Qui trình trồng Cà Chua
Nguồn: agriviet.com
MỘT SỐ ĐIỀU CẦN LƯU Ý
- Không dùng thuốc đã bị Nhà nước cấm sử dụng trên rau như
Azodrin, Monitor, Furadan
- Không bón phân đạm quá ngưỡng và tưới thúc sát hoặc trong giai
đoạn thu hoạch.
- Không tưới nước bẩn thải ra từ nhà máy, hoặc chuồng trại.
- Phải đảm bảo dư lượng thuốc trừ sâu, kim loại nặng, nitrat, và vi
trùng gây bệnh cho người dưới mức quy định.
KỸ THUẬT CANH TÁC
1. Thời vụ:
Có hai vụ Đông Xuân và mùa mưa. Vụ Đông Xuân gieo từ tháng 9 đến
tháng 1 năm sau, thích hợp nhất vào tháng 11-12 (chính vụ). Vụ mưa gieo vào
tháng 6-7, năng suất thấp nhưng giá thành cao (lưu ý phải chọn giống thích
hợp trồng mùa mưa).
>
2. Giống:
Giống trồng trong vụ Đông Xuân tương đối đa dạng như: giống địa
phương, giống ấn Độ, SB3, và một số giống F1 của nước ngoài như S902, Delta,
VL 2000, HP5, S901, Giống có thể thích hợp trồng trong vụ mưa là KBT4, số
12, SB2, S901.
3. Quy trình trồng:
a. Gieo cây con:
- Đất gieo phải tơi xốp, thoát nước, không bị rợp, được trộn với lượng phân
như sau (cho 10m2): 5-6 kg phân chuồng + 100g phân lân + 20g thuốc trừ kiến
(Basudin, Oncol).
Sau gieo nên phủ một lớp rơm, khoảng ba ngày hạt nảy mầm bỏ bớt rơm ra,
10 ngày sau gieo có thể tưới thúc hỗn hợp NPK, hoặc DAP ngâm với bánh dầu, 3
Thúc 2 (20-25 ngày sau trồng): 2/5 BD, 2/5 N, 1/3 K2O.
Thúc 3 (35-40 ngày sau trồng): 2/5 BD, 2/5 N, 1/3 K2O.
Trong điều kiện phủ luống lượng phân thúc 2 và 3 được ngâm và tưới vào
gốc, chia làm 4 lần (1 tuần /lần). Trong giai đoạn từ 25-50 ngày sau trồng có thể
tưới thúc cho cây (dùng phân NPK hay DAP ngâm bánh dầu). Sau giai đoạn này
không nên tưới thúc.
QUY TRÌNH QUẢN LÝ DỊCH HẠI TỔNG HỢP
Trên cây cà chua thành phần sâu bệnh hại tương đối nhiều, trong phần này
xin đề cập những đối tượng chính và phổ biến.
Những biện pháp phòng trừ có thể bao gồm:
1. Biện pháp canh tác:
- Làm đất: cày đất phơi ải tốt nhất 1 tháng, ít nhất 1 tuần nhằm diệt nhộng
của sâu xanh, sâu vẽ bùa, mầm bệnh, mầm cỏ dại và tuyến trùng.
- Bón phân cân đối: Tuyệt đối không sử dụng phân rác, phân chuồng tươi.
Phân rác hoặc phân chuồng cần được ủ kỹ trong 6 tháng trước khi sử dụng.
- Sử dụng giống kháng bệnh (lưu ý trong vụ mưa). Khi chọn giống trồng
nên lưu ý một số ký hiệu trên bao giống (thường giống nước ngoài) như sau: BW
(kháng bệnh héo rũ vi khuẩn), F (kháng bệnh héo rũ do nấm Fusarium), N (kháng
tuyến trùng), YLV (kháng bệnh xoăn vàng lá), TMV (kháng bệng khảm thuốc lá
trên cà chua), CMV (kháng bệnh khảm dưa leo trên cà chua)
- Xử lý hạt giống: trước khi gieo phơi hạt 2-3 nắng nhằm diệt một số mầm
bệnh, ngâm hạt trong dung dịch Na2PO4 10% trong 2 giờ, sau đó xả bằng nước
lạnh khoảng 45 phút hong khô trong điều kiện mát (xử lý diệt mầm bệnh virus),
trước khi gieo có thể trộn hạt với một số loại thuốc trừ nấm bệnh như Rhidomil,
Benlat C (5mg /10g hạt).
- Vệ sinh đồng ruộng: cỏ phải được dọn sạch (kết hợp những lần bón phân),
sau lần thúc 3 cần làm cỏ ít nhất 2 lần (trước và trong khi thu hoạch) để giảm
nguồn ký chủ phụ đối với một số loại sâu bệnh. Nên phủ luống bằng nilon hoặc
xử lý thuốc.
- Sâu vẽ bùa: Thường xuất hiện vào tuần thứ 4 và thứ 8 sau trồng. Mật độ
của chúng có thể dự đoán qua số lượng ruồi trưởng thành có mặt trên ruộng
khoảng từ 5-10 con /cây thì ngày hôm sau nên phun thuốc. Sau phun 2 ngày kiểm
tra lại, nếu còn bị hại nhiều cần phun thêm.
Giai đoạn 7-30 ngày sau trồng thuốc sử dụng có thể pha hỗn hợp 2,3 loại trị
cả sâu vẽ bùa, bọ trĩ, rệp sáp. Các loại thuốc có thể dùng: Polytrin, Ofunak, Cyper,
Dipterex, Confidor, Bassa, Sumicidin.
- Sâu đục quả: thường xuất hiện vào giai đoạn ra hoa rộ. Thường có 3 đỉnh
rộ vào tuần thứ 5, 7, 9 sau trồng, cao nhất vào tuần thứ 7, cần lưu ý phòng trừ. Có
thể sử dụng một trong các loại thuốc sau: Sherpa, Sumi alpha, Cidi, Ciper,
Polytrin, Sumicidin. Nên luân phiên thay đổi thuốc, khoảng 60 ngày sau trồng đến
hết vụ nếu sâu nhiều có thể sử dụng BT, Atabron, Nomolt, Mymix.
b. Bệnh:
- Bệnh héo rũ do vi khuẩn: Nên sử dụng giống kháng như KBT4, số 12
(Công ty Giống Cây trồng TP. Hồ Chí Minh). Cây bệnh phải được nhổ bỏ, gom lại
đem đốt, tuyệt đối không vứt bừa bãi trên ruộng hoặc để đầu bờ.
- Bệnh héo rũ do nấm Sclerotium rolfsii: khi thấy xuất hiện có thể phun
Anvil (nồng độ 0,3%), Rhidomil (nồng độ 0,3-0,4 %).
- Bệnh cháy lá: khi thấy xuất hiện có thể phun Rhidomil, Score (nồng độ
0,3-0,4%). Các loại thuốc này có thể kết hợp với những lần phun thuốc sâu khi
thấy bệnh xuất hiện.