Download Tiểu luận Pháp luật về đương sự trong vụ án dân sự miễn phí
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I. Pháp luật về đương sự trong vụ án dân sự 1
1. Khái niệm đương sự trong vụ án dân sự 1
1.1. Nguyên đơn 1
1.2. Bị đơn 1
1.3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan 2
2. Năng lực hành vi tố tụng dân sự và năng lực pháp luật tố tụng dân sự của đương sự 2
2.1. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự 2
2.2. Năng lực hành vi tố tụng dân sự 2
3. Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong vụ án dân sự 3
II. Xác định tư cách đương sự trong vụ án dân sự 5
1. Xác định tư cách nguyên đơn 6
2. Xác định tư cách của bị đơn 7
3. Xác định tư cách của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan 8
III. Thực trạng quy định của pháp luật về đương sự và hướng hoàn thiện 8
1. Thực trạng quy định của pháp luật về đương sự 8
2. Hướng hoàn thiện pháp luật 9
KẾT LUẬN 10
/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-38689/
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download choTóm tắt nội dung:
ao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”.
Từ quy định này, có thể thấy các chủ thể có thể trở thành đương sự trong các vụ án dân sự khá phong phú, đa dạng. Đương sự trong vụ án dân sự bao gồm: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
1.1. Nguyên đơn
Nguyên đơn trong vụ án dân sự là những đương sự quan trọng của vụ án dân sự. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 56 BLTTDS thì “nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cá nhân, cơ quan tổ chức khác, do bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm hại.
Cơ quan tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước thuộc linh vực mình phụ trách cũng là đương sự”.
1.2. Bị đơn
Bị đơn là chủ thể không thể thiếu trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án dân sự. Bị đơn là chủ thể luôn đi kèm với nguyên đơn. Khi xác định được tư cách nguyên đơn thì cũng xác định được tư cách của bị đơn. Việc tham gia tố tụng của nguyên đơn mang tính chủ động, còn việc tham gia tố tụng của bị đơn mang tính bị động, do bị bắt buộc tham gia tố tụng.
Theo khoản 3 Điều 56 BLTTDS: “Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hay cá nhân, cơ quan tổ chức khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm”.
1.3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Đây cũng chính là đương sự của vụ án, vì quyền lợi, nghĩa vụ của họ bị tác động trực tiếp khi tiến hành việc giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hiểu một cách chung nhất là người tham gia tố tụng vào vụ án đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Việc tham gia vào quá trình tố tụng của họ có thể do họ chủ động hay theo yêu cầu của đương sự khác hay theo yêu cầu của tòa án. Như vậy, để có thể xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự, thì các chủ thể này phải có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án mà Tòa án đang giải quyết, đồng thời phải được Tòa án đưa họ vào tham gia tố tụng do thấy cần thiết hay theo yêu cầu của chính họ.
Là một loại chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự nên để tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự thì đương sự phải có năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự.
2. Năng lực hành vi tố tụng dân sự và năng lực pháp luật tố tụng dân sự của đương sự
2.1. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự
Năng lực pháp luật tố tụng dân sự của đương sự là khả năng pháp luật quy định cho cá nhân, cơ quan, tổ chức và các chủ thể khác có các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự của cá nhân gắn liền với sự tồn tại của cá nhân đó. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự của cơ quan, tổ chức xuất hiện khi được thành lập và chấm dứt khi không còn tồn tại.
Đặc trưng cơ bản của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự là các chủ thể bình đẳng về quyền và nghĩa vụ. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự của tổ chức và năng lực pháp luật tố tụng dân sự của cá nhân với tư cách là đương sự trong vụ án dân sự là như nhau, bình đẳng với nhau. Vì vậy, để giải quyết đúng đắn và khách quan pháp luật tố tụng dân sự quy định: “Mọi cá nhân, tổ chức có năng lực pháp luật tố tụng dân sự như nhau trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình” (khoản 1 Điều 57 BLTTDS).
2.2. Năng lực hành vi tố tụng dân sự
Năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng của đương sự, bằng chính hành vi của mình, xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự. Đối với cá nhân, năng lực hành vi của cá nhân được xác định dựa trên cơ sở khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của cá nhân đó và trên cơ sở tính chất, yêu cầu của việc tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân sự. Thông thường, cá nhân được xác định có năng lực pháp luật tố tụng dân sự đầy đủ khi cá nhân đó đủ 18 tuổi trở lên và không bị mất năng lực hành vi dân sự. (khoản 3 Điều 57 BLTTDS). Còn đối với người dưới 18 tuổi, người bị mất năng lực hành vi dân sự thì không có năng lực hành vi tố tụng dân sự, và để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người này khi tham gia vào quan hệ tố tụng tại Tòa án thì người thay mặt hợp pháp của họ sẽ thay mặt để thực hiện những quyền và nghĩa vụ tố tụng.
3. Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong vụ án dân sự
Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự để đảm bảo cho các đương sự có điều kiện thuận lợi để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án, đồng thời bảo đảm việc giải quyết vụ án dân sự nhanh chóng, kịp thời , đúng đắn, pháp luật tố tụng dân sự đã quy định khá cụ thể, chi tiết về quyền và nghĩa vụ chung của đương sự.
Về nguyên tắc, để đảm bảo việc giải quyết đúng đắn vụ án dân sự thì các đương sự phải bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự. Mặt khác, Tòa án với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng phải tôn trọng và có trách nhiệm tạo điều kiện để cho đương sự thực hiện được đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.Pháp luật tố tụng dân sự hiện hành đã quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ chung của đương sự trong các lĩnh vực, giai đoạn tố tụng khác nhau tại Điều 58 BLTTDS. Điều 58 quy định 20 quyền và nghĩa vụ khác nhau của đương sự, có thể chia làm 3 nhóm:
* Các quyền thể hiện quyền tự định đoạt của đương sự:
- Quyền đề nghị Tòa án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Đương sự không những có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi Toà án đã thụ lý vụ án, mà trong trường hợp do tình thế khẩn cấp cần bảo vệ ngay bằng chứng, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra đương sự có quyền yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện.
- Tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, tham gia hòa giải do Tòa án tiến hành. Đương sự có thể tự hòa giải hay Tòa án giúp đỡ đương sự thỏa thuận tự nguyện với nhau về việc giải quyết vụ án không trái pháp luật và đạo đức xã hội (Tòa án hòa giải).
- Tự bảo vệ hay nhờ người khác bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
- Kháng cáo, khiếu nại bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của BLTTDS. Việc đương sự thực hiện quyền kháng cáo là điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành xét xử phúc thẩm góp phần đảm bảo cho các đương sự có đièu kiện bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
* Các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong hoạt động cung cấp chứng cứ, chứng minh:
- Cung cấp chứng cứ, ...