Báo cáo Nghiệm thu - Nghiên cứu hoàn thiện và phát triển mạng lưới tuyến xe buýt ở thành phố Hồ Chí Minh - Chương 10: Tổng kết hiện trạng - pdf 11

Download Báo cáo Nghiệm thu - Nghiên cứu hoàn thiện và phát triển mạng lưới tuyến xe buýt ở thành phố Hồ Chí Minh - Chương 10: Tổng kết hiện trạng miễn phí



10.1 Hiện trạng kinh tế - xã hội TPHCM
Với diện tích 2095 km2, dân số 6,8 triệu người (không tính khách vãng lai) đến 8,725 triệu người, thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế - thương mại, công nghiệp, văn hóa - khoa học lớn nhất ở khu vực phía Nam. Mức tăng trưởng GDP hàng năm luôn ở mức cao đạt 10 – 13%, chiếm hơn 20% GDP cả nước.
Mức độ tập trung công nghiệp của thành phố rất cao: có gần 28.600 cơ sở sản xuất công nghiệp, trong đó 80% nằm đan xen trong nội thành; 13 khu công nghiệp – khu chế xuất. Các khu công nghiệp thu hút lực lượng lao động, kỹ thuật từ nơi khác đến. Điều này đã tạo ra hiện tượng di dân với số lượng lớn từ nơi khác mà chủ yếu là từ nông thôn lên thành phố, dẫn đến sự mất cân đối về nhà ở, điện, nước, hạ tầng xã hội.
Hiện ở các quận nội thành, mật độ dân số trung bình 53.159 người/km2 đất đô thị (bao gồm đất ở, đất giao thông, công viên ). Bình quân cho một đầu người chỉ vào khoảng 14,3 ÷ 19,2 m2/người. Do mật độ dân số quá cao, tập trung ở các quận trung tâm nên việc mở rộng đường và nút giao thông cho tương ứng với tốc độ phát triển kinh tế – xã hội thường rất khó khăn do chi phí đền bù - giải tỏa - tái định cư rất lớn .
Thành phố hiện có hơn 4 triệu ô tô, mô tô tham gia giao thông hàng ngày (đến 12/2008). Tỉ lệ sở hữu phương tiện giao thông cá nhân của TPHCM thuộc vào loại cao nhất thế giới, bình quân 539 mô tô/1000 dân và 592 ô tô- mô tô/1000 dân. Trong khi đó, phương tiện vận tải hành khách công cộng chỉ có trên 3.200 xe buýt và trên 7.000 xe taxi, đáp ứng được 7,2% nhu cầu đi lại hàng ngày của người dân. Đa số phương tiện đi lại hiện nay chủ yếu là giao thông cá nhân (xe gắn máy, xe ô tô cá nhân, xe đạp) trong khi theo tiêu chuẩn nước ngoài, cơ cấu phương tiện giao
thông công cộng của một thành phố văn minh và hiện đại phải đáp ứng trên 50% nhu cầu đi lại.
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, tổng lượng mưa trung bình tại TP.HCM vào khoảng 1930mm, tập trung vào thời gian từ tháng 5 đến tháng 11 hằng năm. Lượng mưa có vũ lượng trên 100mm, thậm chí 160mm như trận mưa vào ngày 1/8/2008 xuất hiện ngày càng nhiều. Ngoài những trận mưa lớn TP.HCM còn phải chịu những đợt triều cường khiến nhiều đoạn đường thuộc "vùng trũng" bị ngập từ 1 - 2 tiếng đồng hồ. Đỉnh triều cường buổi sáng xuất hiện vào 6h00 - 6h30 sáng là thời điểm người dân đi làm, nên rất dễ xảy ra tình trạng kẹt xe tại một số tuyến đường.


/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-1495/
++ Ai muốn tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho!

Tóm tắt nội dung:

Chương 10 PGS.TS Phạm Xuân Mai
Nghiên cứu hoàn thiện và phát triển mạng lưới tuyến xe buýt ở TP.HCM
170
CHƢƠNG 10
TỔNG KẾT HIỆN TRẠNG
10.1 Hiện trạng kinh tế - xã hội TPHCM
Với diện tích 2095 km2, dân số 6,8 triệu người (không tính khách vãng lai)
đến 8,725 triệu người, thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế - thương mại,
công nghiệp, văn hóa - khoa học lớn nhất ở khu vực phía Nam. Mức tăng trưởng
GDP hàng năm luôn ở mức cao đạt 10 – 13%, chiếm hơn 20% GDP cả nước.
Mức độ tập trung công nghiệp của thành phố rất cao: có gần 28.600 cơ sở sản
xuất công nghiệp, trong đó 80% nằm đan xen trong nội thành; 13 khu công nghiệp –
khu chế xuất. Các khu công nghiệp thu hút lực lượng lao động, kỹ thuật từ nơi khác
đến. Điều này đã tạo ra hiện tượng di dân với số lượng lớn từ nơi khác mà chủ yếu
là từ nông thôn lên thành phố, dẫn đến sự mất cân đối về nhà ở, điện, nước, hạ tầng
xã hội.
Hiện ở các quận nội thành, mật độ dân số trung bình 53.159 người/km2 đất đô
thị (bao gồm đất ở, đất giao thông, công viên…). Bình quân cho một đầu người chỉ
vào khoảng 14,3 ÷ 19,2 m2/người. Do mật độ dân số quá cao, tập trung ở các quận
trung tâm nên việc mở rộng đường và nút giao thông cho tương ứng với tốc độ phát
triển kinh tế – xã hội thường rất khó khăn do chi phí đền bù - giải tỏa - tái định cư
rất lớn .
Thành phố hiện có hơn 4 triệu ô tô, mô tô tham gia giao thông hàng ngày (đến
12/2008). Tỉ lệ sở hữu phương tiện giao thông cá nhân của TPHCM thuộc vào loại
cao nhất thế giới, bình quân 539 mô tô/1000 dân và 592 ô tô- mô tô/1000 dân.
Trong khi đó, phương tiện vận tải hành khách công cộng chỉ có trên 3.200 xe buýt
và trên 7.000 xe taxi, đáp ứng được 7,2% nhu cầu đi lại hàng ngày của người dân.
Đa số phương tiện đi lại hiện nay chủ yếu là giao thông cá nhân (xe gắn máy, xe ô
tô cá nhân, xe đạp) trong khi theo tiêu chuẩn nước ngoài, cơ cấu phương tiện giao
Chương 10 PGS.TS Phạm Xuân Mai
Nghiên cứu hoàn thiện và phát triển mạng lưới tuyến xe buýt ở TP.HCM
171
thông công cộng của một thành phố văn minh và hiện đại phải đáp ứng trên 50%
nhu cầu đi lại.
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, tổng lượng mưa
trung bình tại TP.HCM vào khoảng 1930mm, tập trung vào thời gian từ tháng 5 đến
tháng 11 hằng năm. Lượng mưa có vũ lượng trên 100mm, thậm chí 160mm như
trận mưa vào ngày 1/8/2008 xuất hiện ngày càng nhiều. Ngoài những trận mưa lớn
TP.HCM còn phải chịu những đợt triều cường khiến nhiều đoạn đường thuộc "vùng
trũng" bị ngập từ 1 - 2 tiếng đồng hồ. Đỉnh triều cường buổi sáng xuất hiện vào
6h00 - 6h30 sáng là thời điểm người dân đi làm, nên rất dễ xảy ra tình trạng kẹt xe
tại một số tuyến đường.
10.2 Hiện trạng mạng lƣới đƣờng TPHCM
Thành phố Hồ Chí Minh nối với các tỉnh lân cận Bà Rịa-Vũng Tàu, Đồng
Nai, Bình Dương, Tây Ninh, Long An chủ yếu bằng các tuyến quốc lộ. Hệ thống
đường trục đã hình thành gồm hướng đông bắc (QL1 cũ, xa lộ Hà Nội nối với quốc
lộ 1A), hướng bắc và tây bắc (QL13, QL22, TL15, TL16), hướng tây và tây nam
(QL1, TL10), hướng đông (QL50, LTL25 và Nhà Bè-Duyên Hải). Các đường
xuyên tâm và vành đai đã được hoạch định nhưng hầu hết chưa được xây dựng, các
trục hướng tâm đã và đang được cải tạo tuy nhiên vẫn chưa đạt được yêu cầu quy
hoạch. Các đường cao tốc từ TPHCM đi các vùng cũng đã được quy hoạch và sẽ
được xây dựng.
Hệ thống đường giao thông bộ hiện nay ở thành phố được tổ chức theo kiểu
mạng giao thông xuyên tâm gồm các trục chính phân bổ theo các hướng Đông Bắc
– Tây Nam và Tây Bắc – Đông Nam, kết hợp với dạng hình rẻ quạt và bàn cờ. Mọi
hoạt động giao thông đối ngoại của thành phố hầu như phải thông qua các trục
chính này, dẫn đến hệ quả là mật độ giao thông trên các trục này rất lớn, dẫn đến tắc
nghẽn giao thông.
Mạng lưới đường nội đô của thành phố Hồ Chí Minh phát triển mất cân đối .
Trừ một vài khu vực được quy hoạch cụ thể trước, đa số đều phát triển một cách tùy
tiện thể hiện qua các khía cạnh như: kích thước, khổ đường, lộ giới, vỉa hè… rất
khác nhau ở từng khu vực. Phần lớn các đường đều hẹp, chỉ có khoảng 14% diện
Chương 10 PGS.TS Phạm Xuân Mai
Nghiên cứu hoàn thiện và phát triển mạng lưới tuyến xe buýt ở TP.HCM
172
tích đường có lòng đường rộng trên 12m ; 51% diện tích đường có lòng đường rộng
từ 7m đến 12m ; 35% diện tích đường còn lại có lòng đường rộng dưới 7m. Đường
hẹp cùng với sự xuất hiện quá nhiều của phương tiện cá nhân, đặc biệt là xe gắn
máy đã làm diện tích lưu thông trên đường giảm, dẫn đến tình trạng ùn tắc giao
thông trên nhiều tuyến đường. Toàn thành phố có trên 1440 nút giao cắt chủ yếu là
đồng mức chỉ có 8 nút giao thông mới xây dựng là khác mức, chủ yếu ở các cửa
ngõ thành phố.
Thành phố còn có nhiều đường hẻm với chiều rộng rất khác nhau. Hầu hết
các quận nội thành đều có những con đường, khu phố, đường hẻm nhỏ với nhiều bề
rộng khác nhau. Tất cả tạo thành một mạng lưới các đường hẻm hỗn tạp, không có
quy hoạch, gây rất nhiều khó khăn trong việc phòng chữa cháy, phòng chữa dịch
bệnh và nhất là đi lại gắn kết nhanh với hệ thống đường lớn …. Các đường hẻm nhỏ
chủ yếu tập trung ở các quận đông dân như quận 10, 11, 5, Tân Bình, Bình Thạnh.
Mạng lưới đường hẻm có thể ứng dụng cho giao thông công cộng là không nhiều vì
có hơn 50% con đường có bề rộng nhỏ hơn 7 m.
Đất dành cho giao thông thấp, chiếm 1,29% diện tích đất tự nhiên của thành
phố, trong khi đó tỉ lệ này ở nước ngoài là 20 – 25%, diện tích đất giao thông không
đồng đều trên địa bàn toàn thành phố. Mật độ đường trung bình của thành phố là
1,43 km/km2, thấp hơn rất nhiều so với tiêu chuẩn là 4 – 6 km/km2 và có sự chênh
lệch với nhau khá lớn giữa hai khu vực nội thành và ngoại thành. Hệ số mật độ diện
tích đường trên diện tích đất của toàn thành phố chỉ đạt 0,012 km2/km2 (bằng 1,2%),
thấp hơn rất nhiều so với tiêu chuẩn của một thành phố có quy mô lớn là 15%
Mạng lưới đường sá của thành phố đã không đáp ứng được các yêu cầu khi
đưa xe buýt vào hoạt động như không đủ bề rộng mặt đường, mật độ đường còn
thấp, phân bố không đồng đều ở từng quận huyện, chất lượng mặt đường đang bị
xuống cấp do sử dụng lâu năm mà chưa có tái tạo, nâng cấp lại, do tình trạng đào
xới mặt đường liên tục, mạng lưới đường hẻm phức tạp, chằng chịt. Tất cả các
nguyên nhân kể trên đã dẫn đến: xe buýt hoạt động không hiệu quả, không đúng
năng lực vận chuyển, trùng lắp ở nhiều tuyến đường, khả năng ứng dụng GTCC
trong mạng lưới đường hẻm chưa có, dòng xe lưu thông rối loạn dẫn đến gây kẹt xe,
ách tắc giao thông ở các đoạn đường đang thi công.
Chương 10 PGS.TS Phạm Xuân Mai
Nghiên cứu hoàn thiện và phát triển mạng lưới tuyến xe buýt ở TP.HCM
173
10.3 Hiện trạng mạng lƣới tuyến xe bu...

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status