Download Tiểu luận Giải pháp cho vấn đề phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam miễn phí
Mục lục
I. Khái niệm về kinh tế tri thức 1
II. Những đặc trưng và tác động của nền kinh tế tri thức đối với sự phát triển 2
1. Đặc trưng của nền kinh tế tri thức 2
2. Những tác động của nền kinh tế tri thức đối với sự phát triển 3
a. Những tác động của nền kinh tế tri thức đối với sự phát triển chung của Thế Giới
b. Những tác động của nền kinh tế tri thức đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam
III. Vấn đề phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam 5
1. Thời cơ và thách thức của Việt Nam để phát triển kinh tế tri thức 5
2. Thực trạng phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay 6
a. Thực trạng cơ cấu kinh tế của nước ta hiện nay
b. Thưc trạng phát triển công nghệ thông tin theo hướng tri thức hóa
c. Thực trạng phát triển công nghệ sinh học theo hướng tri thức hóa
d. Thực trạng nền giáo dục và đào tạo của Việt Nam hiện nay
3. Giải pháp cho vấn đề phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam 8
Các tài liệu tham khảo 13
/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-36035/
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download choTóm tắt nội dung:
về kỹ năng vượt trội và sự sáng tạo.
Những tác động to lớn của nền kinh tế tri thức đối với sự phát triển
Những tác động của kinh tế tri thức đối với sự phát triển chung của nhân loại
Nền kinh tế tri thức có một đóng góp vô cùng to lớn đối với sự phát triển của nhân loại. Việc tiến lên nền kinh tế tri thức là một xu thế khách quan của sự phát triển. Nó trở thành động lực của sự tăng trưởng kinh tế. Chính vì vậy, hiện nay, các nước đều dành sự quan tâm hàng đầu cho việc xây dựng và thực hiện chiến lược quốc gia về xây dựng và phát triển đội ngũ tri thức. Ở đâu có nhiều tri thức thì ở đó có nền kinh tế phát triển hơn; nhưng công ty, đơn vị nào có nhiều tri thức sẽ phát triển mạnh hơn; những cá nhân nào có nhiều tri thức, có trình độ sẽ nhận được việc làm tốt hơn, thu nhập cao hơn…. Trong nhiều năm qua, đặc biệt là gần đây, khoa học và công nghệ đã phát triển mạnh mẽ, đội ngũ tri thức là là lực lượng chủ chốt góp phần phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia cũng như của thế giới. Tác động của nền kinh tế tri thức được thể hiện:
Đẩy mạnh quá trình toàn cầu hóa. Do kinh tế thức dựa chủ yếu trên việc tạo ra và sử dụng vốn tri thức mang bản chất lan rộng, lan tỏa không biên giới, trong đó phải kể trước hết là khoa học và công nghệ. Đặt biệt là lĩnh vực tri thức, lĩnh vực sản xuất thế giới và các hoạt động kinh tế của con người ngày càng quốc tế hóa và đa phương hóa trên phạm vi toàn cầu. Để phát huy mặt mặt tích cực của toàn cầu hóa ở nhiều nước, nhất là ở các nước phát triển đã sử dụng các khoa học và công nghệ cao trong sản xuất. Các công ty cũng đã nắm bắt tiến bộ khoa học công nghệ để tăng sức cạnh tranh mở rộng thị trường trong và ngoài nước. Trong những thập niên qua khoa học và công nghệ đã đóng góp tới hơn 60% GDP trong các nước phát triển.
Phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc và rộng khắp trên toàn cầu. Trong nền kinh tế tri thức thì sự phân công lao động phát triển theo chiều rộng lẫn chiều sâu. Tri thức chiếm tỷ lệ cao trong mỗi sản phẩm. Các nước có khoa học công nghệ đầu tư phát triển những ngành kinh tế dựa trên tri thức. Ngược lại các nước đang và kém phát triển thì chú trọng phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng tri thức đơn giản. Nếu có tham gia vào các ngành kinh tế công nghệ cao thì cũng không tiếp cận được những bí mật công nghệ có tính chất quyết định với quan hệ sản xuất, quản lý và thường bị các công ty xuyên quốc gia chi phối, làm cho phá sản.
Cơ cấu kinh tế thế giới thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng của các ngành công nghiệp, dịch vụ và chiếm ưu thế trong tổng sản phẩm (GDP). Nền kinh tế tri thức đã tác động làm cho cơ cấu kinh tế thế giới thay đổi mạnh mẽ theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ và giảm các ngành kinh tế nông nghiệp. Thống kê trong những năm 60, các ngành Nông-Lâm-Ngư chiếm 10,4% GDP thế giới; Công nghiệp chiếm 28,4%; Dịch vụ chiếm 50,4%. Đến những năm 90, tỷ lệ các ngành trên theo thứ tự cũng đã có sự thay đổi 4,4%; 21%; 62,4% GDP thế giới. Như vậy các ngành kinh tế tri thức chiếm vị trí chủ chốt trong thương mại quốc tế. Thương mại điện tử là khu vực phát triển nhanh nhất và đóng góp vai trò hàng đầu trong thương mại quốc tế (từ 17 tỷ USD năm 1997 lên 70 tỷ năm 1999 và 10000 tỷ năm 2002).
Nền kinh tế tri thức tạo cơ sở cho kinh tế-xã hội phát triển bền vững. Kinh tế tri thức có những đặc điểm khác hơn các nền kinh tế khác, nó không lệ thuộc qua nhiều vào các yếu tố tự nhiên mà chủ yếu dựa vào con người. Chính vì vậy mà nó tạo điều kiện phát triển bền vững. Những thay đổi đa dạng do kinh tế tri thức tác động đặt ra cơ hội và thách thức cho mỗi quốc gia. Nếu các nước đang phát triển không nhận thức vai trò của tri thức trong sự phát triển thì các nước đó sẽ bị tụt hậu so với các nước khác.
“Kinh tế tri thức” được xem như là một hành động hiệu quả. Một hành động được xem là hiệu quả tức là nó đã đem lại kết quả như mong muốn.Đối với nhà nước thì đó là các giá trị xã hội được tạo ra, đối với các doanh nghiệp thì đó là giá trị thị trường mong đợi. Các hành động tạo ra giá trị được tổ chức thông qua các hành động kinh doanh hay các quá trình tác nghiệp. Kết quả mà kinh tế tri thức mang lại là giá tri sản phẩm tăng cao. Thu nhập do nền kinh tế này mang lại cũng cho thấy được sự đóng góp của nó. Ví dụ: “ thu nhập bình quân của 20 nước giàu nhất thế giới cao gấp 37 lần so với 20 nước cùng kiệt nhất. Tỷ lệ được tăng gấp hai lần trong vòng 40 năm qua. Lý do chủ yếu là do không có sự tăng trưởng kinh tế đáng kể tại các nước cùng kiệt do thiếu vốn, thiếu các nguồn lực phát triển cần thiết, đặc biệt là khoa học tri thức và công nghệ”- Theo báo cáo của ngân hàng thế giới( WB) năm 2003.
Những tác động của nền kinh tế tri thức đối với sự phát triển của Việt Nam
Nền kinh tế tri thức đã có những tác động mạnh mẽ đến các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Những tác động đó được thể hiện như sau:
Cơ cấu của nền kinh tế đã có sự thay đổi rõ rệt theo hướng hình thành các ngành sản xuất, dich vụ tri thức hóa. Các ngành kinh tế sản xuất, dịch vụ được chú trọng phát triển theo hướng tri thức hóa, mở cửa hội nhập. Xuất phát từ nhưng đặc điểm khác nhau nền kinh tế sản xuất nông nghiệp, nền kinh tế sản xuất công nghiệp và nền kinh tế tri thức. Chính vì điều đó nên cơ cấu kinh tế của nước ta cũng phải có sự thay đổi cho phù hợp với sự phát triển, để tiến lên nền kinh tế tri thức. Các ngành sản xuất, dịch vụ có trình độ chuyên môn cao, vốn đầu tư nhiều, kỹ năng làm việc tốt, tạo ra sản phẩm hàng hóa có hàm lượng chất xám cao, được ưu tiên phát triển hơn hẳn các ngành có trình độ chuyên môn thấp, vốn đầu tư ít,tạo ra những sản phẩm đơn giản. Như chú trọng phát triển công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, các ngành công nghiệp chế tạo… Đẩy nhanh hình thành các khu công nghệ cao, công nghệ phần mềm, các khu công nghiệp dựa trên lợi thế giữa các vùng của đất nước. Đòi hỏi có khoa học công nghệ là lực lượng sản xuất trực tiếp, tạo nền cho các ngành kinh tế khác phát triển theo.
Nền kinh tế tri thức phát triển tạo cơ hội cho Việt Nam mở rộng không gian kinh tế đẩy mạnh hội nhập. Trong thời đại mới, khi tri thức hóa, toàn cầu hóa đã trở thành xu thế phát triển không thể cưỡng lại được thì Việt Nam phải tạo cho mình mọi cách mở rộng không gian kinh tế của mình. Kinh tế tri thức tạo cơ sở kinh tế-xã hội cho nước ta quan hệ bình đẳng với các quốc gia. Sức cạnh tranh của nền kinh tế chủ yếu dựa trên sự thông minh và sáng tạo chứ không phải có sẳn trong tự nhiên. Kinh tế tri thức buộc Việt Nam phải đẩy nhanh phát triển kinh tế, tạo cơ hội hội nhập vào nền kinh tế khu vực và kinh tế thế giới. Khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam trở thành các chủ đầu tư trong nghiên cứu và phát triển sản xuất kinh doanh.
Nền kinh tế tri thức buộc Việt Nam phải đổi mới toà...