Bài báo cáo thực tập thực tế môi trường các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Nhóm 1
PHẦN 1; TỔNG QUAN
Chương 1: Tổng quan về Đồng Bằng sông Cửu Long.
I. MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN
I.1 Vị trí địa lý
− ĐBSCL (Đồng Bằng Sông Cửu Long) nằm kéo dài từ 8°30’ đến 11°00 vĩ Bắc;
104°35’ đến 107°00 kinh Đông. Nằm ở cực nam của đất nước, là phần cuối cùng
của lưu vực sông Mêkông với tổng diện tích tự nhiên là 3,96 triệu ha bằng 5% diện
tích toàn lưu vực.
− Diện tích đồng bằng là 39.700 km
2
, bao gồm 12 tỉnh: Long An, Tiền Giang, Đồng
Tháp, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Trà Vinh,
Hậu Giang, Bến Tre, và thành phố Cần Thơ.
I.2 Địa chất
Nếu so với đồng bằng sông Hồng, ĐBSCL có tuổi thành tạo xưa hơn nhiều - ít nhất
cũng cách đây cả hằng triệu năm. Vùng ĐBSCL được hình thành từ những trầm tích phù sa
và bồi dần qua những kỷ nguyên thay đổi mực nước biển. Những hoạt động hỗn hợp của
sông và biển đã hình thành những vạt đất phù sa phì nhiêu.
I.2.1 Lịch sử hình thành đá móng
− Lịch sử ĐBSCL nằm trọn vẹn trong 2 đại Mezozoic và Kainozoic (trung sinh và cận
sinh) lập nên một móng đá cứng.
− Móng đá trải qua 2 thời kỳ xáo trộn mãnh liệt do hoạt động tách dãn đáy biển Đông
ở ngoài khơi và đới toạt nứt của vịnh Thái Lan.
− Vào thời cận sinh, móng đá bị phủ bởi trầm tích phong phú, mà chiều dày đã được
giải đoán địa chấn, và tam giác châu có chiều dày về phía Đông Nam.
I.2.2 Bồi tích bờ biển
Hệ thống bồi tích bờ biển xảy ra nhờ cân bằng giữa 2 cực độc lập là dòng sông đi ra
và triền biển đi vào mà hậu quả trực tiếp là vật liệu trầm tích lơ lửng (cát mịn, bùn sét) mưa
xuống đáy nước những cồn cửa sông mọc ra, rồi dần dần lấp nghẽn cửa sông.
Bài báo cáo thực tập thực tế môi trường các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Nhóm 1
− Cả nước có 2.936.413 ha đất phù sa nước ngọt, chiếm 8.9% đất tự nhiên. Ở
ĐBSCL, diện tích đất phù sa nước ngọt là 960.734 ha. Ở nhiều ở các tỉnh An Giang
(214.662ha), Đồng Tháp (150.853ha).
− Đất phù sa thoát nước: 420.236 ha; đất phù sa ít thoát nước: 535.638 ha.
− Đất phù sa ĐBSCL là loại đất tốt. Đất khá giàu chất hữu cơ và đạm.Rất thích hợp
để trồng lúa, hoa màu, cây ăn quả...Phân bố chủ yếu ở các tỉnh Long An, Bến Tre,
Vĩnh Long, Tiền Giang, Đồng Tháp.....
I.4.3 Vùng đất mặn (M)
− Cả nước là: 991.202 ha. Ở ĐBSCL, diện tích đất mặn 703.452 ha, chiếm 70.96%
diện tích đất mặn của cả nước và được chia thành:
o Đất mặn, sú, đước, vẹt: 170.479 ha.
o Đất mặn nhiều: 255.042 ha.
o Đất mặn ít và trung bình: 277.931 ha.
− Đặc trưng của đất mặn là lượng Cl
-
cao 0.05-0.25% vào mùa khô, pH ít chua đến
hơi kiềm, hàm lượng mùn từ trung bình đến hơi khá, ít thoát nước. Đất mặn phân bố
nhiều ở các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau.
I.4.4 Vùng đất phèn mặn (SM)
Đất phèn mặn là loại đất bị nhiễm mặn muối. Đất này thường phân bố ở địa hình
trung bình và tương đối thấp. Đặc biệt tập trung nhiều ở Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang.
I.4.5 Vùng đất giồng cát (C
z
)
Là loại đất cát biển tập trung ở ĐBSCL.Thường gặp ở Bến Tre, Tiền Giang, Vĩnh
Long, Trà Vinh, Bạc Liêu....
I.4.6 Vùng đất xám trên phù sa cổ (X)
ĐBSCL có 64.705ha, Long An (46.195ha), Đồng Tháp (15.484ha). Phân bố trên các
bậc thềm phù sa cổ, chạy dọc theo biên giới Việt Nam-Campuchia như ở Đồng Tháp
− Do những tác động khác nhau về lưu lượng của sông, địa hình dòng sông, hình thái
và mạng lưới kênh rạch....nên khi truyền vào nội địa qua các sông chính thì hình
dạng, biên độ và tốc độ truyền triều trên mỗi sông khác nhau và thay đổi trên từng
đoạn sông. Do đó, diện tích có khả năng tự chảy trên 9 tháng/năm chỉ giới hạn ở
vùng ven và giữa sông Tiền, sông Hậu. Các khu vực khác muốn đưa nước lên vườn,
ruộng trong mùa kiệt phải sử dụng động lực vào các thời điểm khác nhau.
− Mực nước bình quân ở biển Đông cao hơn biển Tây nên sự chuyển nước từ Đông
sang Tây là hợp quy luật.
− Biên độ giảm khi đi sâu vào vườn ruộng.
4
Bài báo cáo thực tập thực tế môi trường các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Nhóm 1
− Tốc độ truyền triều trên các sông khá lớn, biến đổi theo mùa, lớn nhất là trên sông
Tiền (trung bình: 20km/g, có đoạn 40km/g) và giảm nhanh khi triều truyền vào
vườn, ruộng.
− Hậu quả là tuy cùng nguồn triều, các điểm khác nhau trên các dòng chính và nội
đồng có thể khác pha do triều truyền theo nhiều đường khác nhau.
I.5.3 Chế độ thủy văn mùa kiệt và ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp
− Trong mùa cạn, toàn bộ sông rạch ở ĐBSCL chịu tác dụng của thủy văn và hầu như
không có kênh chính nào chảy một chiều trong mùa cạn, những kênh nào lợi dụng
được các quy luật truyền triều và ít bị nhiễu động bởi các kênh ngang đều có chế độ
tải nước tốt trong mùa cạn.
− Ngoài nguồn của sông Tiền vào mùa nắng, cần lưu ý khai thác nước của các nguồn
từ sông rạch Campuchia đổ về.
I.5.4 Chế độ thủy văn mùa lũ và ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp
− Ngập úng là hiện tượng khá thường xuyên đối với ĐBSCL, nhất là ở các vùng trũng
và khu vực giữa sông Tiền và sông Hậu.Vì thế cũng ảnh hưởng đến diện tích, năng
suất trồng vườn và ruộng. Nước sông vào mùa lũ không đục như sông Hồng do hàm
lượng phù sa nhỏ (0,100 kg/m
3
vào các tháng 3,4; 0,300 kg/m
− Xâm nhập mặn trong nội đồng: sự xâm nhập mặn ở các ruộng, vườn còn phức tạp
hơn nhiều so với sông chính vì chịu tác động của nhiều nguồn mặn và các điều kiện
khí hậu, địa hình các nơi có ảnh hưởng khá lớn.Tuy nhiên độ mặn bị giảm nhanh
vào đầu mùa mưa.
− Hậu quả là mất đi nguồn nước gia dụng và trồng trọt duy nhất hoa màu và cây trái
bị hủy hoại. Thực vật sẽ chết nếu độ mặn của nước trồng trọt vượt quá 0,36 g/l.
Ngoài ra, nước có độ mặn cao cũng ảnh hưởng đến gia súc và cá nước ngọt.
− Sông Cửu Long và các sông khác trong vùng ĐBSCL có tất cả các yếu tố thuận lợi
cho cho sự xâm nhập của nước mặn:đáy sông thấp hơn mặt nước biển, độ dốc lòng
sông rất bằng phẳng, biên độ thủy triều cao( khoảng 3m ở biển Đông) và gió
chướng thổi từ đất liền vào mùa khô .Vì sông Cửu Long có một lưu lượng tự nhiên
cao trong một thời gian dài ,nhất là trong mùa nươc nổi, cho nên sự xâm nhập của
nước mặn trong sông Cửu Long ngày trước chỉ giới hạn ở vùng cửa sông và không
tạo nên một vấn đề nghiêm trọng cho vùng ĐBSCL vào thời điểm đó.
− Ngày nay sự xâm nhập mặn trong sông Cửu Long là một trong những yếu tố tối
quan trọng có ảnh hưởng đến việc khai thác và phát triển ĐBSCL. Dữ kiện đo đạc
gần đây, tuy không đầy đủ đã cho thấy sự nghiêm trọng của vấn đề. Ví dụ tại Mỹ
Tho nơi mà trước đây có nước ngọt quanh năm, độ mặn trong sông Tiền đã lên đến
5,3g/l vào đầu tháng 4 /1999 và còn có thể lên cao hơn .Độ mặn này vượt quá tiêu
chuẩn 2,0 g/l cho nước gia dụng ở các nước đang phát triển ,0,36 g/l cho nước trồng
trọt và 3,0 g/l cho nước chăn nuôi. Nước mặn đang xâm nhập sâu vào sông Cửu
Long, nhất là trong mấy năm vừa qua.Trong năm 1995 ,nước mặn đã tiến sâu vào
sông Cửu Long 50 km, nhưng đến năm 1999 nước mặn tiến sâu 70km, một hiện
tượng chưa từng thấy trong lịch sử.
− Có nhiều phương pháp có thể dùng để đối phó với sự xâm nhập của nước mặn trong
sông Cửu Long .Phương pháp trước tiên có thể nghĩ đến là gia tăng lưu lượng của
sông Cửu Long trong lãnh thổ Viêt Nam, nhất là trong mùa khô. Có thể thực hiện
bằng cách giảm số lượng nước dẫn vào kinh dùng cho việc canh tác,nhất là những
vùng có năng suất thấp. Lưu lượng của sông Cửu Long cũng có thể được gia tăng
bằng các hồ chứa nước nhân taọ trong vùng. Một phương pháp rất thông dụng đã
được cải tạo và bồi tích. Muốn tăng lượng phù sa và trong vườn, ruộng cần phải
tăng tốc độ của dòng nước.
I.5.9 Nước ngầm
Các kết quả nghiên cứu địa chất, thủy văn đồng vị, thủy địa hóa.... đã khẳng định
các vỉa nước ngầm ở ĐBSCL không phải là các túi nước cô lập bị chôn vùi mà liên tục
được bổ sung từ nhiều nguồn khác nhau. Nước ngầm đóng vai trò quan trọng trong nông
nghiệp.
I.6 Khí hậu
ĐBSCL mang tính chất khí hậu gió mùa cận xích đạo. Các yếu tố khí hậu như ẩm
độ, không khí, bốc hơi, nắng, bức xạ, nhiệt độ tuy có thay đổi theo mùa nhưng tương đối
ổn định.
7
Bài báo cáo thực tập thực tế môi trường các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Nhóm 1
Nhiệt độ: Nhiệt độ hằng năm tương đối điều hòa, trung bình khoảng 27
0
C. Nhiệt độ tháng
cao nhất và thấp nhất chênh lệch không quá 3-4
0
C
Độ ẩm : độ ẩm trung bình trong khoảng 80-86%
Mưa
− Lượng mưa biến động theo từng trạm. Lượng mưa trung bình tháng vào khoảng
130-150 mm trong các tháng mùa mưa và vài chục mm trong các tháng mùa khô.
− Có hai đợt hạn đáng kể: đợt hạn tháng 5,6 DL(gọi là đầu vụ) hay tháng 7, 8 DL (gọi
là hạn Bà Chằng).
Bốc hơi: Nơi có lượng bốc hơi trung bình năm thấp nhất là Cần Thơ: 693.5 mm, TPHCM :
1.300mm
Ánh sáng: Ở ĐBSCL số giờ nắng trung bình năm khoảng 2.500 giờ.
Bức xạ: cán cân bức xạ năm đạt 75-80 kcal/cm
2
Hệ động vật hoang dã ở đây bao gồm 23 loài thú, 386 loài và loài phụ chim., 35 loài
bò sát, 6 loài ếch nhái và 260 loài cá chủ yếu thấy ở rừng U Minh và các rừng đước ở Nam
Căn.
I.8 Khoáng sản:
− ĐBSCL có triển vọng dầu khí trong thềm lục địa tiếp giáp thuộc biển Đông và Vịnh
Thái Lan:
o Bể trầm tích Cửu Long: thềm lục địa tiếp giáp Đông Nam Bộ ở phía Bắc,
ĐBSCL ở phía Nam. Dự báo khoảng 2 tỷ tấn dầu quy đổi.
o Bể trầm tích Nam Côn Sơn: Tiềm năng dự báo địa chất khoảng 3 tỷ tấn dầu
quy đổi.
o Bể trầm tích Thổ Chu - Mã Lai thuộc Vịnh Thái Lan có trữ lượng dự báo
không lớn, khoảng vài trăm triệu tấn dầu.
− Đá vôi có trữ lượng khoảng 130 đến 440 triệu tấn.
− Đá Granit, Andesit có khoảng 450 triệu m3.
− Sét gạch ngói có trữ lượng đến 40 triệu m3.
− Cát sỏi có trữ lượng đến 10 triệu m3/năm
− Than bùn có lượng 370 triệu tấn, trong đó U Minh khoảng 300 triệu tấn
− Nước khoáng có ở Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Minh Hải.
9
Bài báo cáo thực tập thực tế môi trường các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Nhóm 1
II KINH TẾ-XÃ HỘI
II.1 Dân số-lao động
− Là vùng có dân số đông nhất trong các vùng của cả nước, chiếm 22% dân số cả
nước.
− Dân cư ở ĐBSCL phân bố không đều và không ổn định. Dự báo dân số đô thị năm
2010 khoảng 7,4 triệu người, chiếm 35% dân số vùng.
− Về lực lượng lao động: ĐBSCL có hơn 6 triệu lao động xã hội có khoảng 4.5 triệu
làm nông nghiệp.
− Tỷ lệ chết còn cao có thể do ảnh hưởng mức sống bị giảm sút và thiếu thuốc men
chữa bệnh.
II.2.1.4 Ăn ở - đi lại:
Về nhà ở, điều kiện tự nhiên bắt buộc xây dựng nhà trên đồi, gò, gồng và nhà dọc trên
kênh rạch, mặt nhà hướng ra lộ hay kênh rạch. Có 4 loại nhà chủ yếu là nhà đất, nhà sàn,
nhà nửa sàn nửa đất trong đó nhà sàn là phổ biến nhất. Vật liệu xây nhà trước kia lấy từ các
loại vật liệu tự nhiên: tràm, đước, lá dừa nước …sau này thêm các loại cây khác, gạch,
đá…
II.2.2 Xã hội
II.2.2.1 Y tế:
− Hệ thống y tế phát triển tương đối rộng khắp. Toàn vùng có 11 bện viện đa khoa,
103 trung tâm y tế tuyến huyện và 100% xã có trạm y tế. Chương trình tiêm chủng
mở rộng được thực hiện rộng khắp và thu được nhiều kết quả khả quan. Tình hình
sức khoẻ cộng đồng có nhiều vấn đề, cần giải quyết vấn đề bệnh dịch liên quan đến
nguồn nước do thiếu nước sạch. Bệnh AIDS lan truyền mạnh ở khu vức biên giới
do người dân thiếu hiểu biết và tệ nạn xã hội.
− Trong những năm gần đây dịch cúm gà lan rộng, ĐBSCL cũng là vùng có tốc độ
lây truyền cao và phải gánh chịu nhiều thiệt hại nặng nề. Điều đó đòi hỏi công tác y
tế, tiêm phòng, vệ sinh dịch tễ cần được nâng cao và mở rộng để bảo vệ sức khoẻ
cộng đồng.
II.2.3 Giáo dục:
− Mạng lưới giáo dục ở ĐBSCL khá đầy đủ. Tính đến 30/4/2000 có 3.458 triệu người
đến trường. Trong đó, trường tiểu học và phổ thông cơ sở là 4.034 và phổ thông
11
Bài báo cáo thực tập thực tế môi trường các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Nhóm 1
trung học là 324 triệu. Mỗi xã thường có trường trung học. Bên cạnh đó, mạng lưới
các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học khá nhiều gồm: đại học Cần
Thơ, 5 trường kinh tế, 86 trường cao đẳng dạy nghề.
− Tuy nhiên, những vùng sâu, vùng xa đầu tư cho giáo dục chưa nhiều, số lượng trẻ
em đến trường còn thầp so với cả nước. Tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông trung học thấp,
chỉ cao hơn Tây Nguyên (ĐBSCL 97,01%, Tây Nguyên 7.,01%, đồng bằng sông
Hồng 93,28%)
− Tuy không là thế mạnh của vùng nhưng công nghiệp ở ĐBSCL cũng đã và đang
phát triển rất mạnh mẽ: Cần Thơ, Vĩnh Long, Long An...
− Công nghiệp chủ yếu tập trung vào chế biến gạo, thủy sản. Ngành khai thác vật liệu
xây dựng đang phát triển mạnh. Tuy nhiên, trang thiết bị và công nghệ còn lạc hậu,
nhất là ngoài quốc doanh.
II.3.3 Thủy sản:
Với lợi thế về nguồn nước mặt phong phú từ hệ thống sông ngòi kênh rạch, chằng
chịt.... ĐBSCL có nhiều loại cá nước ngọt có chất lượng. Giá trị xuất khấu thủy hải sản đạt
50-60% so với cả nước.
II.3.4 Giao thông-vận tải:
− Đặc điểm của khu vực này là sông nước, kênh rạch chằng chịt nên giao thông chủ
yếu từ trước là đường thủy. Gần đây công nghiệp dịch vụ phát triển, nhu cầu giao
thông đường bộ tăng nhanh nên đã có hoàng loạt các công trình cầu đường mới
được xây dựng để thuận tiện hóa mọi việc giao lưu thương mại, văn hóa ,du lịch
giữa các vùng
− Sự tham gia của tư nhân ngày càng gia tăng thúc đẩy sự phát triển của ngành giao
thông vận tải. Vận chuyển hàng hóa chủ yếu tập trung vào hai hướng chính là
TpHCM-Cà Mau và TpHCM-Kiên Lương. Hàng hóa vận chuyển bằng đường thủy
chủ yếu là gạo, vật liệu xây dựng, phân bón, gỗ....
II.3.5 Thương mại-Dịch vụ-Xuất nhập khẩu
− Trong những năm gần đây, dịch vụ thương mại của ĐBSCL phát triển rất nhanh,
hàng hóa đổi mới về số lượng, đa dạng về chủng loại.
− Xuất khẩu phát triển nhanh trong thời kì gần đây, tập trung vào xuất khẩu gạo, thủy
sản là chính. Nhập khẩu không nhiều, chủ yếu là phân bón và các vật tư nông
nghiệp khác.
II.3.5 Du lịch
− Trong những năm gần đây, khu vực ĐBSCL trở thành một địa điểm du lịch sinh
thái nổi tiếng với hệ thống kênh rạch, nổi tiếng với đời sống sông nước, với những
ngôi chùa mang kiến trúc người Khơme, nổi tiếng với nhiều bãi biển đẹp có thể
ngắm hoàng hôn,…Lượng khách trong nước và ngoài nước tới vùng ngày càng tăng
− ĐBSCL nằm trên địa hình tương đối bằng phẳng, mạng lưới sông ngòi, kênh rạch
phân bố rất dày thuận lợi cho giao thông thuỷ vào bậc nhất so với các vùng ở nước
ta.
14
Bài báo cáo thực tập thực tế môi trường các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Nhóm 1
Chương 2: Các điểm khảo sát, học tập.
I. CỐNG ĐẬP BẢO ĐỊNH - TIỀN GIANG
I.1 Giới thiệu:
− Vị trí địa lý: rạch Bảo Định thuộc ấp 6, xã Đạo Thạch, Thành phố Mỹ Tho (gần ngã
ba Trung Lương). (hình 2.1)
− Thời gian xây dựng: 27/01/2004
− Cấp công trình: cấp IV
− Hình thức: kiểu cống lộ thiên bằng bêtông cốt thép, đóng mở cửa bằng van tự động
2 chiều
− Cao trình ngưỡng: - 4.20m
− Kích thước cửa (n*B*H): 3*10*6.5(m)
− Chiều rộng thông nước: 30.0m. (hình 2.2)
− Chiều dài thân cống: 16.0m
− Cao độ dạ cầu: +3.90m
− Tiêu năng 2 chiều:
- Chiều dài bể tiêu năng thượng lưu: 15.0m
- Chiều dài bể tiêu năng hạ lưu: 21.70m
− Hố phòng xói thượng lưu có cao độ: -6.0m
− Hố phòng xói hạ lưu có cao độ: -6.0m
− Xử lý nền cống bằng cọc bêtông cốt thép 35*35cm
− Cửa van tự động hình chữ nhật bằng thép không rỉ, cao độ đỉnh cửa: +2.5,0m;
H=6.5m
− Tần suất tiêu: P=10%
− Tần suất tưới: P=75%
15
xưa.
16
Bài báo cáo thực tập thực tế môi trường các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Nhóm 1
− Năm 1986, loài sếu đầu đỏ (chim hạc, sếu cổ trụi), được tái phát hiện ở Tràm Chim.
Năm 1991, Tràm Chim trở thành Khu Bảo tồn Thiên nhiên Tràm Chim cấp tỉnh,
nhằm bảo tồn loài sếu đầu đỏ (Grus antigone sharpii).
− Năm 1994, nơi đây trở thành Khu Bảo tồn Thiên nhiên Tràm Chim, cấp quốc gia,
theo Quyết định số 47/TTg ngày 2 tháng 2 năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ kèm
theo thông tư số 4991/KGVX, với diện tích 7.500 ha. Vào tháng 9 năm 1998, diện
tích của Vườn quốc gia Tràm Chim được điều chỉnh lại là 7.588 ha.
− Năm 1998, nơi đây trở thành Vườn quốc gia Tràm Chim theo Quyết định số
253/1998/QĐ-TTg, ngày 29 tháng 12 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ.
II.2 Điều kiện tự nhiên
II.2.1 Vị trí địa lý
− Vườn Quốc gia Tràm Chim nằm ở vị trí :
o 10
0
37’ đến 10
0
46’ độ vĩ Bắc
o 105
0
28’ đến 105
0
36’ độ kinh Đông
− Nằm cách sông Mêkông 25km về phía Tây, gần biên giới Campuchia
− Thuộc địa phận 4 xã : Tân Công Sinh, Phú Thọ, Phú Hiệp và Phú Đức huyện Tam
Nông, tỉnh Đồng Tháp
− Tổng diện tích tự nhiên là 7.586 ha
II.2.2 Địa hình
ngày càng mạnh và đất ngập mặn tiềm tàng chuyển thành đất phèn hoạt động. Đất phèn
hoạt động có phản ứng chua mạnh (pH 3 – 4), độ mạnh của đất thấp 1/100
II.2.4 Chế độ khí hậu
Vườn Quốc gia Tràm Chim nằm trong khu vùng có chế độ nhiệt đới gió mùa với 2
mùa mưa và khô rõ rệt: mùa mưa kéo dài 6 tháng (từ tháng 5 đến tháng 12), các tháng còn
lại là mùa khô
− Nhiệt độ: nhiệt độ ở đây cao quanh năm và tương đối ít biến động,nhiệt độ trung
bình hằng năm khoảng 27
0
C.Nhiệt độ cao nhất được ghi nhận là 38
0
C vào khoảng
tháng 12 và tháng 1,còn nhiệt độ thấp nhất là khoảng 14 - 15
0
C vào khoảng tháng 4
và tháng 5.
− Độ ẩm: độ ẩm trung bình hàng năm duy trì trong khoảng 82 – 83%,vào các tháng
mùa mưa độ ẩm có thể đạt đến 85%,ngược lại tỏng mùa khô độ ẩm bình quân có thể
xuống tới 74% có khi đạt dưới 30%
− Chế độ gió: Từ tháng 5 đến tháng 11, hướng gió thịnh hành ở vùng này là hướng
Tây–Nam, tốc độ gió trung bình là 3 m/s mang theo nhiều hơi nước và gây mưa. Từ
tháng 12 đến tháng 4 có gió Đông–Bắc, tốc độ gió trung bình khoảng 2 m/s. Bão
hầu như không ảnh hưởng đến Tràm Chim và vì thế, gió với tốc độ lớn trong cơn
mưa chưa từng xảy ra.
− Lượng mưa: Lượng mưa phân bố theo mùa rõ rệt, trung bình khoảng 1.400
mm/năm. Mùa mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 12, hơn 85% lượng mưa tập
trung vào khoảng thời gian này. Trong khi đó, tháng 1, 2, 3 lại là những tháng khô
hạn nhất, thời tiết hầu như không có mưa. Số ngày mưa trung bình đo được tại
Vườn quốc gia Tràm Chim khoảng 110-160 ngày/năm.
18
o Từ tháng 2 đến tháng 5: mực nước bình quân cao nhất trên kênh rạch luôn
luôn thấp hơn so với cao trình mặt đất thấp nhất trong đồng
o Từ tháng 9 đến tháng 12: mực nước thấp nhất hàng tháng trên kênh rạch luôn
luôn cao hơn mặt đất nơi cao nhất trong đồng
− Vườn quốc gia Tràm Chim được chia thành 5 vùng quản lý khác nhau, mỗi khu vực
được bao bọc xung quanh bởi hệ thống kênh và đê với tổng chiều dài lên đến 59
km. Mực nước bên trong vườn quốc gia được điều tiết thông qua hệ thống cống và
cửa xả nằm ở các bờ bao xung quanh.
19
Bài báo cáo thực tập thực tế môi trường các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Nhóm 1
− Ở Tràm Chim, nước phèn chua là yếu tố quan trọng nhất chi phối chất lượng nước ở
khu vực này. Vào đầu mùa mưa, nước mang acide từ các khe nứt và các mao quản ở
các tầng sinh phèn trong đất chảy ra toàn khu vực. Trong điều kiện địa hình trống,
khó thoát nước tạo nên sự tồn đọng nước chua ở các khu vực khác nhau. Nước chua
với hàm lượng cation Fe, Al cao gây thiệt hại đối với đời sống sinh vật, làm nghèo
môi trường thủy sinh từ tháng 8 trở đi, nước mưa và nước ngọt từ sông MeKong đổ
về chảy vào khu vực làm loãng nồng độ acide và đẩy lượng nước chua trong đồng,
kênh rạch ra biển, làm cho lượng độc tố trong đất và nước giảm đi.
II.3 Rừng và hệ thực vật
II.3.1 Thực vật nổi
− Gồm 106 loài, trong đó ngành tảo lục Chlorophyta chiếm ưu với 52 loài khác nhau
(chiếm 49,05%), tiếp đó là tảo mắt Euglenophyta 21 loài, tảo Silic 20 loài
− Trong ngành tảo lam có Microcysticeae noginosn là loài có khả năng tiết độc tố gây
hại cho các loài cá và một số loài thủy sinh khác
II.3.2 Thực vật bậc cao:
Hệ thực vật gồm 130 loài khác nhau, trong đó Tràm (Melaleuca leuxadendron) là loài
chiếm ưu thế của vùng đầm lầy ngập nước
II.3.2.1 Cây tràm
− Xuất hiện nhiều ở vùng ẩm ướt và có thời tiết nóng ở miền nhiệt đới (cụ thể là Tam
Nông – Đồng Tháp). Rừng Tràm mọc thường bị ngập nước với độ pH trên dưới 4
không tiếp nhận ánh sáng để quang hợp, từ đó chết đi và làm cho lớp dề ngày càng
dâng lên . (hình 2.4)
− Cỏ năn có 2 loại : cỏ năn ống cao từ 1,5 đến 1,6m; cỏ năn kim là thức ăn cho sếu cổ
trụi; ở vùng Tam Nông – Đồng Tháp có riêng một vùng rộng lớn cỏ năn
mọc tự nhiên làm thức ăn cho sếu cổ trụi mà người dân vùng này gọi thường gọi là cánh
đồng năn
− Cỏ năn màu xám hoặc đen gần giống củ cỏ gấu thành phần chính là tinh bột, ăn có vị
hơi đắng chat. Củ nằm dưới một lớp đất mỏng, khá xốp nên sếu đầu đỏ có thể dùng mỏ
để lấy củ dễ dàng
II.3.2.3 Lúa trời
Lúa trời còn gọi là lúa ma, là giống lúa tự mọc vào mùa nước nổi. Nước lên tới đâu,
lúa mọc tới đó, sống trồi trên mặt nước. Người dân dùng làm thức ăn cho trâu bò. Hạt lúa
có đuôi và vỏ trấu sau khi trổ hoa bắt đầu ngậm sữa trở nên cứng, không thấm nước. Khi
lúa chín rụng xuống trôi nổi trên mặt nước nhưng không nảy mầm hay thối rữa. Sau khi
nước rút hạt trong tình trạng đợi ngày nảy mầm vào mùa nước nổi năm sau. Lột vỏ trấu,
hạt có lớp vỏ màu đỏ nhạt thường thấy lẫn trong gạo ăn hằng ngày. Vườn Quốc gia Tràm
Chim có nhiệm vụ giữ gìn, bảo vệ loài lúa này để phục vụ công tác bảo tồn gen và lai tạo
giống.
21
Bài báo cáo thực tập thực tế môi trường các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Nhóm 1
II.3.2.4 Sen nguyên thủy
Sen nguyên thủy ở vùng Đồng Tháp Mười là một loài đặc hữu. Loại sen trồng lấy
hạt là giống sen đã bị lai tạo không thuần chủng như sen Đồng Tháp.Việc giữ gìn và bảo
vệ giống sen nguyên thủy Đồng Tháp mục đích là để bảo tồn gen của một loài hoa quý
hiếm, chỉ có ở Việt Nam
II.4 Rừng và hệ động vật
− Hệ thống rễ rừng tràm tự nhiên đã hoàn toàn phù hợp với điều kiện sình lầy đọng
nước và mọc thành quần tụ rộng lớn ở Đồng Tháp Mười. Những quần tụ rừng loại
này đã tạo nơi ở thích hợp cho rất nhiều loài chim nước và các loại động vật khác
như Ardea purpurean, Egretta alba, E.intermedia, E.garzetta…
nhiều vũng nước đọng cuối mùa khô. Những vũng nước này giữ nước ngọt cho
nhiều loài chim và động vật hoang dại trong mùa khô.Vào những năm lượng mưa
và nước lũ thấp làm cho nền đất bị khô dễ dàng, ảnh hưởng xấu đến thành phần và
sự sinh trưởng của các loài thân thảo. Điều đó cũng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng
của các loài thân gỗ như tràm. Thời gian ngập nước kéo dài, hoặc ngắn đều ảnh
hưởng đến chu kỳ ra hoa kết quả của cây và năng suất gỗ của loài tràm
−
II.4.1 Động vật đáy
Có 21 loài động vật đáy thuộc 5 lớp của 3 ngành. Trong đó ngành Mollusca chiếm
ưu thế về thành phần loài gồm lớp Gastropoda 3 loài ( 14,3%), lớp Bivalvia 6 loài
( 28,6%), Annelida 3 loài (14,3%), Insecta 5 loài (23,8%)
II.4.2 Động vật nổi
− Gồm 72 loài khác nhau thuộc 5 ngành:
o - Ngành Protozoa 4 loài 5%
o - Ngành Nemathelmintes 21 loài 29%
o - Ngành Annelida 1 loài 1,5%
o - Ngành Malleusca 1 loài 1,5%
o - Ngành Arthropoda 45 loài 63%
− Số lượng động vật nổi thay đổi rất lớn qua các tháng cuối mùa mưa và trong mùa khô
II.4.3 Cá
− Có 50 loài cá khác nhau ở Vườn Quốc gia Tràm Chim.Trong đó
o Họ Cyprinidea chiếm số loài nhiều nhất 14 loài (38,88%)
o Họ Bagridea chiếm 5 loài ( 13,9%)
o Các họ Mastacembelidac và Cobitidac mỗi họ có 3 loài chiếm 5,6%. Còn các họ
khác mỗi họ chỉ có 1 loài (2,8%)
− Trong số các loài kể trên, Notopterus là loài có số lượng cá thể nhiều nhất. Có khi
đạt đến 98,59% về số lượng và 85% về trọng lượng
− Trong tổng số các loài được thống kê có 8 loài cá có giá trị thương mại cao
23
Bài báo cáo thực tập thực tế môi trường các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Nhóm 1
Nông – Đồng Tháp. Làm tổ trên cây tràm lớn hoặc cây móp.Tổ rất to và thường ở
cách mặt đất khoảng 8 đến 10m
− Phân bố:
24
Bài báo cáo thực tập thực tế môi trường các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Nhóm 1
o Trên thế giới: Ấn Độ, Xrilanca, Mianma, Đông Nam Trung Quốc, Đông
Dương, Malaysia, Giava…
o Ở Việt Nam: Trung bộ và Nam bộ.Hiện nay chỉ tập trung ở vùng Đồng Nai
(vùng đất ngập nước), các vùng ngập nước ở Đồng Tháp Muời, ven biển
ĐBSCL và U Minh.
− Gà đẫy có nguồn gen quý hiếm, có giá trị khoa học và thẩm mỹ. Hiện nay có
khoảng 100 đôi sinh sản trong rừng U Minh và gần đây đã gặp ở rừng Nam Cát
Tiên với số lượng không nhiều. Nguyên nhân chính là do rừng tràm bị cháy lien tục,
bị hủy hoại do nhiều nguyên nhân và điều kiện kinh tế xã hội của địa phương.
Ngoài ra còn bị săn bắt quá mức ở nhiều nơi.
II.5 Thực trạng hiện nay
− Vườn Quốc gia Tràm Chim nằm gọn trong vùng lãnh thổ huyện Tam Nông ngay và
ngay sát trung tâm huyện. Nó được bao bọc bởi 1 vùng đệm rộng lớn đông dân cư
(khoảng 40000 người), do vậy môi trường tự nhiên cũng như đời sống sinh vật ở
đây cũng chịu không ít tác động
− Những nguy cơ đe dọa Vườn Quốc gia Tràm Chim
o Nông dân sử dụng thuốc trừ sâu gây ô nhiễm cho khu vực sinh sống của sếu.
o Nạn săn bắt chim thú, đánh bắt cá, trộm cây, phá rừng của một bộ phận
người dân
o Cây Mai dương cũng là hiểm họa hung hãn, ác liệt nhất của tự nhiên. Khi
một cây Mai dương vươn lên thì cả một thảm thực vật bị nó che phủ.Hiện
nay độ che phủ của nó đã làm hư hại thảm thực vật đồng thời hủy diệt cỏ năn
III.MIẾU BÀ – NÚI SAM – CHÂU ĐỐC – AN GIANG
III.1 MIẾU BÀ
III.1.1 Giới thiệu chung: