Tiểu luận Phân tích sự hội nhập của Việt Nam trong lĩnh vực hải quan - pdf 13

Download Tiểu luận Phân tích sự hội nhập của Việt Nam trong lĩnh vực hải quan miễn phí



Không chỉ hoàn thành tích cực các nhiệm vụ trong các tổ chức quốc tế và các Điều ước quốc tế đã ký kết, tham gia, Việt Nam còn khẳng định sự hội nhập sâu rộng trong lĩnh vực hải quan thông qua việc tiến hành hợp tác song phương với các quốc gia : Campuchia, Ucraina, Philippines, Hoa Kì Gần đây nhất, ngày 24/5/2011 vừa qua đã có buổi gặp mặt với Trưởng cơ quan Hải quan quốc gia Ucraina tiến hành hợp tác một số vấn đề trong lĩnh vực hải quan với mục tiêu đẩy mạnh kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai quốc gia. Đặc biệt, Hải quan quốc gia Ucraina thông qua Đại sứ quán sẽ sẵn sàng bố trí một buổi làm việc với doanh nghiệp Việt Nam để trao đổi, giải đáp các thắc mắc của doanh nghiệp trong quá trình xuất nhập khẩu. Mục đích của cuộc họp không chỉ giúp doanh nghiệp tháo gỡ những vướng mắc mà còn hỗ trợ thêm những vấn đề pháp lý cần thiết tạo sự thuận lợi thương mại cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Tổng cục hải quan cũng tiến hành kí biên bản tăng cường hợp tác với Tổng cục Hải quan và Thuế gián thu Vương quốc Campuchia trong đó đặc biệt chú trọng tới việc hợp tác giữa các đơn vị ngành dọc theo biên giới 2 nước nhằm tạo thuận lợi cho thương mại, đấu tranh chống buôn lậu và gian lận thương mại.


/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-38940/
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho

Tóm tắt nội dung:

Phân tích sự hội nhập của Việt Nam trong lĩnh vực hải quan
Tính cấp thiết
Trước sự hội nhập của nền kinh tế, triển khai nền ngoại thương và các hoạt động đầu tư nước ngoài đang được đẩy mạnh đòi hỏi ngành Hải quan phải trở thành một tổ chức hiện đại, có thể đưa vào triển khai những hình thức quản lý, thực hiện công việc tốt nhất, đáp ứng được nhu cầu hợp pháp của doanh nghiệp và công chúng. Nhưng xuất phát điểm ngành Hải quan còn quá thấp so với các quốc gia trên thế do đó cấp thiết đòi hỏi sự hội nhập nhanh chóng của Hải quan Việt Nam để đáp ứng được nhu cầu nội tại của nền kinh tế.
Cụ thể hơn nữa, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, việc tham gia WTO, trở thành thành viên của tổ chức có tầm toàn cầu trong thương mại này đã ảnh hưởng lớn đến Hải quan Việt Nam với cam kết ràng buộc về thuế quan. Bên cạnh đó là các quy định về thuế nhập khẩu trong APEC, các vấn đề về thuế trong ASEAN yêu cầu một lộ trình cắt giảm thuế cụ thể và thuế nhập khẩu trong hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kì. Trước tất cả những tác động khách quan đó, thì sự hội nhập Hải quan Việt Nam là một điều tất yếu và cần thiết.
Không chỉ các vấn đề về thuế, một loại các vấn đề khác như vấn đề đầu tư, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cũng đều là các vấn đề có liên quan trực tiếp tới Hải quan đòi hỏi ngành Hải quan phải có sự cải cách nhanh chóng để không làm cản trở sự phát triển của các lĩnh vực đó. Để thấy rõ được tính tất yếu của sự hội nhập trong lĩnh vực Hải quan ta cần có sự nghiên cứu sâu hơn về toàn bộ tiến trình hội nhập đồng thời cũng đòi hỏi một cái nhìn tổng quan về toàn bộ tiến trình.
Tiến trình hội nhập
Tiền trình hội nhập của Việt Nam trong lĩnh vực hải quan gắn liền với các mốc lịch sử quan trọng có liên quan của đất nước. Để có một cái nhìn tổng quan nhất về toàn bộ tiến trình hội nhập hải quan thì trước hết cần xác định rõ từng giai đoạn lịch sử quan trọng đồng thời nắm được những sự kiện nổi bật đánh dấu những bước phát triển của hải quan Việt Nam. Ta có thể chia thành các giai đoạn như sau:
Trước 1984
Nhìn chung, trong thời kì này thủ tục hải quan còn nhiều hạn chế, chưa có Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Sự hạn chế về mọi mặt của hải quan Việt Nam giai đoạn này xuất phát chủ yếu từ điều kiện nền kinh tế chưa mở cửa, không năng động và nặng nề về mục tiêu quản lý thuần túy.
Nhà nước độc quyền về ngoại thương nên việc trao đổi hàng hóa diễn ra chủ yếu với các nước XHCN trong Hội đồng tương trợ kinh tế bằng nghị định thư. Ngoài ra hoạt động của ngành Hải quan dựa chủ yếu vào Điều lệ Hải quan ban hành theo Nghị định số 03/CP ngày 27/2/1960. Nhìn chung chính sách hải quan thời kì này không có nhiều thay đổi do chưa có điều kiện phát triển mạnh các hoạt động ngoại thương.
Giai đoạn 1984 – 1997
Chủ trương đổi mới, mở cửa nền kinh tế do Đảng và Nhà nước đề ra đã thực sự tạo điều kiện cho sự phát triển của lĩnh vực hải quan. Cụ thể, lưu lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, người và phương tiện xuất cảnh tăng dần kéo theo sự phát triển của hải quan. Cụ thể, việc ban hành Hiến pháp 1992 với những quy định hoàn toàn mới về chế độ, chính sách trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại như bỏ chế độ nhà nước độc quyền về ngoại thương, coogn nhận và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển bình đẳng… Thêm vào đó, chủ trương thu hút vốn đầu tư của nước ngoài đòi hỏi sự thông thoáng, đơn giản hóa thủ tục hải quan là vô cùng cần thiết. Từ đó tạo cơ sở cho hàng loạt các văn bản pháp luật khác ban hành với mục tiêu cải cách Hải quan.
Đây cũng là giai đoạn quan trọng với những mốc sự kiện nổi bật như sự tham gia của Hải quan Việt Nam và WCO, ASEAN, ASEM… đã tạo nên một bước ngoặt trên mọi lĩnh vực nói chung và hải quan nói riêng. Một số cải cách hải quan đã được tiến hành như áp dụng luồng xanh, luồng đỏ đối với hành khách tại các cửa khẩu sân bay quốc tế; phân luồng hàng hóa theo 3 nhóm: hành lang xanh, vàng, đỏ trong khuôn khổ ASEAN… Tiếp đó, Hải quan Việt Nam đã tham gia Công ước Kyoto về đơn giản hoá và hài hoà hoá thủ tục hải quan (năm 1997) Tuy nhiên, bước đầu hội nhập cũng không tránh khỏi nhiều hạn chế, khuyết điểm như việc thực hiện còn chưa đồng bộ, thống nhất, vẫn còn ở dạng sao chép dập khuôn máy móc.
Giai đoạn 1998 – 9/ 2001
Mặc dù có sự tiến bộ về chính sách đường lối nhưng sự thiếu nền tảng cơ bản đã thực sự là một bất cập trong lĩnh vực hải quan. Nói một cách rõ ràng hơn, vấn đề nghiệp vụ kỹ thuật hải quan còn rất yếu kém, cơ sở hạ tầng thì hạn chế kèm theo sự quản lý thiếu khoa học đã trở thành một rào cản rất lớn đối với ngành Hải quan trước sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế thời kì này. Do đó mặc dù tham gia Công ước Hài hoà Mô tả và Mã hoá Hàng hoá (Công ước HS - năm 1998) nhưng thực sự gặp rất nhiều khó khăn trong tiến trình thực hiện Công ước do những yếu kém trên. Tuy vậy, sự hỗ trợ và giúp đỡ từ phía các tổ chức quốc tế, các tổ chức hải quan của các nước phát triển, hải quan Việt Nam đã tiến hành hàng loạt những cải cách về mặt quy trình thủ tục, sắp xếp tổ chức, tiến hành thay đổi căn bản trong nhận thức về thủ tục hải quan từ mục tiêu quan lý thuần túy sang mục tiêu vừa quan lý vừa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Các vấn đề về nghiệp vụ ký thuật hải quan hiện đại được đưa vào dự thảo Luật hải quan nhằm tạo tiền đề, cơ sở pháp lý từ đó triển khai thực hiện trên thực tế. Từ đây, Hải quan Việt Nam bắt đầu một quá trình cải cách liên tục không ngừng nghỉ, không gấp gáp nhưng thận trọng và phù hợp với tình hình kinh tế đất nước.
Bên cạnh đó, quá trình khắc phục hạn chế yếu kém về pháp luật trong thời kì này được tiến hành thực sự nghiêm túc và hiệu quả cũng góp phần tạo tiền đề cho sự phát triển nhanh chóng của Hải quan Việt Nam. Cụ thể, hàng loạt các nghị quyết, quyết định của thủ tướng chính phủ được ban hành với yêu cầu tiến hành triển khai nhiệm vụ rà soát lại toàn bộ hệ thống văn bản pháp luật về Hải quan như: Quyết định 355/TTg ngày 28/5/1997 về tổng rà soát và hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật trong hơn 20 năm qua, Quyết định số 234/QĐ – TCCB thành lập ban chỉ đạo về tổng rà soát và hệ thống hòa văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước về Hải quan. Đến năm 1999, qua kiểm tra phát hiện có đến hơn 200 văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền ban hành về chính sách, cơ chế quản lý xuất nhập khẩu do chồng chéo hay không phù hợp đã gây ách tắc ở cửa khẩu, cản trở kinh doanh xuất nhập khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Giai đoạn từ tháng 10/2001 đến nay
Luật hải quan 2001 ra đời đã thực sự đánh dấu một mốc quan trọng trong sự hoàn thiện về mặt pháp lý. Một hành lang pháp lý vững chắc sẽ làm tiền đề cho sự phát triển của Hải quan Việt Nam trong...
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status