Download miễn phí Giáo trình Lịch sử nhà nước và Pháp luật thế giới
Giai cấp tư sản trang bị một hệ tư tưởng dân chủ tư sản nhằm kêu gọi các tầng lớp, giai cấp khác đứng về phía mình đế lật đổ giai cấp phong kiến, quá trình này diễn ra qua 3 nội dung sau đây:
Đầu tiên là phong trào phục hưng văn hóa (từ thế kỷ XIII): phong trào này đề cao giá trị tư tưởng tự do, giá trị văn hóa từ thời trung cồ mà đã bị giai cấp phong kiến và nhà thờ hạn chế, tăng phẩm giá nhân cách con người, giải phóng con người khỏi sự chi phối của giáo hội. Đây là cơ sở cho sự hình thành các tư tưởng tiến bộ trong thời kỳ khai sáng mà thay mặt là: Vonte; Rutxô; . . .
Thứ hai là phong trào cải cách tôn giáo: sự suy tàn của tôn giáo và xã hội đã dẫn tới phong trào cải cách tôn giáo, hình thành hai giáo phái có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của tôn giáo, xã hội và cả nhà nước, đó là dòng Luther và Can - Vanh. Phong trào cải cách đòi xóa bỏ đặc quyền của tăng lữ, kêu gọi xây dựng một loại nhà thờ rẻ tiền và chỉ cần lòng tin vào Đức Chúa hơn là qua các tầng lớp tăng lữ trung gian đầy đặc quyền, đồng thời kêu gọi giải phóng cho cá nhân, hạn chế sự phụ thuộc của cá nhân vào nhà thờ và tăng lữ.
http://s1.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2014-01-21-giao_trinh_lich_su_nha_nuoc_va_phap_luat_the_gioi.i4MInelNZu.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-56505/Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
gười Giecmanh, những tập quán pháp chủ yếu được tập hợp trong bộ luật Xa I,ích (cuối thế kỷ V đầu thế kỷ VI). Đây là nguồn luật chủ yếu trong giai đoạn đầu.
* Luật pháp cua triều đình phong kiến
Bao gồm chiếu chỉ, mệnh lệnh của nhà Vua, các án lệ và quyết định của tòa án nhà Vua. Thế kỷ VI, các nước phong kiến Tây âu ban hành luật thành văn như: luật Xalich, luật Vidigot, Buôcgôngđơ, Xăcxông. . . Nội dung của các bộ luật này chính là sự sao chép lại các tập quán pháp của các "Man tộc" trước đây, do đó luật pháp trong thời kỳ này chưa được xây dựng trên một chuẩn mực pháp lý nào cả.
Thế kỷ VIII, Vương triều Carôlanhgiêng ban hành "Bộ luật điền sản" để điều chỉnh chế độ kinh tế phong kiến, mà đặc biệt là chế độ ruộng đất.
* Luật lệ của giáo hội Thiên chúa
Nó vừa điều chỉnh quan hệ tôn giáo, quan hệ hôn nhân, quan hệ thừa kế, quan hệ trái vụ.
* Luật lệ của lãnh chúa, của chính quyền ở các thành phố tự trị
Trong các lãnh địa phong kiến, nguồn luật này có giá trị thi hành cao. Luật này không cần thống nhất với luật của triều đình, các lãnh chúa khác nhau sẽ có những hệ thống pháp luật khác nhau.
* Những quy định dẫn chiếu từ luật La Mã cổ đại
Thế kỷ XI - XII kinh tề hàng hóa phát triển nhưng pháp luật phong kiến không có các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ này do đó, người ta viện dẫn luật La Mã để giải quyết những vấn đề phát sinh từ quan hệ này.
1. 2 Vai trò của các nguồn luật
* Trong từng giai đoạn, mỗi nguồn luật có vai trò khác nhau
Trong thời kỳ đầu, nguồn của pháp luậl chủ yếu là các tập quán pháp
Ví dụ: Trước khi Clôvit ban hành Xalich bằng văn bản, mọi tội phạm của người Frăng đều được xét xử trong đại hội nhân dân hay hội đồng xét xử của công xã (các công xã nông thôn). Phương pháp này được thực hiện bằng hai cách. Một là, bị cáo và toàn thể gia đình phải thề độc, vì con người thời bấy giờ cho rằng thần thánh không cho bị cáo thề sai. hay là bị cáo phải cầm miếng sắt nung đỏ, hay nhúng tay vào dầu sôi. Vết thương được buộc lại, ít lâu sau nếu vết thương khỏi thì bị cáo vô tội, và ngược lại.
Lý do trong thời kỳ đầu của chế độ phong kiến Tây âu nguồn chủ yếu của pháp luật là tập quán vì lúc này khi mới xây dựng nhà nước phong kiến nên các tộc người Giecmanh chưa có điều kiện để tiếp thu nền tảng pháp lý của La Mã, đồng thời do tình trạng xây dựng nhà nước phong kiến từ chế độ cộng sản nguyên thủy nên những tập quán trong thời kỳ cộng sản nguyên thủy còn là cơ sở để điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Đến thế kỷ VI, các nước phong kiến lảy âu ban hành luật thành văn như: luật Xahch, luật Vidigot, Buôcgôngđơ, Xăcxông. . .Nội dung của các bộ luật này chính là sự sao chép lại các tập quán pháp của các "Man tộc" trước đây. Nói cách khác, những luật này chỉ là những tập quán của các tộc người trước đây giờ được văn tự hóa, nhưng đã ít nhiều phản ánh được những quan hệ kinh tế, xã hội buổi đầu của chế độ phong kiến. Do đó, luật pháp trong thời kỳ này chưa được xây dựng trên một chuẩn mực pháp lý nào cả
Thế kỷ VIII, Vương triều Carôlanhgiêng ban hành "Bộ luật điền sản " để điều chỉnh chế độ kinh tế phong kiến, mà đặc biệt là chế độ ruộng đất.
Vào thể kỷ XI - XII, chế độ phong kiến phát triền cực thịnh, nhiều bộ luật thành văn được ban hành. Đặc biệt, trong thời kỳ này kinh tế hàng hóa phát triển trong khi pháp luật phong kiến~vẫn không có chế định điều chỉnh quan hệ này, do đó, người ta viện dẫn luật La Mã để giải quyết những vấn đề phát sinh từ quan hệ này.
Ví dụ: Một số tập hệ thống hóa pháp luật ra đời ở Itaha, Đức, Pháp. Tiêu biểu nhất là tuyển tập Lambatsky ở Italia. hay hai tuyển tập luật ở Đức gồm 60 tập cỡ:lớn và trên 300 tập cỡ nhỏ. Đặt biệt là bộ pháp điển Toàn thư của Pháp, bộ luật này ra đời muộn, đề cập nhiều đến thương nghiệp. Bộ luật này là kết quả của sự tiếp thu luật La Mã một cách có chọn lọc và được sửa đổi bổ sung cho phù hợp với quan hệ phong kiến.
* Ở từng vùng, việc sử dụng nguồn luật cĩmg khác nhau
Ví dụ: ở miền Bắc nước Pháp, yếu tố kinh tế hàng hóa kém phát triển, nên ở đây chủ yếu sử dụng tập quán pháp của bộ luật Xalich. Người ta coi miền Bắc nước Pháp là quê hương của tập quán pháp hay pháp luật không thành văn.
Ở miền Nam nước Pháp, yếu tố kinh tế hàng hóa phát triển hơn miền Bắc, nên luật La Mã có ảnh hưởng sâu rộng và luật thành văn cũng sớm phát triển hơn so với miền Bắc.
2. Nội dung cơ bản của pháp luật phong kiến Tây âu
2.1 Những quy định về dân sự
2. 1. 1 Quy định về tài sấn
* Về quyền sở hữu ruộng đất
Từ thế kỷ V- VI. do người Frăng vừa thoát thai khỏi chế độ công xã thị tộc nên ở buổi ban đầu của chế độ phong kiến, quyền sở hữu ruộng đất ở công xã có 2 hình thức:
Mộy là, ruộng đất thuộc quyền sở hữu chung của công xã đối với ruộng đất canh tác. Công xã tiến hành việc phân chia ruộng canh tác cho các thành viên của mình. Đến thời hạn nhất định nông dân phải trả lại cho công xã để phân chia lại . Thế kỷ VI - VII, quyền sở hữu ruộng đất của công xã bí tan rã, đất đai thuộc quyền sở hữu của người được phân phối (nông dân).
Hai là, ruộng đất thuộc quyền sở hữu tư nhân đối với nhà cửa, vườn tược xung quanh nhà.
Trên danh nghĩa, toàn bộ lãnh thổ của vương quốc là tài sản của Vua, Vua phân phong cho các thần thuộc của mình. Dần dần, các thần thuộc biến ruộng đất được phân phong thành ruộng đất tư hữu. Từ thế kỷ IX - XI trở về sau, ruộng đất này trở thành lãnh địa và thuộc toàn quyền sở hữu của lãnh chúa phong kiến.
Quyền sở hưu các tài sản khác
Bộ luật Xa Lích thừa nhận chế độ tư hữu về động sản. Vấn đề này được phản ánh qua những điều khoản quy định các hình phạt đối với các tội trộm cắp hay gây thiệt hại đến gia súc, hoa màu của người khác.
2.1.2 Quy định về hợp đồng dân sự
Đến thế kỷ XII - XIII, trong các thành phố tự trị kinh tế công thương nghiệp phát triển, các thành phố này bắt đầu viện dẫn pháp luật La Mã để giải quyết các vấn đề liên quan đến lĩnh vực hợp đồng, trái vụ như các loại hợp đồng mua bán, tặng cho, đoi chác, thuê mướn, ủy.thác. . . do đó, pháp luật của các thành thị trong thời kỳ này rất phát triển.
2.1.3 Quy định về hôn nhân gia ảnh
Bộ luật Xa Lích nghiêm cấm tục cướp vợ hay mua bán vợ. Bộ luật quy định trong thủ tục kết hôn, người chồng phải tặng quà cưới cho vợ (thay cho tiền mua vợ). Sau đó số tài sản này trở thành tài sản chung.
Theo phong tục, để giữ lại toàn bộ số tài sản của dòng họ, người phụ nữ goá chồng phải kết hôn với anh hay em của chồng (chưa có vợ). Tuy nhiên, người phụ nữ này có thể lấy chồng thuộc dòng họ khác với điều kiện:
Một là, phải được gia đình chồng cũ ưng thuận;
Hai là, người chồng mới phải nộp cho gia đình chồng cũ một khoản tiền nhất định.
Về sau, chế độ hôn nhân gia đình chịu nhiều ảnh hưởng của thế lực nhà thờ và lu