Tài liệu Bệnh Listeriosis do nhiễm khuẩn Listeria monocytogenes - Pdf 10

Bệnh Listeriosis do nhiễm khuẩn Listeria monocytogenes
Bệnh do nhiễm khuẩn listeria hay còn gọi là bệnh Listeriosis. Đây là tình trạng nhiễm
khuẩn do tiếp xúc hoặc ăn phải các loại thực phẩm bị nhiễm một loại vi khuẩn có tên khoa học
là Listeria monocytogenes. Loại vi khuẩn listeria này được Tổ chức Y tế Thế giới xếp vào nhóm
tác nhân sinh học có nguy cơ cao trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm.
Nhiều người đã từng nhiễm listeria nhưng vẫn không để tâm đến tình trạng này. Vì là khi
mắc bệnh, các triệu chứng được gây ra thường nhẹ và hoàn toàn có thể bị nhầm với các bệnh
khác, ví dụ như bệnh cúm chẳng hạn. Hầu hết mọi người khỏe mạnh khi bị nhiễm với listeria
đều không phát bệnh. Tuy nhiên, nhiễm listeria có thể làm ảnh hưởng một cách khá nặng nề
đến một số đối tượng như phụ nữ đang trong thai kỳ, trẻ em và người có sức đề kháng yếu.
Theo từ điển Y khoa Medilexicon thì bệnh Listeriosis là: “căn bệnh đơn phát của con
người và động vật, đặc biệt là những người bị suy giảm miễn dịch hoặc đang mang thai bị gây
ra bởi loại vi khuẩn Listeria monocytogenes (thuộc họ Listeriaceae). Sự nhiễm khuẩn này trên
cừu và một số động vật khác thường xuyên có liên quan đến hệ thống thần kinh trung ương,
chúng gây ra nhiều triệu chứng bệnh tật cho hệ thần kinh; trong động vật thuộc nhóm
“monogastric” và gia cầm, các biểu hiện chính là nhiễm trùng huyết và gan bị hoại tử. Các bệnh
như viêm màng não, viêm phổi, sảy thai, viêm nội tâm mạc và một số bệnh di căn… đều có liên
quan đến Listeriosis. Đây là một trong những bệnh thực phẩm quan trọng.”

Vi khuẩn Listeria monocytogenes (Ảnh: nrc-cnrc.gc.ca)
Vi khuẩn listeria được tìm thấy trong các loại thực phẩm bảo quản lạnh ăn liền như bánh
mì gói sẵn, pate, bơ, phomat mềm, phomat xanh mềm, các loại thịt cắt lát và cá hồi hun khói…
Hiện nay, chúng ta đã biết đến hai thể bệnh Listeriosis:
Listeriosis khu trú ở ruột: Bệnh chỉ khu trú ở hệ thống tiêu hóa. Người bệnh sẽ trải qua
các triệu chứng nhẹ giống như bị cúm thường như sốt và đau mỏi cơ cũng như có hiện tượng
tiêu chảy.
Listeriosis thể xâm nhập và lan tỏa: Sự nhiễm bệnh không tập trung tại đường tiêu hóa
mà còn xâm nhập vào máu gây tình trạng nhiễm trùng máu hoặc lan sang cả hệ thần kinh trung
ương và não bộ gây viêm màng não. Cả hai tổn thương do nhiễm khuẩn này đều có thể dẫn
đến chết người. Những người có hệ miễn dịch yếu có thể làm cho tình trạng nhiễm khuẩn thêm
nặng hơn là:

phẩm. Và, quan trọng nữa là không quên xem thời hạn sử dụng và hướng dẫn bảo quản và sử
dụng sản phẩm; kiểm tra nhiệt độ tủ lạnh và nấu chín các loại thực phẩm nếu nghi ngờ chúng
có vấn đề về nhiễm khuẩn.
Những người trong nhóm có nguy cơ cao mắc Llisteriosis (phụ nữ mang thai, người già,
trẻ em… ) cần tránh ăn phải những loại thực phẩm nguội như các loại bánh có nhân thịt hoặc
các sản phẩm bảo quản lạnh lâu ngày.
Những triệu chứng và dấu hiệu của tình trạng nhiễm khuẩn listeria
Các triệu chứng của Listeriosis thường bắt đầu xuất hiện vài ngày sau khi ăn/uống phải
các loại thực phẩm bị nhiễm khuẩn. Tuy nhiên, có một số trường hợp thời gian ủ bệnh kéo dài
đến 2 tháng mới xuất hiện các dấu hiệu đầu tiên của bệnh. Các dấu hiệu và triệu chứng của
bệnh thường gặp là:
- Tiêu chảy.
- Sốt 38°C (100.4°F) hoặc cao hơn.
- Đau các cơ.
- Có các cơn ớn lạnh hoặc rùng mình.
- Buồn nôn
Nếu xuất hiện tình trạng nhiễm listeria vào hệ thần kinh, một số các dấu hiệu bệnh và
triệu chứng cũng gần tương tự với nhiễm listeria khu trú. Bao gồm sốt, đau các cơ và có cơn
rùng mình/ớn lạnh nhưng chúng thường diễn biến nặng hơn. Các triệu chứng và bệnh dấu
thường có ở thể lan tỏa:
- Có những thay đổi về tâm thần.
- Có xáo trộn về mặt nhận thức và tinh thần.
- Có cơn co giật.
- Nhức đầu.
- Mất thăng bằng.
- Đau ở cổ (cổ có thể bị cứng, khó chuyển động)
- Có cơn động kinh.
- Mất kiểm soát vận động ở các chi.
Các triệu chứng khi mang thai và của trẻ sơ sinh
Trong thời gian mang thai, nhiễm listeria đơn thuần có thể chỉ gây sốt và một số triệu

bởi khuẩn listeria hoặc một số vi sinh vật gây bệnh khác
Không giống với hầu hết các loại vi khuẩn khác, listeria có thể sống và nhân lên trong môi
trường có nhiệt độ dưới 5
o
C (41
o
F) và kết quả là chúng hoàn toàn có thể tồn tại và phát triển
trong hầu hết các sản phẩm được bảo quản trong tủ lạnh.
Listeria không thể nhân lên dưới 0
o
C (32
o
F). Tuy nhiên, với thực phẩm đông lạnh không
phải là một giải pháp tốt cho việc tiêu diệt hết loại vi khuẩn này.
Nấu chín thực phẩm là phương pháp tốt hơn cả để loại trừ listeria. Với các sản phẩm từ
sữa và sữa, phương pháp “tiệt trùng kiểu Pasteur” sẽ cho kết quả tốt nhất.
Thai nhi có thể nhiễm listeria từ mẹ qua nhau thai. Việc cho trẻ bú chưa được xem là một
nguyên nhân xâu xa cho vấn đề nhiễm listeria ở trẻ.
Các yếu tố nguy cơ lây nhiễm với listeria
Phụ nữ có thai và trẻ em. Phụ nữ trong thời kỳ này là đối tượng có nguy cơ cao hơn cả.
Mặc dù nhiễm listeria có thể chỉ gây ra một vài triệu chứng nhẹ ở người mẹ nhưng với trẻ sơ
sinh và thai nhi, nó thật sự là mối nguy hiểm lớn vì bệnh có thể làm sảy thai, trẻ bị đẻ non hoặc
tử vong sau sinh…
Người có hệ miễn dịch yếu hoặc bị suy giảm. Bao gồm các trường hợp người già, người
nhiễm HIV/AIDS, ung thư, bệnh về thận, tiểu đường hoặc bị các yếu tố bên ngoài làm suy giảm
miễn dịch cũng như người đang dùng thuốc chống thải ghép.
Phụ nữ mang thai là đối tượng dễ mắc hơn
những người trưởng thành khác.

Biến chứng của Listeriosis

tĩnh mạch trong ít nhất 2 tuần. Một số trường hợp nặng hơn, bệnh nhân được yêu cầu kéo dài
thời gian điều trị lên đến hơn 6 tuần.
Với trẻ nhỏ, phương pháp điều trị giống với người lớn. Tuy nhiên, trẻ em được khuyến
cáo sử dụng thuốc với liều lượng đúng theo hướng dẫn của nhà sản xuất dành cho trẻ ở các độ
tuổi.
Phụ nữ trong thời gian mang thai sẽ được điều trị với kháng sinh nhằm tránh nguy cơ lây
nhiễm cho thai nhi. Siêu âm cũng được khuyên nên dùng trong thời gian này để kiểm tra sức
khỏe của thai nhi.
Phòng chống nhiễm Listeriosis
Cách tốt nhất để phòng chống Listeriosis là tiến hành các phương pháp bảo đảm an toàn
vệ sinh thực phẩm:
- Gọt vỏ hoặc rửa sạch các loại củ/quả dùng ăn sống dưới vòi nước chảy.
- Rửa tay trước khi chế biến thức ăn, trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh.

Rửa rau quả đúng cách là một trong những biện pháp
phòng chống các bệnh thực phẩm một cách hữu hiệu.
- Không nên dùng sữa tươi hoặc sản phẩm của sữa tươi không được tiệt trùng và bảo
quản không đúng qui cách.
- Không nên để thực phẩm tươi sống chung vơi thức ăn đã được nấu chín.
- Vệ sinh bề mặt và đồ dùng nhà bếp thường xuyên.
- Thức ăn nấu chín dùng ngay không nên để lâu ngày trong tủ lạnh.
- Không dùng thực phẩm đã hết hạn sử dụng.
- Nên bảo quản thực phẩm ở nhiệt độ bằng hoặc dưới 4
o
C. Khi làm nóng thức ăn nên để
ở nhiệt độ sôi hoặc ít nhất cũng trên 60
o
C.
Ngày 08/03/2010
Nguyễn Hải Khánh

Hầu hết các trường hợp nhiễm khuẩn đều xảy ra vào 3 tháng cuối của thai kỳ. Đa số phụ
nữ mang thai bị nhiễm LC có dấu hiệu sốt, mệt mỏi và đau lưng, có khi thấy tiêu chảy,
đau bụng, buồn nôn hoặc nôn trong suốt thời kỳ nhiễm khuẩn. Vi khuẩn có thể lây truyền
qua rau thai dẫn đến nhiễm khuẩn tử cung, viêm màng đệm và màng ối, sinh non, hoặc
bệnh khởi phát ở giai đoạn sớm ở những trẻ mới sinh. Phụ nữ nhiễm bệnh dễ bị sảy thai
tự nhiên. Trẻ sơ sinh tuần lễ đầu tiên khởi phát bệnh với những dấu hiệu nhiễm khuẩn,
khó thở những tổn thương ở da, hội chứng u hạt nhiễm khuẩn đặc trưng bởi những ổ áp-
xe rải rác ở gan, lách, tuyến thượng thận, phổi và những cơ quan khác. Một số trẻ sơ sinh
phát bệnh ở giai đoạn muộn thường bị viêm màng não nhiều hơn so với trẻ khởi phát ở
giai đoạn sớm. Nếu nhiễm khuẩn bào thai ở giai đoạn sớm thường đi kèm với những biến
chứng sản khoa như sinh non và viêm màng đệm và màng ối.
Nhiễm khuẩn LC còn xảy ra ở những người suy giảm miễn dịch, nhất là những người
điều trị lâu dài bằng glucocorticoid, có khối u ác tính hoặc bệnh lý máu ác tính, đái tháo
đường, bệnh thận, bệnh gan và AIDS.
Nhiễm khuẩn huyết là biểu hiện lâm sàng phổ biến nhất ở những người bị tổn thương hệ
miễn dịch, và nhiễm khuẩn hệ thần kinh trung ương đứng hàng thứ nhì. Triệu chứng
nhiễm khuẩn huyết do LC không thể phân biệt với nhiễm khuẩn huyết do những vi khuẩn
khác gây ra. Bệnh nhân thường bị sốt, mỏi cơ, buồn nôn, nôn và tiêu chảy.
Viêm màng não cấp tính hoặc bán cấp
gồm các triệu chứng: sốt, đau đầu, suy
giảm trí tuệ; xét nghiệm dịch não tủy có
thể cho thấy tăng tế bào bạch huyết, tăng
nồng độ protein, nồng độ glucose bình
thường, hiếm khi tăng bạch cầu đơn nhân;
viêm não, màng não, áp-xe trong não, tủy
sống và nội sọ; liệt dây thần kinh nội sọ không đối xứng, suy giảm trí tuệ, các dấu hiệu
tiểu não, mất cảm giác và vận động; sốt, mất điều vận, động kinh, thay đổi nhân cách,
hôn mê, cứng gáy.
Viêm màng trong tim xảy ra trên các van tim đã có tổn thương từ trước, hay gây tình
trạng nghẽn mạch hệ thống.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status