suất lợi nhuận trên vốn (doanh lợi vốn)
Là quan hệ tỷ lệ giữa số lợi nhuận đạt đợc trong kỳ so với số vốn bình
quân sử dụng trong kỳ bao gồm vốn cố định và vốn lu động.
Công thức xác định:
Đặng Thu Trang
15 K35-E1
Luận văn tốt nghiệp ĐHTM
Trong đó:
Pv : là tỷ suất lợi nhuận vốn trong kỳ
P : tổng lợi nhuận đạt đợc trong kỳ
Vbq: Tổng vốn kinh doanh bình quân trong kỳ
đợc xác định bằng công thức:
Trong đó:
V1,V2,..., Vn: là vốn kinh doanh tại các thời điểm kiểm kê ( tháng, quý)
n là số thời điểm kiểm kê
ý nghĩa: Chỉ tiêu kinh tế này phản ánh trình độ sử dụng tài sản vật t
tiền vốn của doanh nghiệp, hay nói cách khác phản ánh mức sinh lời của vốn
kinh doanh, tức là cứ một đồng vốn kinh doanh bỏ ra trong kỳ sẽ thu đợc bao
nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn càng cao thì chứng tỏ hiệu
quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp là tốt.
Doanh nghiệp cũng có thể sử dụng tỷ suất lợi nhuận trên vốn cố định
hay vốn lu động trên cơ sở đó xác định hiệu quả sử dụng của từng loại vốn
kinh doanh cuả doanh nghiệp.
của doanh nghiệp, vừa là mục tiêu, vừa là động lực, vừa là điều kiện tồn
tại và phát triển của doanh nghiệp.
Hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng tuy mỗi giai
đoạn có những mục tiêu và nhiệm vụ có thể khác nhau. Song cuối cùng các
mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể mà doanh nghiệp đề ra trong từng thời kỳ cũng
chỉ phục vụ cho mục đích cuối cùng của mình đó là tạo ra lợi nhuận đạt đợc.
Đặng Thu Trang
17 K35-E1
Luận văn tốt nghiệp ĐHTM
Kinh tế thị trờng tự do kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật qui định,
tự hạch toán lấy thu bù chi, lỗ chịu lãi hởng. Vì vậy, lợi nhuận vừa là mục tiêu,
vừa là động lực, vừa là điều kiện tồn tại của doanh nghiệp. Không có lợi
nhuận, doanh nghiệp sẽ không có vốn để tổ chức hoạt động kinh doanh nhằm
mục đích thu lợi cũng nh thực hiện việc tối đa hoá lợi nhuận. Cũng chính vì
lợi nhuận mà các doanh nghiệp không ngừng mở rộng và tăng cờng hoạt động
sản xuất kinh doanh của mình đáp ứng nhu cầu thị trờng dành thắng lợi trong
cạnh tranh. Chỉ hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận thì doanh nghiệp
mới có tiền đề vật chất để bảo toàn và phát triển vốn kinh doanh, mở rộng quy
mô kinh doanh, hay nói cách khác để tồn tại và phát triển.
Lợi nhuận là chỉ tiêu kinh tế cơ bản đánh giá hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp
Lợi nhuận là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh toàn bộ quá trình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, có tác động đến mọi mặt quá trình sản
xuất kinh doanh, là khoản chênh lệch giữa doanh thu mà doanh nghiệp thu đợc
với các khoản chi phí bỏ ra để thu đợc các khoản doanh thu đó.
Khi hiệu số giữa hai chỉ tiêu kinh tế này càng lớn thì có nghĩa là doanh
nghiệp hoạt động có hiệu quả, có lãi. Điều đó phản ánh rằng hoạt động của
doanh nghiệp đã đáp ứng đợc yêu cầu tự hạch toán lấy thu nhập trừ chi phí.
Ngợc lại chỉ tiêu lợi nhuận càng nhỏ và có khuynh hớng âm thì chứng
tỏ doanh nghiệp đang trong tình trạng hoạt động không có hiệu quả, thu không
kinh tế thị trờng cạnh tranh khốc liệt thì vốn có ý nghĩa rất quan trọng cho
phép doanh nghiệp thực hiện các dự án có qui mô lớn, thực hiện đầu t nghiên
cứu đổi mới và hoàn thiện công nghệ sản xuất kinh doanh, nâng cao uy tín là
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trờng. Nh vậy lợi nhuận là điều
kiện quan trọng đảm bảo cho tình hình tài chính của doanh nghiệp vững chắc.
*Đối với chủ thể đầu t và ngời lao động
Đặng Thu Trang
19 K35-E1
Luận văn tốt nghiệp ĐHTM
Đối với các chủ thể đầu t tham gia vào hoạt động kinh doanh trên thị tr-
ờng thì lợi nhuận đối với họ là niềm mơ ớc, là khát vọng và ớc muốn đạt đợc.
Còn đối với ngời lao động làm việc trong các doanh nghiệp thì lợi nhuận gắn
liền và có ảnh hởng trực tiếp đến lợi ích của họ, với họ lợi nhuận làm tăng thu
nhập và cải thiện đời sống, tăng lợi ích kinh tế của họ. Khi ngời lao động đợc
trả lơng thoả đáng, họ sẽ yên tâm lao động, phát huy đợc tinh thần lao động
sáng tạo, có trách nhiệm và tinh thần hết lòng vì công việc và nh vậy sẽ tăng đ-
ợc năng suất lao động chung của ngời lao động trong công ty đa hoạt động của
công ty ngày một tốt hơn.
*Đối với Nhà nớc
Lợi nhuận góp phần làm tăng nguồn thu ngân sách cho Nhà nớc, nâng
cao phúc lợi xã hội.
Đối với nhà nớc thì các doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh trong
nền kinh tế sẽ có những đóng góp đáng kể vào nguồn thu Ngân sách cho Nhà
nớc thông qua việc thực hiện nghĩa vụ nộp các khoản thuế vào Ngân sách Nhà
nớc nh: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt.
Thông qua việc thực hiện nghĩa vụ của mình đối với Ngân sách Nhà nớc,
Nhà nớc có thể thực hiện các hoạt động đầu t phát triển kinh tế quốc dân, thực
hiện công bằng xã hội. Xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân, lợi
nhuận là nguồn tích luỹ cơ bản để tái sản xuất mở rộng nền kinh tế quốc dân,
xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng các công trình phúc lợi xã hội, thành lập, cải
luôn tìm mọi biện pháp để nâng cao lợi nhuận và tối đa hoá lợi nhuận.
II. Những biện pháp nâng cao lợi nhuận trong doanh nghiệp .
1/ ý nghĩa của việc nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp
Xuất phát từ vai trò quan trọng của lợi nhuận, vừa là mục tiêu, vừa là
động lực , vừa là điều kiện tồn tại và phát triển của doanh nghiệp cho thấy việc
Đặng Thu Trang
21 K35-E1
Luận văn tốt nghiệp ĐHTM
nâng cao lợi nhuận là sự cần thiết tất yếu khách quan đối với mỗi doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trờng. Nếu doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh
doanh mà không thể tạo ra lợi nhuận thì cũng đồng nghĩa với việc các khoản
thu của doanh nghiệp không đủ để tự bù đắp chi phí, có nghĩa là doanh nghiệp
đang trên đà làm ăn thua lỗ và nếu cứ kéo dài tình trạng trên thì tất yếu doanh
nghiệp sẽ phải phá sản. Điều này cho thấy chỉ khi nào doanh nghiệp làm ăn có
lợi nhuận thì mới cho phép doanh nghiệp tồn tại và phát triển.
Thực tế trớc đây , khi nền kinh tế nớc ta đợc quản lý theo cơ chế tập
trung bao cấp, Nhà nớc là ngời chịu trách nhiệm toàn bộ quá trình hoạt động
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, kết quả kinh doanh có lãi hay lỗ
không ảnh hởng tới doanh nghiệp. Đây chính là một nguyên nhân dẫn tới các
doanh nghiệp trong thời kỳ này nói riêng và nền kinh tế nớc ta nói chung hoạt
động không hiệu quả , năng suất kém, sản xuất trì trệ, đời sống của ngời lao
động không đợc đảm bảo .
Khi nền kinh tế nớc ta chuyển đổi sang cơ chế thị trờng nhà nớc chỉ
quản lý trên tầm vĩ mô, còn các doanh nghiệp phải độc lập , chủ động và tự
chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh của minh. Hơn nữa trong
nền kinh tế có sự tham gia của rất nhiều doanh nghiệp tạo nên sự cạnh tranh
rất gay gắt trên thơng trờng. Quy luật cạnh tranh rất khắc nghiệt chỉ chấp nhận
những doanh nghiệp làm ăn có lãi và đào thải những doanh nghiệp làm ăn thua
lỗ, đặt doanh nghiệp trớc thách thức muốn tồn tại và phát triển đợc thì phải
thực hiện đợc chỉ tiêu lợi nhuận.
hoả hoạn, động đất,..., sự thay đổi từ phía môi trờng tự nhiên làm doanh
nghiệp không lờng trớc đợc, nhiều khi gây thiệt hại cho hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ảnh hởng tới lợi nhuận mà doanh
nghiệp đạt đợc.
Sự thay đổi về cơ chế và chính sách quản lý kinh tế của Nhà nớc ở tầm
vĩ mô.
Đặng Thu Trang
23 K35-E1
Luận văn tốt nghiệp ĐHTM
Những chính sách kinh tế của Nhà nớc có thể tác động tích cực hoặc
tiêu cực tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm những
thay đổi về chính sách thuế , chính sách quản lý ngoại tệ, những qui định về
việc chuyển những khoản thu nhập về quốc gia ... Những chính sách và cơ chế
quản lý vĩ mô của Nhà nớc nếu phù hợp sẽ tạo cho các doanh nghiệp có điều
kiện phát triển, còn ngợc lại nó sẽ kìm hãm sự phát triển của các doanh nghiệp
do đó sẽ có những khó khăn cho doanh nghiệp trong việc thực hiện chỉ tiêu
lợi nhuận của mình.
Sự thay đổi về thể chế chính trị của quốc gia: cũng là một nhân tố nằm
ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp. Trong một quốc gia khi có sự
rối loạn về chính trị thì nguy cơ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
tại quốc gia đó sẽ bị đe doạ rất nghiêm trọng , hơn nữa những thay đổi
về thể chế chính trị của quốc gia sẽ tác động tới việc thay đổi hệ thống
luật pháp từ quốc gia đó nhiều khi dẫn đến những rủi ro trng thu của
chính phủ quốc gia đó. Vì vậy mà ảnh hởng rất lớn tới lợi nhuận doanh
nghiệp sẽ đạt đợc.
Sự thay đổi về môi trờng kinh tế của một quốc gia. Chiều hớng nền kinh
tế đất nớc rơi vào tình trạng suy thoái , kinh tế đình trệ không phát triển
đợc... làm cho các doanh nghiệp phải cắt giảm hoạt động của mình và
do đó có nguy cơ làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp.
Mặt khác nhiều nền kinh tế có lạm phát cao , đồng tiền trong nớc mất
sự biến động của tỷ giá hối đoái ... là những nhân tố có ảnh hởng tới lợi nhuận
của doanh nghiệp khi doanh nghiệp thực hiện các hoạt động kinh doanh vợt ra
ngoài biên giới.
2.2Các nhân tố chủ quan
Bên cạnh các nhân tố khách quan kể trên, các nhân tố chủ quan có ảnh
hởng rất lớn tới lợi nhuận của doanh nghiệp đó là:
Đặng Thu Trang
25 K35-E1