Download miễn phí Đề tài Vấn đề dạy học và đọc hiểu hài kịch Mô-Li-E theo chương trình THCS mới qua trích đoạn "Ông Giuốc-Đanh mặc lễ phục" từ vở kịch "trưởng giả học làm sang"
LỜI CẢM ƠN: Trang 1,2
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài Trang 3
2. Lịch sử vấn đề Trang 3
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu Trang 4
3.1. Đối tượng nghiên cứu Trang 4
2.2. Phạm vi nghiên cứu Trang 5
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu Trang 5
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Trang 5
5. Phương pháp nghiên cứu Trang 6
6. Cấu trúc của bài tập Trang 6
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1. Cơ sở lí thuyết thể loại Trang 8
1.1. Cách hiểu về kịch Trang 9
1.2. Cách hiểu về hài kịch Trang 9
2. Cơ sở phương pháp
2.1. Phương pháp đọc hiểu Trang 16
2.2. Phương pháp dạy học Trang 8
CHƯƠNG II: ĐỊNH HƯỚNG DẠY HỌC
1. Tác giả
1.1. Thân thế, sự nghiệp Trang 19
1.2. Con người và phong cách sáng tác Trang 20
1.3. Thời đại Môlie sống Trang 22
2. Tác phẩm
2.1. Xuât xứ, tóm tắt tác phẩm Trang 23
2.2. Phân tích nội dung văn bản Trang 23,24,25
CHƯƠNG III. ĐỊNH HƯỚNG DẠY HỌC
1. Thiết kế bài giảng Trang 27
2. Khảo sát kết quả Trang 46
PHẦN KẾT LUẬN Trang 50,51
http://s1.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2013-10-12-de_tai_van_de_day_hoc_va_doc_hieu_hai_kich_molie.xRbFe2lh5A.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-40371/Để tải bản DOC Đầy Đủ xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.Tóm tắt nội dung:
i hiện hình ảnh. Cảm xúc bắt đầu từ đọc và được tư duy phát triển trong quá trình đọc. Nhập thân vào tác phẩm chỉ có thể bắt đầu từ đọc diễn cảm. Đọc kích thích quá trình tâm lý cảm thụ, tri giác tưởng tượng, xúc cảm. Đọc đưa người đọc vào thế giới của tác phẩm.
Việc đọc tác phẩm văn học khác với việc đọc các tác phẩm khoa học. Người đọc phải làm sống dậy những tình cảm, tư tưởng của tác giả gửi gắm vào tác phẩm qua sư đồng cảm của người đọc. Đồng thời người đọc phải truyền cảm xúc đến cho người nghe. Chính vì vậy trong quá trình đọc, người đọc phải xác lập được không khí giao hoà, giao cảm giữa người nghe và tác giả. Người đọc truyền đến cho người nghe điều nhà văn gửi gắm cho bạn đọc. Nếu không làm được điều này thì việc đọc sẽ không có ý nghĩa .
Ngữ điệu trong đọc diễn cảm thay đổi tuỳ theo giọng điệu của nhà văn mà người đọc phải thể hiện được. Bằng sức mạnh riêng của đọc diễn cảm, người giáo viên dẫn dắt học sinh đi vào thế giới của tác phẩm một cách dễ dàng, phù hợp với quy luật cảm thụ văn học. Tuỳ theo yêu cầu, giáo viên có thể đọc dưới nhiều hình thức, nhiều mức độ khác nhau: đọc cả bài, đọc từng đoạn, đọc để gây không khí, đọc đẻ gợi cảm xúc...Đọc diễn cảm tuy có khả năng khơi gợi rung động thẩm mĩ, trí tưởng tượng và nhiều năng lực cần thiết của tư duy nghệ thuật của học sinh. Tuy nhiên nếu chỉ đọc diễn cảm không thì học sinh chưa thể đi sâu vào bên trong tác phẩm. Vì vậy, đọc diễn cảm phải đươc phối hợp chặt chẽ với các phương pháp khác để giúp học sinh hiểu và cảm thụ tác phẩm một cách đúng đắn.
Tóm lại việc đọc diễn cảm phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Giản dị tự nhiên.
- Thâm nhập vào nội dung, tư tưởng nghệ thuât, của các tác phẩm ở mức độ dễ hiểu với học sinh ở các lứa tuổi.
- Truyền đạt rõ ràng tư tưởng của tác giả.
- Thể hiện rõ ràng tư tưởng của tác giả.
- Thể hiện rõ trình độ tiếp nhận của mình đối với tác phẩm được đọc.
- Thái độ tiếp xúc nhiệt tình với người nghe
- Phát âm rõ ràng, chính xác.
- Truyễn đạt được đặc điểm thể loại và phong cách tác phẩm.
- Kỹ năng sử dụng đúng giọng nói của mình.
2.2.1.2. So sánh trong phân tích văn học.
So sánh trong giảng dạy văn học đã trở thành một phương pháp có hiệu lực và khá quen thuộc. Tuy nhiên, trên thực tế gỉảng dạy văn học không phải thiếu những hiện tượng lạm dụng so sánh. Chính vì vậy việc so sánh luôn được xác định trên cớ sở những nguyên tắc chặt chẽ.
So sánh văn học không được lấy nội dung so sánh thay thế cho việc khám phá, phân tích tác phẩm. So sánh chỉ là phương tiện, là con đường đi vào tác phẩm. Những liên hệ so sánh ngoài tác phẩm không được làm "đứt mối" với đường dây chủ đề của tác phẩm, nếu không rất dễ đưa ra những bình luận không có căn cứ.
Khi so sánh cần tôn trọng chỉnh thể của bài văn. Người phân tích không được tách, chọn một từ ngữ, một chi tiết, một hình ảnh ra khỏi chỉnh thể để so sánh với những yếu tố ít nhiều có liên quan đến tác phẩm rồi bình luận một cách chủ quan, xa rời chủ thể tác phâm.
So sánh là một trong những phương pháp hữu hiệu trong phân tích văn học và cũng được khẳng định, hoàn thiện trong thực tiễn nghiên cứu, giảng dạy văn học làm sao cho việc phân tích, giảng dạy văn học vừa có được tính khoa học vừa nghiêm ngặt, vừa có tính nghệ thuật đậm đà.
2.2.1.3. Phân tích nêu vấn đề.
Dạy học nêu vấn đề là một hoạt động sáng tạo, song song với việc lĩnh hội tri thức là sự phát triển những năng lực sáng tạo ở học sinh. Thực tiễn cho thấy kiến thức sẽ được lĩnh hội vững chắc nếu con người trải qua suy nghĩ, có vượt qua khó khăn để tìm hiểu. Dạy học nêu vấn đề dựa vào nguyên tắc trên. Theo đó, kiến thức sẽ không được đưa đến dưới hình thức có sẵn mà thông qua tình huống có vấn đề đặt ra trước học sinh. Học sinh dưới sự giúp đỡ của giáo viên nắm được nôi dung bộ môn, cách học sinh tập và phát triển ở mình những phẩm chất cần thiết để sáng tạo trong khoa học và trong đời sống.
Một giờ dạy văn muốn mình thành công nhất thiết phải xây dựng được một hay nhiều tình huống có vấn đề và được học sinh tiếp nhận môt cách có ý thức. Tạo được tình huống có vấn đề và được học sinh tiếp nhận một cách có ý thức. Tạo dược tình huống có vấn đề và được một trạng thái tâm lí cần thiết để mở đầu cho quá trình giảng văn đạt được hiệu quả mong muốn.
Tình huống có vấn đề là gì? Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau, so về cơ bản có thể hiểu đó là một trạng thái tâm lý cần thiết để mở đầu cho quá trình giảng văn đạt được hiệu quả mong muốn.
Muốn xây dựng được một tình huống có vấn đề phải biết xây dựng được một hện thông câu hỏi nêu vấn đề cần đảm bảo các yeu cầu sau:
- Câu hỏi nêu vấn đề thường gợi lên những mâu thuẫn giữa cái đã biết với cái chưa biết, giữa cái cũ và cái mới trong nhận thức của học sinh với tác giả, giữa học sinh với nhau về một vấn đề trung tâm nào đó trong tác phẩm.
- Câu hỏi nêu vấn đề cần định hướng vào những vấn đề khái quát.
- Câu hỏi nêu vấn đề phải mang tính hệ thống liên tục làm thành một chuỗi những liên hệ nối tiếp nhau trong một hệ thống vấn đề, phản ánh được bản chất nội dung và nghệ thuậh của tác phẩm.
Câu hỏi phải sát với tác phẩm và khêu gợi hứng thú cho học sinh, Giáo viên cần xác định được câu hỏi vừa phản ánh bản chất cuả tác phẩm vừa nằm trong tầm cảm nghĩ của học sinh. Mất đi một trong hai tính chất đó câu hỏi không còn giá trị nêu vấn đề nữa.
2.2.1.4. Gợi mở
Phương pháp gợi mở không phải là phương pháp mới. Phương pháp này có những khả năng riêng biệt mà các phương pháp khác không có được. Bằng con đường đàm thoại gợi mở, giáo viên tạo ra cho lớp học một không khí tự do tư tưởng, tự do bộc lộ những nhận thức trực tiếp của mình. Những tín hiệu trực tiếp phản hồi được báo lại cho giáo viên một cách kịp thời trên lớp khi học. Quan đàm thoại, giáo viên hỏi cụ thể con người học sinh hơn như hiểu được tính cách, phẩm chất trí tuệ, tâm hồn tình cảm, phong cách con người...Năng lực làm việc độc lập, óc tìm tòi suy nghĩ , thói quen giao tiếp xã hội của học sinh được phát huy một cách tích cực.
Phương pháp gợi mở giảng dạy văn chủ yêu được thông qua hệ thống câu hỏi, toạ điều kiện cho hoạt động song phương giữa thầy và trò để từmg bước đi vào tác phẩm văn học. Các câu hỏi đàm thoại phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Phải chính xác, rõ ràng, phải có màu sắc văn học, có khả năng khêu gợi tình cảm, cảm xúc thẩm mĩ cho học sinh.
- Phải vừa sức với học sinh, thích hợp với khuân khỏ một giờ lên lớp, phải có khe năng gợi vấn đèm suy nghĩ, tìm tòi sáng tạo cho học sinh.
- Phải xấy dựnh hệ thống logic có tính toán, giúp học sinh htừng bước đi ssâu vào tác phẩm như một chỉnh thể.
- Cần có sự kết h...