Tài liệu Giới và những khái niệm liên quan - Pdf 10

Danh sách nhóm 2

Thanh viên nhóm MSSV

Ngô Thị Hồng 0769114

Nguyễn Đức Thuận 0769147

Đỗ Thị Thương 0769155

Phạm Văn Thăng 0769137

Nguyễn Thị Trinh 0769167

Bùi Bích Trâm 0769162
GIỚI VÀ NHỮNG KHÁI
NIỆM LIÊN QUAN
Phân
biệt
giới và
giới
tính

  ớ ộ
     ệ ậ
        ọ ỉ ự ệ
      ữ ữ
   ặ ọ ự
      ệ ủ

  ! ả ườ

này không thay đổi theo không gian
và thời gian.
Những đặc trưng cơ bản của giới (gender):
Những đặc trựng cơ bản của giới do
dạy và học mà có. Những đặc trưng về
giới mang tính xã hội, do xã hội quy
định. Ví dụ như từ khi còn nhỏ, đứa trẻ
đã được đối xử và dạy dỗ tùy theo nó là
trai hay gái. Đứa trẻ phải học hỏi cách
làm con trai hay con gái để được xã hội
chấp nhận
Giới thể hiện các đặc trưng xã hội của
phụ nữ và nam giới nên rất đa dạng. Nó
phụ thuộc vào đặc điểm văn hóa, chính
trị, kinh tế, xã hội của mỗi nước. Ngay
trong một nước cũng có sự khác biệt
đáng kể về vị trí, tiếng nói của phụ nữ
và nam giới ở mỗi khu vực (thành thị,
nông thôn), giữa các giai tầng xã hội (trí
thức, nông dân, công nhân…).
Các quan niệm, hành vi, chuẩn mực xã
hội về giới hoàn toàn có thể thay đổi
được. Quan niệm phụ nữ làm nội trợ như
một “thiên chức” đang được nhìn nhận lại.
Thực tế, ngày càng có nhiều phụ nữ tham
gia lao động ngoài xã hội, giữ những vị trí
quan trọng trong công sở. Trong khi đó,
nhiều nam giới tham gia làm công việc nội
trợ, chăm sóc con cái
Những đặc điểm của giới tính

Ý nghĩa của những khác biệt giới tính sinh họ

Ví dụ, kích thước bộ não của phụ
nữ nhỏ được sử dụng để giải thích
cho sự kém thông minh khi so sánh
với nam giới, và quan điểm này đã
được dùng để lý giải cho việc giải
thích nam giới phù hợp hơn và có
cơ hội tốt hơn trong giáo dục
Hoóc môn của nữ giới cũng được sử
dụng để giải thích sự thiếu thành đạtvề trí
tuệ và những hành vi “phi lý”.
Dalton( 1979) trong tác phẩm của mình
cũng trình bày cho thấy hành vi của phụ nữ
được quyết định bởi sinh học khi cho rằng,
trong thời gian hành kinh, khi hoóc môn
của phụ nữ giảm đi và họ đạt kết quả thấp
hơn trong công việc khoa học, và hay đánh
con cái nhiều hơn những lúc khác, có hành
vi phạm pháp, dễ tự sát…
Sự khác biệt giữa giới tính và giới phản ánh
những quan điểm khác nhau hoặc những giả định
khác nhau về các nguyên nhân của hành vi.
Sử dụng thuật ngữ giới tính khẳng định rằng
những đặc điểm của một cá nhân là một phần quan
trọng của nhân cách chàng trai hoặc cô gái. Những
khác biệt giới tính trong hành vi giao tiếp là một phần
thuộc về bản chất của phụ nữ và nam giới, nhưng
những khác biệt giới có nguồn gốc trong hệ thống xã
hội hơn là trong cá nhân con người ( Unger,1990).

3
Parsons(1955) chứng minh rằng

Phụ nữ có một bản năng đối với
việc nuôi dưỡng, điều này là một
kết quả về vai trò tái sinh sản của
họ được dựa trên cơ sở sinh học, và
nó tạo cho họ một cách lý tưởng
với một vai trò “ tình cảm” trong
gia đình hạt nhân.

Một vai trò “tình cảm”liên
quan đến sự chăm sóc những
nhu cầu thể chất và tình cảm
của tất cả các thành viên trong
gia đình, đặc biệt những đứa
trẻ còn phụ thuộc”.

Parsons(1955)
Trong khi đó sinh học
của nam giới thích hợp
với vai trò công cụ trong
gia đình, liên quan đến
sự hỗ trợ cung cấp kinh
tế và liên hệ với thế giới
bên ngoài gia đình

Parsons(1955)
Nếu một đứa trẻ được
phát triển ổn định khi trưởng

Hunt (1975)
Phản ứng của những nhà nữ quyền

Các nhà nữ quyền đặt câu hỏi về hành
vi và khí chất của phụ nữ được xác định
bởi hoocmôn của họ. Họ không chấp
nhận quan niệm cho rằng biến đổi
hoocmôn được tạo nên khi có kinh
nguyệt là trách nhiệm đối với phụ nữ
như ứng xử tình cảm hơn, hoặc không
thể đảm đương công việc trong thời
gian này


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status