Download Đề án Việt Nam với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế miễn phí
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN 1
MỤC LỤC 2
MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1 Khái niệm và bản chất của hội nhập kinh tế quốc tế 6
1.1.1 Khái niệm 6
1.1.2 Bản chất của hội nhập kinh tế quốc tế. 6
1.2 Hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng khách quan 7
1.3 Tình hình thương mại toàn cầu 9
1.4 Quan điểm và đường lối của Đảng ta về hội nhập kinh tế quốc tế .10
CHƯƠNG 2 NHỮNG THỬ THÁCH VÀ THÀNH TỰU MÀ VIỆT NAM
ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ
2.1 Những thử thách đặt ra cho Việt Nam trên con đường hội nhập 14
2.1.1 Những vấn đề thử thách trong nước 14
2.1.2 Thử thách ngoài nước 16
2.2 Những thành tựu mà Việt Nam đạt được trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 18
2.2.1 Hoạt động thương mại trong nước 18
2.2.2 Hoạt động xuất nhập khẩu 21
2.2.3 Hội nhập kinh tế thương mại quốc tế 24
/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-34850/
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download choTóm tắt nội dung:
ăn Hóa – Thông Tin với công tác tư tưởng , thông tin, tuyên truyền; Bộ Tư Pháp với nhiệm vụ xây dựng , sửa đổi bổ sung pháp luật, cơ chế, chính sách kinh tế thương mại; Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư, Uỷ ban quốc gia về hợp tác quốc tế với nhiệm vụ nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc tế với nhiện vụ tổng hợp và hoàn thiện chiến lược tổng thể về hội nhập kinhtế quốc tế; Bộ nội vụ chủ trì cùng với Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, Bộ Lao Động – Thương Binh và Xã Hội, Bôi Tư Pháp ... với nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực; Bộ Ngoại Giao với nhiệm vụ củng cố an ninh quốc phòng. Trên cơ sở chỉ đạo của Bộ Chính Trị và Chính Phủ, Bộ Thương Mại, Bộ Tài Chính, Uỷ Ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế với nhiệm vụ mở rộng thị trường xuất khẩu, tranh thủ đầu tư và trợ giúp kỹ thuật của các nước và tổ chức quốc tế. Và cuối cùng là công tác kiện toàn tổ chức các bộ, cơ quan của Chính Phủ.
CHƯƠNG 2 NHỮNG THỬ THÁCH VÀ THÀNH TỰU MÀ VIỆT
NAM ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ
Những thử thách đặt ra cho Việt Nam trên con đường hội nhập
Những vấn đề thử thách trong nước
* Đối với doanh nghiệp trong nước:
Hội nhập đòi hởi Việt Nam mở cửa thị trường, nhất là về khu vực công nghiệp chế biến hàng hoá để cho hàng ngoại quốc tự do cạnh tranh với hàng nội hoá. Hai nguyên tắc thương mại chính (tối huệ quốc và quy chế công dân) bảo đảm đầu tư ngoại quốc được đối xử bình đẳng như dân bản xứ, nghĩa là không bị kỳ thị hay gây khó khăn trong việc đầu tư sản xuất. Vấn đề đặt ra cho Việt Nam là đa số hàng bản xứ đều do doanh nghiệp nhà nước độc quyền sản xuất, còn doanh nghiệp tư nhân thì chưa nắm vai trò quan trọng. Sau hội nhập, doanh nghịêp nhà nước bắt buột phải đạt được mức sản xuất tối ưu để cạnh tranh ngoại quốc. Muốn như vậy các doanh nghiệp này cần được giúp vốn đầu tư đầy đủ để phát triển về kỹ thuật sản xuất lẫn khả năng quản trị. Mặt khác doanh nghịep nào yếu kém, tiếp tục thô lỗ thâm hụt, cô phương sản xuất thì phải bị đào thải. Như vậy, Việt Nam cần có một hệ thống doanh nghịêp nhà nước nghiêm khắc minh bạch rõ ràng, mà lại vừa áp dụng đồng đề không thiên vị.
* Lao động dư thừa:
Cải cách doanh nghiệp nhà nước thì sẽ dư thừa lao động. Nếu doanh nghiệp nhà nước phải bán đi, chia cổ phần, hay giao cho tư nhân quản trị thì vấn đề không tránh được là ban quản trị mới sẽ cắt giảm chi phí sản xuất bằng cách cho lao dộng nghỉ việc. Thành ra giải pháp cải cách doanh nghiệp kéo ra vấn đề thất nghiệp. Thất nghiệp là chỗ khách biệt chính yếu giữa nhà nước và tư nhân.
Đối với nhà nước, mục tiêu an sinh xã hội được xếp ngang hàng với các mục tiêu kinh tế khác. Ngược lại, đối với tư nhân lợi nhuận được coi là mục tiêu tối cao. Nếu cần giảm chi phí lao động để giữ lợi nhuận thì doanh nghiệp tư nhân sẽ không ngần ngại sao thải lao động. Việt Nam cần phảo có chương trình cải cách lương bổng đi song với cải cách doanh nghiệp Nhà Nước để bảo vệ lao động trong giai đoạn hội nhập, lao động là tài nguyên của đất nước, không thể phí phạm bằng cách sống cùng kiệt khó trong xã hội mới. Như vậy, lao động từ các doanh nghiệp nhà nước nếu còn trẻ và đủ sức làm việc cần được huấn luyện để có thêm khả năng làm viêc trong môi trường mới.
* Xoá đói giảm nghèo:
Xáo trộn trong thị trường lao động là phản ứng ngắn hạn của nền kinh tế bị co giãn dưới sức ép của hội nhập. Do đó cần có chích sách lao động hay xã hội an sinh để điều chỉnh nền kinh tế trong lúc hội nhập. Đối với nước chậm tiến như Việt Nam, hội nhập hay không hội nhập, nạn đói luôn luôn là một vấ đề trường kỳ nan giải. Đó là chưa kể thêm vấn đề chênh lệch giàu cùng kiệt giữa nông thôn và thành thị: 80% dân số sống ở nông thôn chỉ chiếm dưới phân nữa sản lượng quốc gia; ngược lại 20% dân số sống trong thành thị chiếm hơn phân nữa sản lượng quốc gia. Hội nhập đưa tói những câu hỏi cực kỳ quan trọng về nghè đói. Liệu hội nhập sẽ làm tăng hay giảm cùng kiệt đói? Nếu hội nhập làm tăng cùng kiệt đói thì phải có những chính sách nào để xoá đói giảm cùng kiệt để chạy sông song với hội nhập? Hơn nữa, liệu 80% dân Việt Nam sống ở nông thôn có thể hưởng thành quả của hội nhập hay không? Hay là hội nhập chỉ có lợi cho 20% dân số sống ở thành thị? Làm cách nào để toàn dân trong nước được hưởng đồng đều kết qủa của hội nhập? Câu hỏi nằn trong chích sách phân chia lợi tức đồng đều giữa nông thôn và thành thị.
* Cấu trúc kinh tế:
Việt Nam cập nhật hoá nhiều văn kiện pháp luật cho phù hợp cới hội nhập. Các cơ sở hạ tầng về luật pháp (như luật sở hữu trí tuệ, đầu tư ngoại quốc, tài khoản thuế khoá, tư bản và lao động) cần được sử đổi hay tạo dựng để bạo vệ đầu tư cũng như tiêu dùng trong nước. Căn bản lý thuyết kinh tế thị trường dựa trên ba thành phần chính: sản xuất, tiêu thị và chính phủ. Thành phần chủ động thường là người thiêu thụ nắm quyền sở hữu cơ cấu sản xuất trong nước. Tuy nhiên, nền kinh tế chuyển tiếp Việt Nam chính phủ đóng vai trò chủ động và giữ hết cơ cấu sản xuất (kể cả tư bản và ruộng đất). Sản xuất cũng lại là chính phủ dưới dạng doanh nghiệp nhà nước. Người tiêu thụ đóng vai trò rất phụ và thụ động, nghĩa là chỉ làm công cụ và tiêu thụ. Còn doanh nghiệp tư nhân thì vừa ít vừa nhỏ không đủ sức cạnh tranh do hiệu quả sản xuất thấp. Như vậy, thử thách cho Việt Nam là phải xây dựng kịp thời cơ sở doanh nghiệp ( tư nhân hay là nhà nước hay cả hai) cho dù có khả năng cạnh tranh với ngoại quốc.
Thử thách ngoài nước
* Quan hệ với Trung Quốc:
Trung Quốc luôn đóng một vai trò quan trọng đối với Việt Nam về lịch sử, văn hoá, chính trị và kinh tế. Hai nước đề kết thúc thương thuyết với Mỹ năm 2001, vừa qua thiết lập quan hệ thương mại vừa để thoã mãn điều kiện gia nhập WTO. Ngày nay Trung Quốc cũng đã gia nhập vào WTO rồi. Vấn đề đặt ra cho Việt Nam là nhận định vai trò quan hệ vơi Trung Quốc; Việt Nam với Trung Quốc nên được cơi là bổ sung (như bát với đũa) hay lf thay thế (như cơm với cháo)? Trong truờng hợp nào thì hàng Việt Nam nên cạnh tranh với hàng Trung Quốc? Và trong trường hợp nào thì hàng Việt Nam nên bổ sung hàng Trung Quốc? Trên đường hội nhập trong 10 năm tới, hai nước sẽ đều là thành viên chính thức của WTO, APEC,…... khi đó lợi điểm của Việt Nam đối với Trung Quốc sẽ ra sao? Liệu hàng Việt Nam có khả năng cạnh tranh cới hàng Trung Quốc trong thị trường tự do hay không? Đó là vấn đề lớn của Việt Nam khi gia nhập nền kinh tế quốc tế mà Trung Quốc lại là hàng xóm lớn cạnh ta, và trong thị trường hiện nay hàng nhái của Trung Quốc đã tràn ngập trên cả thế giới với những ưu điển là giá rẽ mà mẫu mà đẹp hợp thời trang, thi hiếu của giới trẻ và ngay cả Việt nam cũng không thể tránh khỏi tình trạng hàng nhái này. Vậy liệu hàng hoá của doanh nghiệp trong nước sẽ cạnh tranh ra sao khi hàng nhái...