Tiểu luận Vùng đặc quyền kinh tế trong Công ước Luật biển 1982 - pdf 13

Download miễn phí Tiểu luận Vùng đặc quyền kinh tế trong Công ước Luật biển 1982



MỤC LỤC
MỞ ĐẦU . 1
NỘI DUNG . 1
1. Khái niệm vùng đặc quyền kinh tế . 1
2. Trong cách xác định vùng đặc quyền kinh tế theo quy định của Công ước Luật biển 1982 luôn thể hiện sự dung hòa về lợi ích giữa các quốc gia .1
3. Trong quy chế pháp lý vùng đặc quyền kinh tế theo quy định của Công ước Luật biển 1982 luôn thể hiện sự dung hòa về lợi ích giữa các quốc gia .4
KẾT LUẬN . .7
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .8
 
 
 
 
 
 
 


/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-39723/
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho

Tóm tắt nội dung:

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU………………………………………………………………………...…1
NỘI DUNG……………………………………………………………………...…1
Khái niệm vùng đặc quyền kinh tế………………………………………...…1
Trong cách xác định vùng đặc quyền kinh tế theo quy định của Công ước Luật biển 1982 luôn thể hiện sự dung hòa về lợi ích giữa các quốc gia………..1
Trong quy chế pháp lý vùng đặc quyền kinh tế theo quy định của Công ước Luật biển 1982 luôn thể hiện sự dung hòa về lợi ích giữa các quốc gia………..4
KẾT LUẬN………………………………………………………... ……………...7
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………...8
MỞ ĐẦU
Vùng đặc quyền kinh tế được ra đời và được quy ước cụ thể trong Công ước Luật biển 1982 ký ngày 10/12/1982 tại Montego Bay có hiệu lực ngày 16/11/1990 đã thể hiện sự dung hòa lợi ích giữa các quốc gia ngay cả trong cách xác định và quy chế pháp lý của nó và trong một xu thế phát triển kinh tế mới các năm gần đây của các quốc gia thì mối quan tâm phát triển kinh tế biển đang được chú trọng và quan tâm chính vì thế để đảm bảo lợi ích to lớn từ biển cả cho các quốc gia tránh xung đột giữa quyền, nghĩa vụ và lợi ích, tránh sự không dung hòa lợi ích giữa các quốc gia thì những quy định về cách xác định và quy chế pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế trong Công ước luật biển 1982 đã phần nào dung hòa được lợi ích về khai thác đánh bắt thủy hải sản hay quyền của các quốc gia ven biển và các quốc gia khác.
NỘI DUNG
Khái niệm vùng đặc quyền kinh tế
Vùng đặc quyền kinh tế là một vùng nằm ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, đặt dưới chế độ pháp lý riêng quy định trong phần này, theo đó quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển và các quyền tự do của các quốc gia khác đều do các quy định thích hợp của Công ước điều hành (Điều 55 Công ước luật biển 1982).
2. Trong cách xác định vùng đặc quyền kinh tế theo quy định của Công ước Luật biển 1982 luôn thể hiện sự dung hòa về lợi ích giữa các quốc gia.
Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển nằm phía ngoài lãnh hải và có chiều rộng không quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở (vì lãnh hải 12 hải lý, nên thực chất vùng đặc quyền kinh tế không quá 188 hải lý).
Khái niệm và quy chế pháp lý của vùng đặc quyền về kinh tế được nêu cụ thể trong Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (gọi tắt là Công ước Luật Biển 1982) theo đó:
Vùng đặc quyền về kinh tế là vùng biển mở rộng của quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo, nằm bên ngoài và tiếp liền với lãnh hải. Vùng biển này có quy chế pháp lý riêng; trong đó, các quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển (hay quốc gia quần đảo), các quyền cũng như các quyền tự do của các quốc gia khác được điều chỉnh theo các quy định (phần V) của Công ước Luật Biển 1982. Vùng đặc quyền về kinh tế không mở rộng quá 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải (Điều 57).
Theo quy định tại phần V của Công ước Luật Biển 1982, vùng đặc quyền về kinh tế là một vùng đặc thù, với chế độ pháp lý riêng biệt. Nó không phải là lãnh hải (vì nằm ngoài lãnh hải) và cũng không phải là một phần của biển cả (vì phạm vi áp dụng của phần biển cả (phần VII) của Công ước Luật Biển 1982, không áp dụng cho vùng đặc quyền về kinh tế). Trong vùng đặc quyền về kinh tế, quốc gia ven biển thực hiện thẩm quyền riêng biệt của mình (quyền, quyền tài phán) nhằm mục đích kinh tế, được quy định bởi Công ước luật biển 1982, mà không chia sẻ với các quốc gia khác. Song, đây là vùng chuyển tiếp giữa lãnh hải và biển cả, nên đồng thời là một "vùng chủ quyền giới hạn". Việc xác định vùng đặc quyền như thế đã thể hiện sự dung hòa về lợi ích giữa các quốc gia, không quốc gia nào được phép vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở, sự quy định như vậy đã cho thấy sự công bằng đối với các quốc gia ven biển.
Một trong số những cách xác định vùng đặc quyền kinh tế thể hiện sự dung hòa lợi ích giữa các quốc gia là cách thỏa thuận đi đến thống nhất ý chí, điều này được thể hiện rõ ràng qua cách hoạch định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diện nhau.
Điều 74 về hoạch định ranh giới vùng đặc quyền về kinh tế giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diện nhau
“1. Việc hoạch định ranh giới vùng đặc quyền về kinh tế giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay  đối diên nhau  được thực hiện bằng con  đường thỏa thuận theo đúng với pháp luật quốc tế như đã nêu ở Điều 38 của Quy chế Tòa án quốc tế để đi đến một giải pháp công bằng.
2. . Nếu không đi tới được một thỏa thuận trong một thời gian hợp lý thì các quốc gia hữu quan sử dụng các thủ tục nêu ở phần XV.
3. Trong khi chờ ký kết thỏa thuận ở khoản 1, các quốc gia hữu quan, trên tinh thần hiểu biết và hợp tác, làm hết sức mình để đi đến các dàn xếp tạm thời có tính chất thực tiễn và không phương hại hay cản trở việc ký kết các thỏa thuận dứt khoát trong giai đoán quá độ này. Các dàn xếp tạm thời không phương hại đến hoạch định cuối cùng.”
Như vậy, giữa hai vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia mà có bờ biển tiếp liền hay đối diện nhau thì các quốc gia đó phải có các cuộc đàm phán để có sự thống nhất ý chí về quyền và lợi ích của các bên trong vùng có bờ biển tiếp liền hay đối diện nhau đó, đảm bảo cho không quốc gia nào xâm phạm quyền và lợi ích của quốc gia nào, kết quả đàm phán luôn là một sự dung hòa của các mối lợi ích để tìm ra tiếng nói chung mà hai bên đều có thể chấp nhận được chứ không thể đòi hỏi chỉ lợi ích chỉ về một phía.
Trong quy chế pháp lý vùng đặc quyền kinh tế theo quy định của Công ước Luật biển 1982 luôn thể hiện sự dung hòa về lợi ích giữa các quốc gia.
Xét về quy chế pháp lý đây là vùng biển đặc thù (sui generic ) thể hiện sự dung hòa lợi ích giữa các quốc gia ven biển và quốc gia khác: một mặt, bảo đảm cho quốc gia ven biển thẩm quyền riêng biệt trong việc khai thác sử dụng nguồn tài nguyên trong vùng đặc quyền kinh tế, mặt khác công nhận cho các quốc gia khác một số quyền tự do biển cả, điều này cho phép giải quyết đồng thời hai vấn đề đặt ra trong quy chế pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế, đó là mở rộng chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển một cách có giới hạn và bảo đảm tính ổn định tương đối của biển cả là nơi mà lợi ích chung của cộng đồng quốc tế cần tôn trọng.
Thứ nhất, điều 56 Luật biển quốc tế 1982 quy định về các quyền, quyền tài phán và các nghĩa vụ của các quốc gia ven biển trong vùng đặc quyền kinh tế theo đó xét trong vùng đặc quyền kinh tế quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với thăm dò và khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hay không sinh vật của vùng nước bên trên đáy biển, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển cũng như về những hoạt động khá...
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status