Download Tiểu luận Diện và hàng thừa kế - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn miễn phí
Mục lục
Lời mở đầu 1
Nội dung 2
I.Một số vấn đề lý luận về diện và hàng thừa kế. 2
1.Thừa kế theo pháp luật. 2
2.Diện và hàng thừa kế 3
a.Diện thừa kế .3
b.Hàng thừa kế 5
II.Quy định của pháp luật về diện và hàng thừa kế - Thực tiễn áp dụng. 3
III.Diện và hàng thừa kế theo pháp luật - Một số điểm hạn chế 3
IV.Hoàn thiện một số quy định về diện và hàng thừa kế theo pháp luật. 3
Kết luận 3
/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-37318/
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download choTóm tắt nội dung:
ng trong việc thực hiện nghĩa vụ tài sản mà người chết để lại trong phạm vi di sản mình nhận được.
Vì phạm vi những người thừa kế rộng nên pháp luật chia những người thừa kế thành nhiều hàng thừa kế. Trong đó những người thuộc hàng thứ nhất là những người có quan hệ hộn nhân, quan hệ huyết thống gần gũi nhất so với các hàng khác. Các hàng thứ hai, thứ ba là các hàng dự bị, chỉ được hưởng di sản nếu như không còn ai ở hàng thứ nhất hay có nhưng họ đều không nhận hay không được quyền nhận.
2.Diện và hàng thừa kế
a.Diện thừa kế:
Diện những người thừa kế là phạm vi những người hưởng di sản thừa kế của người chết theo quy định của pháp luật. Diện những người thừa kế được pháp luật quy định dựa trên ba mối quan hệ chính với người để lại di sản:
Quan hệ hôn nhân: xuất phát từ việc kết hôn giữa vợ và chồng.
Quan hệ huyết thống: quan hệ giữa những người cùng dòng máu (cụ với ông, bà; ông, bà với cha, mẹ; cha mẹ với các con; anh chị em ruột…)
Quan hệ nuôi dưỡng: xuất phát từ sự quan tâm, chăm sóc, nuôi dưỡng lẫn nhau giữa những người không cùng huyết thống hay không có quan hệ hôn nhân (cha mẹ nhận nuôi con nuôi). Ở Việt Nam thời phong kiến, dựa theo khuôn mẫu gia đình “tam, tứ đại đồng đường” là kiểu gia đình mở rộng, nơi ba bốn thế hệ chung sống dưới cùng một mái nhà. Nên diện thừa kế theo pháp luật được xác định hết sức rộng rãi, bao gồm toàn bộ những người thích thuộc của người chết mà không theo mức độ gần gũi. Theo sự ghi nhận của các bộ dân luật thời phong kiến thì tất cả người thân thuộc của người chết dù xa hay gần, dù thân hay sợ đều thuộc diện thừa kế theo luật của người đó. Khi không còn ai bên nội tộc còn sống thì di sản được chuyển dịch sang bên ngoại.
Sau khi giành được chính quyền và thành lập nước Việt Nam dân chủ công hòa, Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều văn bản pháp luật xác định phạm vi những người thuộc diện thừa kế theo pháp luât:
Thông tư 1742 do Bộ tư pháp ban hành ngày 19/8/1956 quy định diện những người thừa kế theo pháp luật bao gồm: vợ hay chồng, các con đẻ, các con nuôi, cháu, chắt, cha mẹ của người để lại di sản và những người thừa kế khác. Nhưng thông tư này không xác định rõ những người thừa kế khác là ai nên trong thời kỳ này anh, chị, ông, bà không thuộc diện thừa kế.
Thông tư 594 xác định diện thừa kế bao gồm: vợ góa (cả vợ cả và vợ lẽ); con đẻ và con nuôi; bố đẻ, mẹ đẻ, bố nuôi, mẹ nuôi, ông bà nội, ông bà ngoại; anh chị em ruột và anh chị em nuôi. Thông tư này đã thêm được anh chị em và ông bà vào diện thừa kế nhưng lại bỏ đi cháu, chắt ra khỏi diện thừa kế.
Thông tư 81 xác định rõ cơ sở pháp lý của việc thừa kế theo pháp luật là ba mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng. Đây là một quan điểm tiến bộ vẫn được sử dụng cho đến ngày nay. Vì vậy, diện thừa kế được quy định trong thông tư bao gồm: vợ góa (vợ cà và vợ lẽ) hay chồng góa, các con đẻ và con nuôi; bố mẹ đẻ hay bố mẹ nuôi; ông bà nội ngoại; anh chị em ruột, anh chị em cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha và anh chị em nuôi. Ngoài ra thông tư còn quy định “người thừa tự” cũng là người thừa kế theo pháp luật tức là cháu được quyền thừa kế của ông bà nếu cha mẹ không còn.
Pháp lệnh thừa kế do Hội đồng Nhà nước ban hành vào ngày 30/8/1990. Diện thừa kế theo pháp lệnh này mở rộng hơn so với Thông tư 81. Đối với những người có quan hệ huyết thống với người để lại tài sản theo trực hệ được xác định đến tận 4 đời (từ đời cụ xuống đời chắt). Đối với những người có quan hệ huyết thống với người để lại di sản theo bàng hệ (ngành ngang) đã được mở rộng sang hai đời (chú ruột, bác ruột, cô ruột, dì ruột, cậu ruột của người chết là cháu và ngược lại). Pháp lệnh thừa kế bác bỏ quyền thừa kế của anh chị em nuôi.
Bộ luật dân sự 1995 không quy định trực tiếp về diện thừa kế nhưng dựa vào hàng thừa kế theo pháp luật và những người thừa kế thế vị thì đã xác định được diện thừa kế bao gồm: vợ hay chồng; các con đẻ và các con nuôi (thuộc hàng thừa kế thứ nhất); bố mẹ đẻ hay bố mẹ nuôi; ông bà nội ngoại; anh chị em ruột (thuộc hàng thừa kế thứ hai); cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cô ruột, cậu ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại (thừa kế thế vị).
Cho đến nay Bộ luật dân sự 2005 thì diện thừa kế vẫn được xác định như năm 1999. Tuy nhiên có một điểm khác biệt là chắt được liệt thêm vào hàng thừa kế thứ ba.
b.Hàng thừa kế
Theo pháp luật, di sản của người chết đượcchia cho những người thân thích, gần gũi đối với người chết. Tuy nhiên mức độ gần gũi, thân thiết của những người thân thích đó với người chết là khác nhau khiến cho việc phân chia di sản thừa kế trở nên khó khăn, phức tạp. Vấn đề này xảy ra ở rất nhiều nước trên thế giới chứ không phải chỉ ở riêng Việt Nam và phần lớn các nước đặt ra quy định về hàng thừa kế để giải quyết vấn đề này.
Hàng thừa kế theo pháp luật là nhóm những người có cùng mức độ gần gũi với người chết và theo đó họ cùng hưởng ngang nhau đối với di sản thừa kế để giải quyết vấn đề này.
Hàng thừa kế theo pháp luật là nhóm những người có cùng mức độ gần gũi với người chết và theo đó họ cùng hưởng ngang nhau đối với di sản thừa kế mà người chết để lại.
Theo Khoản 1 Điều 678 Bộ luật dân sự 2005, pháp luật Việt Nam chia những người trong diện thừa kế ra làm ba hàng:
Hàng thứ nhất bao gồm:vợ hay chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.
Ở hàng thừa kế này có hai mối quan hệ giữa những người có quyền hưởng di sản của nhau:
+ Quan hệ thừa kế của vợ chồng:
Căn cứ để xác định quan hệ thừa kế giữa vợ và chồng là quan hệ hôn nhân. Theo điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000 thì “Hôn nhân là mối quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn”. Vì thế vào thời điểm mở thừa kế nếu quan hệ hôn nhân giữa họ về mặt pháp lý vẫn còn tồn tại được thì họ được quyền hưởng thừa kế của nhau. Do rất nhiều thay đổi trong luật pháp nên việc xác định quyền thừa kế của vợ chồng cần chú ý các trường hợp sau:
Trường hợp một: vợ chồng đã chia tài sản chung hay sống ly thân hay một người đã bỏ đi sống với người khác một cách bất hợp pháp nhưng chưa ly hôn, về mặt pháp lý quan hệ hôn nhân vẫn còn tồn tại. Nên người này được quyền thừa kế khi người kia chết.
Trường hợp hai: vợ chồng đang xin ly hôn mà chưa được tòa án chấp nhận hay đã được chấp nhận nhưng quyết định hay bản án cho ly hôn chưa có hiệu lực pháp luật thì một người chết. Khi đó người còn lại vẫn được quyền hưởng di sản của người chết.
Trường hợp ba: nếu một người có nhiều vợ mà tất cả các cuộc hôn nhân đều tiến hành trước ngày 13/1/1960 ở miền Bắc (ngày Luật hôn nhân và gia định năm 1959 có hi