NGHỀ THỦ CÔNG VIỆT NAM Nghề thủ công mỹ nghệ Việt Nam vốn có truyền thống quý
báu từ lâu đời, truyền thống đó gắn liền với tên những làng
nghề, phố nghề và được biểu hiện bằng những sản phẩm thủ
công với những nét tinh xảo, độc đáo, hoàn mỹ Nhiều nghề
và làng nghề truyền thống của ta đã nổi bật lên trong lịch sử
văn hoá, văn minh Việt Nam. ở đó không chỉ tập trung sản
xuất lớn hoặc khá lớn, mà còn là nơi hội tụ các thợ và nghệ
nhân tài khéo tạo nên những sản phẩm có bản sắc riêng khó
lòng bắt chước được.
Làng tranh Đông Hồ
ở nước ta, nghề và làng nghề có số lượng rất lớn, hình thành và phát triển khắp cả nước với
hàng trăm, hàng nghìn làng nghề lâu đời nổi tiếng. Do vậy, trong bài viết này chúng tôi muốn đi
sâu vào một số nghề tiêu biểu có lịch sử hình thành gắn với nền văn hoá của dân tộc cũng như
mang lại giá trị về kinh tế. Một trong những nghề sớm có mặt ở Việt Nam đó là nghề sơn mài và
khảm trai. Sản phẩm của làng nghề đã được dân biết mặt, nước biết tên. Không chỉ có vậy, nghề
khảm trai cũng đem lại những minh chứng rất khoa học về lịch sử hình thành của nó. Nghề khảm
trai cũng đòi hỏi lắm công phu, chỉ riêng việc lựa chọn trai để đưa vào các công đoạn cũng là vô
số công việc mà người thợ phải làm. Những con trai của vùng chiêm trũng được lựa chọn có
mầu sắc ánh hồng, những con ốc có độ trong của màu sắc và sự gọt dũa tỷ mỷ của người thợ đã
đan xen tạo thành một chuỗi công việc mới hoàn thiện được công đoạn.
Nghề chạm khắc đá phát triển ở nhiều nơi như làng đá Minh Vân, đá
ở Quảng Nam được lấy từ dãy núi Ngũ Hành Sơn, hay làng chạm đá
Xứ Thanh Tất cả những làng nghề trên đã sớm hình thành trong
mình một cái nôi mà cho dù trẻ nhỏ cũng quen với những âm thanh
của đá, của những tiếng đục, tiếng cưa Những sản phẩm được làm
từ đá có hơi ấm của con người và được thổi lên từ tâm hồn của
tráng lên những lớp men có ánh sáng lạ kỳ, ngay tại những ngôi đình, ngôi chùa cũng là sự hiện
diện, toả sáng của bạc. Những trung tâm sản xuất này mang một chút hương sắc mới cho sự
phong phú của mặt hàng mỹ nghệ ở nước ta. Cũng giống như nhiều nghề thủ công ở nước ta,
nghề chạm bạc cũng có một lịch sử lâu đời. Với những khoảng thời gian gần 1000 năm, nghề
này cũng gặp không ít những thăng trầm. Những sản phẩm tinh xảo có mặt khắp muôn nơi cũng
là một hành trang không ít sóng gió của người thợ. Có bao nhiêu sản phẩm mỹ nghệ là bấy
nhiêu công sức và tâm huyết của người thợ. Bạc đã được chạm là hun đúc bằng chuỗi những
thời gian, với bao nhiêu công đoạn đồng nghĩa với thịnh suy, đó là một điều tất yếu. Và thời gian
cũng đã minh chứng được rằng, lịch sử phát triển nền văn hoá cũng như sự phát triển của kinh
tế nước nhà luôn gắn liền với lịch sử phát triển làng nghề Việt Nam. Bởi những sản phẩm thủ
công mỹ nghệ không chỉ là những vật phẩm văn hoá kinh tế thuần tuý, mà nó biểu trưng cho nền
văn hoá xã hội, mức độ phát triển kinh tế, trình độ dân trí của dân tộc. Nghệ nhân khảm
Trong suốt chặng đường dài hình thành và phát triển nghề nghiệp của mình, những thế hệ thợ
bạc Đồng Xâm đã tạo ra vô số sản phẩm cho xã hội, trong đó không ít sản phẩm đạt tới đỉnh cao
về kỹ thuật và nghệ thuật thủ công chế tác. Bạc đã lên ngôi trong những vật dụng hàng ngày của
con người, trong đồ trang sức và trong cả những bức chạm lớn tỷ mỷ, trong các tiền sảnh của
những công trình lớn. Bạc đã có chỗ đứng trong xã hội không phải vì bề dày thời gian, mà chính
là ở sức lôi cuốn, ở vẻ đẹp được tạo ra từ bàn tay khéo léo của con người. Sự lên ngôi của đồ
bạc cũng chứng tỏ sự cảm nhận và thưởng thức nghệ thuật của con người được hình thành
thống. Những sản phẩm đó luôn có giá trị về văn hoá, kinh tế bằng sức sáng tạo của con người.
Những năm gần đây nhờ có chính sách mở cửa, sản phẩm bạc đã đến được với nhiều nước
trên thế giới. Nhiều khách nước ngoài không khỏi ngạc nhiên khi đứng trước những sản phẩm
thủ công mỹ nghệ được làm từ đôi tay của con người. Tuy vậy, nghề thủ công này còn đang gặp
nhiều khó khăn. Nghề thủ công ở Việt Nam tuy không ít những thăng trầm, nhưng đã giữ lại
được những tinh hoa của vùng đất, con người và nhất là hình ảnh của đất nước Việt Nam. Với
hàng nghìn làng nghề là bấy nhiêu sản phẩm đóng góp cho nền kinh tế, văn hoá nước nhà và là