Tài liệu Bài báo cáo thực tập thực tế môi trường các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long - Pdf 10

Bài báo cáo th ự c t ậ p
Thực tế môi
trường các tỉnh
Đồng bằng sông
Cửu Long
1
MỤC LỤC
Bài báo cáo th c t pự ậ 1
Th c t môi tr ng các t nh ng b ng sông C u Longự ế ườ ỉ Đồ ằ ử 1
M C L CỤ Ụ 2
PHẦN 1; TỔNG QUAN
Chương 1: Tổng quan về Đồng Bằng sông Cửu Long.
I. MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN
I.1 Vị trí địa lý
− ĐBSCL (Đồng Bằng Sông Cửu Long) nằm kéo dài từ 8°30’ đến 11°00 vĩ Bắc;
104°35’ đến 107°00 kinh Đông. Nằm ở cực nam của đất nước, là phần cuối cùng của lưu
vực sông Mêkông với tổng diện tích tự nhiên là 3,96 triệu ha bằng 5% diện tích toàn lưu
vực.
− Diện tích đồng bằng là 39.700 km
2
, bao gồm 12 tỉnh: Long An, Tiền Giang, Đồng
Tháp, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu
Giang, Bến Tre, và thành phố Cần Thơ.

I.2 Địa chất
2
Nếu so với đồng bằng sông Hồng, ĐBSCL có tuổi thành tạo xưa hơn nhiều - ít
nhất cũng cách đây cả hằng triệu năm. Vùng ĐBSCL được hình thành từ những trầm tích
phù sa và bồi dần qua những kỷ nguyên thay đổi mực nước biển. Những hoạt động hỗn
hợp của sông và biển đã hình thành những vạt đất phù sa phì nhiêu.
I.2.1 Lịch sử hình thành đá móng

Tùy theo điều kiện phân bố tính chất đất, người ta có thể phân thành các vùng đất chính
như sau:
I.4.1 Vùng đất phèn (S)
− Diện tích đất phèn cả nước là 2.140.306 ha, chiếm 6.45% diện tích tự nhiên của cả
nước. ĐBSCL có 1.885.890 ha, chiếm 88.11% diên tích đất phèn cả nước.
− Đất phèn được hình thành do 2 nguyên nhân: một là do tầng đất phèn tiềm tàng bị
oxi hóa mà thành; hai là do tích tụ ở vùng trũng do nước mưa mang đến.
I.4.2 Vùng đất phù sa nước ngọt (P)
− Cả nước có 2.936.413 ha đất phù sa nước ngọt, chiếm 8.9% đất tự nhiên. Ở
ĐBSCL, diện tích đất phù sa nước ngọt là 960.734 ha. Ở nhiều ở các tỉnh An Giang
(214.662ha), Đồng Tháp (150.853ha).
− Đất phù sa thoát nước: 420.236 ha; đất phù sa ít thoát nước: 535.638 ha.
− Đất phù sa ĐBSCL là loại đất tốt. Đất khá giàu chất hữu cơ và đạm.Rất thích hợp
để trồng lúa, hoa màu, cây ăn quả Phân bố chủ yếu ở các tỉnh Long An, Bến Tre, Vĩnh
Long, Tiền Giang, Đồng Tháp
I.4.3 Vùng đất mặn (M)
− Cả nước là: 991.202 ha. Ở ĐBSCL, diện tích đất mặn 703.452 ha, chiếm 70.96%
diện tích đất mặn của cả nước và được chia thành:
o Đất mặn, sú, đước, vẹt: 170.479 ha.
o Đất mặn nhiều: 255.042 ha.
o Đất mặn ít và trung bình: 277.931 ha.
4
− Đặc trưng của đất mặn là lượng Cl
-
cao 0.05-0.25% vào mùa khô, pH ít chua đến
hơi kiềm, hàm lượng mùn từ trung bình đến hơi khá, ít thoát nước. Đất mặn phân bố
nhiều ở các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau.
I.4.4 Vùng đất phèn mặn (SM)
Đất phèn mặn là loại đất bị nhiễm mặn muối. Đất này thường phân bố ở địa hình
trung bình và tương đối thấp. Đặc biệt tập trung nhiều ở Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang.

− Triều biển Đông thuộc loại bán nhật triều không đều, biên độ từ 2m - 3.5m. Cực
đại có thể lên đến 4m.
− Ngược lại triều biển Tây thuộc loại triều hỗn hợp thiên về nhật triều có biên độ
triều nhỏ (nhỏ hơn 1m).
− Dạng bán nhật triều và dao động mạnh của biển Đông có tác dụng lớn trong việc
đẩy nước, tích nước trong lúc triều cao, trong khi ấy dạng nhật triều yếu của biển Tây có
lợi cho việc tiêu nước. Các sông chính rộng và sâu đều chảy ra biển Đông, đó là lý do
khiến triều biển Đông tác dụng lên phần lớn diện tích ĐBSCL
− Do những tác động khác nhau về lưu lượng của sông, địa hình dòng sông, hình
thái và mạng lưới kênh rạch nên khi truyền vào nội địa qua các sông chính thì hình
dạng, biên độ và tốc độ truyền triều trên mỗi sông khác nhau và thay đổi trên từng đoạn
sông. Do đó, diện tích có khả năng tự chảy trên 9 tháng/năm chỉ giới hạn ở vùng ven và
giữa sông Tiền, sông Hậu. Các khu vực khác muốn đưa nước lên vườn, ruộng trong mùa
kiệt phải sử dụng động lực vào các thời điểm khác nhau.
− Mực nước bình quân ở biển Đông cao hơn biển Tây nên sự chuyển nước từ Đông
sang Tây là hợp quy luật.
− Biên độ giảm khi đi sâu vào vườn ruộng.
− Tốc độ truyền triều trên các sông khá lớn, biến đổi theo mùa, lớn nhất là trên sông
Tiền (trung bình: 20km/g, có đoạn 40km/g) và giảm nhanh khi triều truyền vào vườn,
ruộng.
− Hậu quả là tuy cùng nguồn triều, các điểm khác nhau trên các dòng chính và nội
đồng có thể khác pha do triều truyền theo nhiều đường khác nhau.
I.5.3 Chế độ thủy văn mùa kiệt và ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp
− Trong mùa cạn, toàn bộ sông rạch ở ĐBSCL chịu tác dụng của thủy văn và hầu
như không có kênh chính nào chảy một chiều trong mùa cạn, những kênh nào lợi dụng
được các quy luật truyền triều và ít bị nhiễu động bởi các kênh ngang đều có chế độ tải
nước tốt trong mùa cạn.
− Ngoài nguồn của sông Tiền vào mùa nắng, cần lưu ý khai thác nước của các
nguồn từ sông rạch Campuchia đổ về.
6

lượng của nước sông. Lưu lượng thấp và kéo dài có thể do hạn hán, nhưng cũng có thể do
các dự án thủy nông, cấp thuỷ và rẽ nước ra khỏi lưu vực ở thượng lưu.
− Sự xâm nhập mặn trên các sông chính: là do nước biển theo dòng triều oh god
− Truyền ngược vào trong lòng sông nên sự thay đổi mặn cũng mang tính chất chu
kì.
− Xâm nhập mặn trong nội đồng: sự xâm nhập mặn ở các ruộng, vườn còn phức tạp
hơn nhiều so với sông chính vì chịu tác động của nhiều nguồn mặn và các điều kiện khí
hậu, địa hình các nơi có ảnh hưởng khá lớn.Tuy nhiên độ mặn bị giảm nhanh vào đầu
mùa mưa.
− Hậu quả là mất đi nguồn nước gia dụng và trồng trọt duy nhất hoa màu và cây trái
bị hủy hoại. Thực vật sẽ chết nếu độ mặn của nước trồng trọt vượt quá 0,36 g/l. Ngoài ra,
nước có độ mặn cao cũng ảnh hưởng đến gia súc và cá nước ngọt.
7
− Sông Cửu Long và các sông khác trong vùng ĐBSCL có tất cả các yếu tố thuận lợi
cho cho sự xâm nhập của nước mặn:đáy sông thấp hơn mặt nước biển, độ dốc lòng sông
rất bằng phẳng, biên độ thủy triều cao( khoảng 3m ở biển Đông) và gió chướng thổi từ
đất liền vào mùa khô .Vì sông Cửu Long có một lưu lượng tự nhiên cao trong một thời
gian dài ,nhất là trong mùa nươc nổi, cho nên sự xâm nhập của nước mặn trong sông Cửu
Long ngày trước chỉ giới hạn ở vùng cửa sông và không tạo nên một vấn đề nghiêm trọng
cho vùng ĐBSCL vào thời điểm đó.
− Ngày nay sự xâm nhập mặn trong sông Cửu Long là một trong những yếu tố tối
quan trọng có ảnh hưởng đến việc khai thác và phát triển ĐBSCL. Dữ kiện đo đạc gần
đây, tuy không đầy đủ đã cho thấy sự nghiêm trọng của vấn đề. Ví dụ tại Mỹ Tho nơi mà
trước đây có nước ngọt quanh năm, độ mặn trong sông Tiền đã lên đến 5,3g/l vào đầu
tháng 4 /1999 và còn có thể lên cao hơn .Độ mặn này vượt quá tiêu chuẩn 2,0 g/l cho
nước gia dụng ở các nước đang phát triển ,0,36 g/l cho nước trồng trọt và 3,0 g/l cho
nước chăn nuôi. Nước mặn đang xâm nhập sâu vào sông Cửu Long, nhất là trong mấy
năm vừa qua.Trong năm 1995 ,nước mặn đã tiến sâu vào sông Cửu Long 50 km, nhưng
đến năm 1999 nước mặn tiến sâu 70km, một hiện tượng chưa từng thấy trong lịch sử.
− Có nhiều phương pháp có thể dùng để đối phó với sự xâm nhập của nước mặn

lũ khi nước trong các kênh chảy một chiều, song lượng bùn cát này chưa được bồi đắp
vào đồng ruộng vì nước chưa tràn lên đồng.
− Khi lũ đã cao, nước lũ từ phía biên giới Campuchia về tạo ra các sông lũ ngăn
cản không cho phù sa vào sâu.
− Các vùng đất có nước phù sa chảy mạnh qua thường là đất tốt cho nông nghiệp
vì được cải tạo và bồi tích. Muốn tăng lượng phù sa và trong vườn, ruộng cần phải tăng
tốc độ của dòng nước.
I.5.9 Nước ngầm
Các kết quả nghiên cứu địa chất, thủy văn đồng vị, thủy địa hóa đã khẳng định
các vỉa nước ngầm ở ĐBSCL không phải là các túi nước cô lập bị chôn vùi mà liên tục
được bổ sung từ nhiều nguồn khác nhau. Nước ngầm đóng vai trò quan trọng trong nông
nghiệp.
I.6 Khí hậu
ĐBSCL mang tính chất khí hậu gió mùa cận xích đạo. Các yếu tố khí hậu như ẩm
độ, không khí, bốc hơi, nắng, bức xạ, nhiệt độ tuy có thay đổi theo mùa nhưng tương đối
ổn định.
Nhiệt độ: Nhiệt độ hằng năm tương đối điều hòa, trung bình khoảng 27
0
C. Nhiệt độ tháng
cao nhất và thấp nhất chênh lệch không quá 3-4
0
C
Độ ẩm : độ ẩm trung bình trong khoảng 80-86%
Mưa
− Lượng mưa biến động theo từng trạm. Lượng mưa trung bình tháng vào khoảng
130-150 mm trong các tháng mùa mưa và vài chục mm trong các tháng mùa khô.
− Có hai đợt hạn đáng kể: đợt hạn tháng 5,6 DL(gọi là đầu vụ) hay tháng 7, 8 DL
(gọi là hạn Bà Chằng).
Bốc hơi: Nơi có lượng bốc hơi trung bình năm thấp nhất là Cần Thơ: 693.5 mm, TPHCM
: 1.300mm

− Dưới nước: phần lớn là thủy hải sản.
10
I.7.2.2 Tự nhiên
Hệ động vật hoang dã ở đây bao gồm 23 loài thú, 386 loài và loài phụ chim., 35
loài bò sát, 6 loài ếch nhái và 260 loài cá chủ yếu thấy ở rừng U Minh và các rừng đước ở
Nam Căn.
I.8 Khoáng sản:
− ĐBSCL có triển vọng dầu khí trong thềm lục địa tiếp giáp thuộc biển Đông và
Vịnh Thái Lan:
o Bể trầm tích Cửu Long: thềm lục địa tiếp giáp Đông Nam Bộ ở phía Bắc,
ĐBSCL ở phía Nam. Dự báo khoảng 2 tỷ tấn dầu quy đổi.
o Bể trầm tích Nam Côn Sơn: Tiềm năng dự báo địa chất khoảng 3 tỷ tấn dầu
quy đổi.
o Bể trầm tích Thổ Chu - Mã Lai thuộc Vịnh Thái Lan có trữ lượng dự báo
không lớn, khoảng vài trăm triệu tấn dầu.
− Đá vôi có trữ lượng khoảng 130 đến 440 triệu tấn.
− Đá Granit, Andesit có khoảng 450 triệu m3.
− Sét gạch ngói có trữ lượng đến 40 triệu m3.
− Cát sỏi có trữ lượng đến 10 triệu m3/năm
− Than bùn có lượng 370 triệu tấn, trong đó U Minh khoảng 300 triệu tấn
− Nước khoáng có ở Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Minh Hải.
II KINH TẾ-XÃ HỘI
II.1 Dân số-lao động
− Là vùng có dân số đông nhất trong các vùng của cả nước, chiếm 22% dân số cả
nước.
− Dân cư ở ĐBSCL phân bố không đều và không ổn định. Dự báo dân số đô thị năm
2010 khoảng 7,4 triệu người, chiếm 35% dân số vùng.
− Về lực lượng lao động: ĐBSCL có hơn 6 triệu lao động xã hội có khoảng 4.5 triệu
làm nông nghiệp.
− Tỷ lệ chết còn cao có thể do ảnh hưởng mức sống bị giảm sút và thiếu thuốc men

12
II.2.1.4 Ăn ở - đi lại:
Về nhà ở, điều kiện tự nhiên bắt buộc xây dựng nhà trên đồi, gò, gồng và nhà dọc trên
kênh rạch, mặt nhà hướng ra lộ hay kênh rạch. Có 4 loại nhà chủ yếu là nhà đất, nhà sàn,
nhà nửa sàn nửa đất trong đó nhà sàn là phổ biến nhất. Vật liệu xây nhà trước kia lấy từ
các loại vật liệu tự nhiên: tràm, đước, lá dừa nước …sau này thêm các loại cây khác,
gạch, đá…
II.2.2 Xã hội
II.2.2.1 Y tế:
− Hệ thống y tế phát triển tương đối rộng khắp. Toàn vùng có 11 bện viện đa khoa,
103 trung tâm y tế tuyến huyện và 100% xã có trạm y tế. Chương trình tiêm chủng mở
rộng được thực hiện rộng khắp và thu được nhiều kết quả khả quan. Tình hình sức khoẻ
cộng đồng có nhiều vấn đề, cần giải quyết vấn đề bệnh dịch liên quan đến nguồn nước do
thiếu nước sạch. Bệnh AIDS lan truyền mạnh ở khu vức biên giới do người dân thiếu
hiểu biết và tệ nạn xã hội.
− Trong những năm gần đây dịch cúm gà lan rộng, ĐBSCL cũng là vùng có tốc độ
lây truyền cao và phải gánh chịu nhiều thiệt hại nặng nề. Điều đó đòi hỏi công tác y tế,
tiêm phòng, vệ sinh dịch tễ cần được nâng cao và mở rộng để bảo vệ sức khoẻ cộng
đồng.
II.2.3 Giáo dục:
− Mạng lưới giáo dục ở ĐBSCL khá đầy đủ. Tính đến 30/4/2000 có 3.458 triệu
người đến trường. Trong đó, trường tiểu học và phổ thông cơ sở là 4.034 và phổ thông
trung học là 324 triệu. Mỗi xã thường có trường trung học. Bên cạnh đó, mạng lưới các
trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học khá nhiều gồm: đại học Cần Thơ, 5
trường kinh tế, 86 trường cao đẳng dạy nghề.
− Tuy nhiên, những vùng sâu, vùng xa đầu tư cho giáo dục chưa nhiều, số lượng trẻ
em đến trường còn thầp so với cả nước. Tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông trung học thấp, chỉ
cao hơn Tây Nguyên (ĐBSCL 97,01%, Tây Nguyên 7.,01%, đồng bằng sông Hồng
93,28%)
− Nhìn chung, hệ thống giáo dục chưa phát triển đồng bộ giữa các cấp học và các

− Công nghiệp chủ yếu tập trung vào chế biến gạo, thủy sản. Ngành khai thác vật
liệu xây dựng đang phát triển mạnh. Tuy nhiên, trang thiết bị và công nghệ còn lạc hậu,
nhất là ngoài quốc doanh.
II.3.3 Thủy sản:
Với lợi thế về nguồn nước mặt phong phú từ hệ thống sông ngòi kênh rạch, chằng
chịt ĐBSCL có nhiều loại cá nước ngọt có chất lượng. Giá trị xuất khấu thủy hải sản
đạt 50-60% so với cả nước.
14
II.3.4 Giao thông-vận tải:
− Đặc điểm của khu vực này là sông nước, kênh rạch chằng chịt nên giao thông chủ
yếu từ trước là đường thủy. Gần đây công nghiệp dịch vụ phát triển, nhu cầu giao thông
đường bộ tăng nhanh nên đã có hoàng loạt các công trình cầu đường mới được xây dựng
để thuận tiện hóa mọi việc giao lưu thương mại, văn hóa ,du lịch giữa các vùng
− Sự tham gia của tư nhân ngày càng gia tăng thúc đẩy sự phát triển của ngành giao
thông vận tải. Vận chuyển hàng hóa chủ yếu tập trung vào hai hướng chính là TpHCM-
Cà Mau và TpHCM-Kiên Lương. Hàng hóa vận chuyển bằng đường thủy chủ yếu là gạo,
vật liệu xây dựng, phân bón, gỗ
II.3.5 Thương mại-Dịch vụ-Xuất nhập khẩu
− Trong những năm gần đây, dịch vụ thương mại của ĐBSCL phát triển rất nhanh,
hàng hóa đổi mới về số lượng, đa dạng về chủng loại.
− Xuất khẩu phát triển nhanh trong thời kì gần đây, tập trung vào xuất khẩu gạo,
thủy sản là chính. Nhập khẩu không nhiều, chủ yếu là phân bón và các vật tư nông nghiệp
khác.
II.3.5 Du lịch
− Trong những năm gần đây, khu vực ĐBSCL trở thành một địa điểm du lịch sinh
thái nổi tiếng với hệ thống kênh rạch, nổi tiếng với đời sống sông nước, với những ngôi
chùa mang kiến trúc người Khơme, nổi tiếng với nhiều bãi biển đẹp có thể ngắm hoàng
hôn,…Lượng khách trong nước và ngoài nước tới vùng ngày càng tăng và kéo theo đó
cũng nhiều vấn đề môi trường.
− Hầu hết những địa điểm du lịch đều bị thay đổi về cảnh quan, sinh thái quanh

I.1 Giới thiệu:
− Vị trí địa lý: rạch Bảo Định thuộc ấp 6, xã Đạo Thạch, Thành phố Mỹ Tho (gần
ngã ba Trung Lương). (hình 2.1)
− Thời gian xây dựng: 27/01/2004
16
− Cấp công trình: cấp IV
− Hình thức: kiểu cống lộ thiên bằng bêtông cốt thép, đóng mở cửa bằng van tự
động 2 chiều
− Cao trình ngưỡng: - 4.20m
− Kích thước cửa (n*B*H): 3*10*6.5(m)
− Chiều rộng thông nước: 30.0m. (hình 2.2)
− Chiều dài thân cống: 16.0m
− Cao độ dạ cầu: +3.90m
− Tiêu năng 2 chiều:
- Chiều dài bể tiêu năng thượng lưu: 15.0m
- Chiều dài bể tiêu năng hạ lưu: 21.70m
− Hố phòng xói thượng lưu có cao độ: -6.0m
− Hố phòng xói hạ lưu có cao độ: -6.0m
− Xử lý nền cống bằng cọc bêtông cốt thép 35*35cm
− Cửa van tự động hình chữ nhật bằng thép không rỉ, cao độ đỉnh cửa: +2.5,0m;
H=6.5m
− Tần suất tiêu: P=10%
− Tần suất tưới: P=75%
− Cống tự vận hành theo triều, mực nước triều lên xuống được ghi nhận thường
xuyên
I.2 Nhiệm vụ công trình:
− Đây là công trình có ý nghĩa quan trọng cả trên lĩnh vực nông nghiệp lẫn giao
thông vận tải đối với tỉnh Tiền Giang. Vì tuyến đường tránh quốc lộ 50 qua thành phố
Mỹ Tho đã được bộ giao thông vận tải thi công xong, chỉ còn chờ công trình này hoàn
thành mới nối liền toàn tuyến để đưa vào sử dụng, góp phần giải quyết tình trạng tắt

− Năm 1998, nơi đây trở thành Vườn quốc gia Tràm Chim theo Quyết định số
253/1998/QĐ-TTg, ngày 29 tháng 12 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ.
II.2 Điều kiện tự nhiên
II.2.1 Vị trí địa lý
− Vườn Quốc gia Tràm Chim nằm ở vị trí :
o 10
0
37’ đến 10
0
46’ độ vĩ Bắc
o 105
0
28’ đến 105
0
36’ độ kinh Đông
− Nằm cách sông Mêkông 25km về phía Tây, gần biên giới Campuchia
18
− Thuộc địa phận 4 xã : Tân Công Sinh, Phú Thọ, Phú Hiệp và Phú Đức huyện Tam
Nông, tỉnh Đồng Tháp
− Tổng diện tích tự nhiên là 7.586 ha
II.2.2 Địa hình
− Vườn Quốc gia Tràm Chim nằm ở vùng đồng lụt kín Đồng Tháp Mười. Địa hình
trũng, khó tiêu nước, cao trung bình từ 1.4m-1.5m, cao nhất là 1.7m, thấp nhất là 1.2m
− Ở phía Bắc và phía Đông có địa hình cao hơn và là vùng chuyển tiếp giữa bậc
thềm phù sa cổ và phù sa hiện đại, địa hình cao nên lớp phủ mỏng, đất đai phần lớn là bậc
thềm phù sa cổ, thành phần cơ giới nhẹ hình thành nên các loại đất xám
II.2.3 Các loại đất chính
II.2.3.1 Nhóm đất xám trên phù sa cổ
− Đất xám điển hình trên phù sa cổ tập trung chủ yếu ở phía Bắc của vùng và các
khu vực địa hình hơi cao như các giồng Giăng, giồng Phú Đức,giồng Phú Hiệp…hình

12 và tháng 1,còn nhiệt độ thấp nhất là khoảng 14 - 15
0
C vào khoảng tháng 4 và tháng 5.
− Độ ẩm: độ ẩm trung bình hàng năm duy trì trong khoảng 82 – 83%,vào các tháng
mùa mưa độ ẩm có thể đạt đến 85%,ngược lại tỏng mùa khô độ ẩm bình quân có thể
xuống tới 74% có khi đạt dưới 30%
− Chế độ gió: Từ tháng 5 đến tháng 11, hướng gió thịnh hành ở vùng này là hướng
Tây–Nam, tốc độ gió trung bình là 3 m/s mang theo nhiều hơi nước và gây mưa. Từ
tháng 12 đến tháng 4 có gió Đông–Bắc, tốc độ gió trung bình khoảng 2 m/s. Bão hầu như
không ảnh hưởng đến Tràm Chim và vì thế, gió với tốc độ lớn trong cơn mưa chưa từng
xảy ra.
− Lượng mưa: Lượng mưa phân bố theo mùa rõ rệt, trung bình khoảng 1.400
mm/năm. Mùa mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 12, hơn 85% lượng mưa tập trung vào
khoảng thời gian này. Trong khi đó, tháng 1, 2, 3 lại là những tháng khô hạn nhất, thời
tiết hầu như không có mưa. Số ngày mưa trung bình đo được tại Vườn quốc gia Tràm
Chim khoảng 110-160 ngày/năm.
Như vậy: lượng mưa có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và biến đổi của các hệ
sinh thái đất ngập nước.Trong mùa mưa,mưa lớn thường kéo dài hàng tuần vào tháng 7
và tháng 8 đã gây nên hiện tượng lam truyền nước chua cho toàn khu vực làm cho các
loài sinh vật đặc biệt là các loài phù du động thực vật và cá có thể chết rất nhiều và có
thể làm ngừng sự sinh trưởng của các loài thực vật.Mùa mưa thường ngừng đột
ngột,nước rút đi nhanh,mặt đất nhanh chóng bị trơ ra nắng,các quá trinh sinh hóa diễn
ra nhanh ở trong các tầng đất,đất nứt nẻ và các loại độc tố trong đất theo các mao quản
lên tầng trên cũng gây hai cho đời sống của sinh vật ở các vùng này
II.2.5 Chế độ thủy văn
− Vườn quốc gia Tràm Chim chịu ảnh hưởng thủy văn của vùng châu thổ sông
MeKong, nhận nguồn nước trực tiếp từ sông MeKong thông qua hệ thống kinh thủy lợi
như kênh Hồng Ngự–Long An, Đồng Tiến, An Hòa và Phú Hiệp.
− Vào mùa khô, khi nguồn nước mưa chấm dứt, nước từ sông MeKong lan truyền
vào sâu trong đồng rất khó khăn. Nước từ trên biển Đông theo sông MeKong và Vàm Cỏ

thủy sinh từ tháng 8 trở đi, nước mưa và nước ngọt từ sông MeKong đổ về chảy vào khu
vực làm loãng nồng độ acide và đẩy lượng nước chua trong đồng, kênh rạch ra biển, làm
cho lượng độc tố trong đất và nước giảm đi.
II.3 Rừng và hệ thực vật
II.3.1 Thực vật nổi
− Gồm 106 loài, trong đó ngành tảo lục Chlorophyta chiếm ưu với 52 loài khác nhau
(chiếm 49,05%), tiếp đó là tảo mắt Euglenophyta 21 loài, tảo Silic 20 loài
− Trong ngành tảo lam có Microcysticeae noginosn là loài có khả năng tiết độc tố
gây hại cho các loài cá và một số loài thủy sinh khác
21
II.3.2 Thực vật bậc cao:
Hệ thực vật gồm 130 loài khác nhau, trong đó Tràm (Melaleuca leuxadendron) là loài
chiếm ưu thế của vùng đầm lầy ngập nước
II.3.2.1 Cây tràm
− Xuất hiện nhiều ở vùng ẩm ướt và có thời tiết nóng ở miền nhiệt đới (cụ thể là
Tam Nông – Đồng Tháp). Rừng Tràm mọc thường bị ngập nước với độ pH trên dưới 4
(cụ thể là pH 2 – 3). (hình 2.3)
− Rừng Tràm ở đây có 2 loại: loại do trồng (chiếm đa số) và loại mọc tự nhiên
− Cây tràm có nhiều công dụng:
o Lá tràm có chứa nhiều tinh dầu. Lá có thể pha chè giúp để uống giúp tiêu
hóa, chữa cảm cúm, trừ đờm. Nước sắc lá dùng chữa vết thương có mủ,vết
loét.Trong tinh dầu có chứa tới 70% là chất Xineol có tính sát trùng
mạnh,với mùi thơm dịu, được dùng làm dược liệu, sử dụng trong và ngoài
nước
o Hoa tràm có nhiều mật, mùa hoa lại kéo dài (từ tháng 12 đến tháng 3 năm
sau), rất thuận lợi để phát triển nghề nuôi ong lấy mật.
o Gỗ tràm cũng có rất nhiều công dụng, đặc biệt khi ngâm trong nước dùng
trong xay dựng nhà. Muốn xây dựng các công trình nhà kiên cố ở Nam Bộ
người ta cần có gỗ tràm để làm cừ đóng móng. Ngoài ra nó còn làm vật
dụng và nông cụ, làm củi, giấy mà chúng ta vẫn thường sử dụng. Vỏ cây

Lột vỏ trấu, hạt có lớp vỏ màu đỏ nhạt thường thấy lẫn trong gạo ăn hằng ngày. Vườn
Quốc gia Tràm Chim có nhiệm vụ giữ gìn, bảo vệ loài lúa này để phục vụ công tác bảo
tồn gen và lai tạo giống.
II.3.2.4 Sen nguyên thủy
Sen nguyên thủy ở vùng Đồng Tháp Mười là một loài đặc hữu. Loại sen trồng lấy
hạt là giống sen đã bị lai tạo không thuần chủng như sen Đồng Tháp.Việc giữ gìn và bảo
vệ giống sen nguyên thủy Đồng Tháp mục đích là để bảo tồn gen của một loài hoa quý
hiếm, chỉ có ở Việt Nam
II.4 Rừng và hệ động vật
− Hệ thống rễ rừng tràm tự nhiên đã hoàn toàn phù hợp với điều kiện sình lầy đọng
nước và mọc thành quần tụ rộng lớn ở Đồng Tháp Mười. Những quần tụ rừng loại này đã
tạo nơi ở thích hợp cho rất nhiều loài chim nước và các loại động vật khác như Ardea
purpurean, Egretta alba, E.intermedia, E.garzetta…
− Hệ thống rễ tràm dày đặc là nơi cư ngụ và đẻ trứng của nhiều loài động vật đáy,
các loài sò, vọp, cua và nhiều loài động vật khác như rùa, ba ba, ếch nhái. Đây cũng là
môi trường thích hợp của các loại tảo. Trên mặt nước, các cành cây là nơi sinh sống của
các loài động vật không xương sống như ong, kiến, nhện và các loài côn trùng khác.
23
− Củ của một số loài sa thảo mọc trong điều kiện đất ngập, sình lầy cùng với các loài
cá nhỏ và côn trùng là thức ăn quan trọng của sếu đầu đỏ. Những loài sa thảo này cũng
làm thành lớp thảm thực vật thích hợp cho việc làm tổ của các loài chim khác.
− Thảm thực vật đã tạo nơi ở cho nhiều loài bò sát như trăn, rắn, rùa, đồi mồi, lươn
và cả cá sấu.Vào mùa lũ trên những cây gáo có khi có tới vài chục con rắn sống quấn
quyện với nhau. Nhưng ngày nay không còn thấy xuất hiện cá sấu, đồi mồi ở vùng đất
này, các loài khác cũng dần dần hiếm thấy
− Chế độ thủy văn thích hợp với nhiều loài chim nước di cư. Nhiều loài vịt trời như
Northern Pintails (Anus acuta), Northern shovellers (Anus clypeata)…kiếm ăn trên thảm
thực vật nổi thủy sinh và những động vật đang sống nơi đất sình lầy.
− Hội đoàn sen sung mọc trên những vùng đầm lầy nơi đây cũng là địa điểm kiếm
ăn của nhiều loài chim như: Purple (Swamsphen Porphyrio…)

− Số lượng động vật nổi thay đổi rất lớn qua các tháng cuối mùa mưa và trong mùa khô
II.4.3 Cá
− Có 50 loài cá khác nhau ở Vườn Quốc gia Tràm Chim.Trong đó
o Họ Cyprinidea chiếm số loài nhiều nhất 14 loài (38,88%)
o Họ Bagridea chiếm 5 loài ( 13,9%)
o Các họ Mastacembelidac và Cobitidac mỗi họ có 3 loài chiếm 5,6%. Còn các họ
khác mỗi họ chỉ có 1 loài (2,8%)
− Trong số các loài kể trên, Notopterus là loài có số lượng cá thể nhiều nhất. Có khi
đạt đến 98,59% về số lượng và 85% về trọng lượng
− Trong tổng số các loài được thống kê có 8 loài cá có giá trị thương mại cao
II.4.4 Động vật hoang dại và chim
− Hệ động vật không xương sống rất giàu có,các nhóm chính thuộc Arthropoda, Insecta,
Coleoptera, Orthoptera, Diptera
− Hệ sinh thái Vườn Quốc gia Tràm Chim có 6 loài ếch nhái, 13 loài bò sát, 5 loài chuột
− Trong Vườn Quốc gia Tràm Chim có khoảng 198 loài chim với 16 loài quý hiếm.
II.4.4.1 Sếu đầu đỏ (sếu cổ trụi)
− Chim trưởng thành đầu và trên cổ trụi long, trừ một đám màu xám ở má. Ở chim
non đầu và cổ có phủ lông nhỏ màu vàng xỉn. Mùa sinh sản của sếu từ tháng 7 đến tháng
10 (mùa mưa). Mỗi năm đẻ một lứa, mỗi lứa 2 trứng và thường chỉ nuôi được 1 con. Tổ
làm trên mặt đất bằng xác thực vật thủy sinh. Nơi sống và sinh thái trong các vùng đất
ngập nước chua phèn có nhiều cỏ năn,chúng ăn cỏ năn kim và cỏ năn ống. Đào củ bằng
mỏ. Nơi làm tổ thường có xen những cây thân gỗ như tràm hoặc cây thân gỗ ngập nước
khác để có bóng mát cho trứng trong thời gian ấp (hình 2.5)
− Phân bố :
o Trên thế giới : Mianma, Nam Trung Quốc, Đông Dương, Philippin, Úc
25

Trích đoạn Chương 3: Mô tả về nhà máy ximăng Holcim Biện pháp chốn gô nhiễm không khí Giám sát và quan trắc môi trường:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status