Tài liệu Báo cáo tốt nghiệp "Hoạt động xuất khẩu điều của Việt Nam" - Pdf 10

Trần Mai Phương-CQ482226 Kinh tế quốc tế 48B
TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….

Báo cáo tốt nghiệp
Đề tài:

Hoạt động xuất khẩu điều của Việt Nam
Hoạt động xuất khẩu điều của Việt Nam
1
Trần Mai Phương-CQ482226 Kinh tế quốc tế 48B
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
LỜI MỞ ĐẦU 3
1. Sự cần thiết của đề tài 3
2.Mục đích nghiên cứu của đề tài 3
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
4. Phương pháp nghiên cứu 4
5. Kết cấu đề tài 4
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐẾ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU ĐIỀU Ở
NƯỚC TA 5
1.1 Giới thiệu chung về cây điều và ngành điều ở nước ta 5
1.1.1 Giới thiệu khái quát về cây điều 5
1.1.2 Giới thiệu chung về ngành điều Việt Nam 6
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu hạt điều 9
1.3. Vai trò và ý nghĩa của sản xuất và xuất khẩu hạt điều đối với nền kinh tế quốc dân
10
1.3.1 Sản xuất và xuất khẩu hạt điều làm tăng vốn và phát triển khoa học công nghệ,
góp phần thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước 11
1.3.2 Sản xuất và xuất khẩu hạt điều góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, cải biến
cơ cấu kinh tế và tạo cân bằng môi trường sinh thái 11

phát triển. Kinh nghiệm của các nước đi trước cộng với lợi thế của mình, Việt Nam
đã chọn xuất khẩu nông sản là một trong những ngành xuất khẩu mũi nhọn trong
chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Trong đó, hạt điều được coi là một trong 10
nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.
Hiện nay, trên thị trường thế giới, hạt điều Việt Nam có vị trí rất quan trọng.
Việt Nam chiếm vị trí thứ hai thế giới về xuất khẩu hạt điều, chiếm vị trí thứ nhất
trên thế giới về sản lượng hạt điều. Điều này tạo rất nhiều thuận lợi cho việc đẩy
mạnh xuất khẩu hạt điều của Việt Nam, tăng kim ngạch xuất khẩu, góp phần tăng
ngân sách nhà nước.
Bên cạnh những thuận lợi cũng như những thời cơ nói trên, xuất khẩu hạt
điều cũng gặp phải nhiều thách thức, khó khăn, thể hiện trên các mặt như: sản phẩm
điều của Việt Nam còn thiếu tính đa dạng, nguồn cung ứng nguyên liệu còn hạn
chế, trình độ quản lý yếu kém, Ngoài những khó khăn trong nước, ngành điều
Việt Nam còn phải đối mặt với một thách thức khá lớn và ngành điều Việt Nam sẽ
có thêm nhiều đối thủ cạnh tranh trên thị trường thế giới. Với những hạn chế như
vậy thì nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả của Việt Nam về xuất khẩu hạt
điều là tất yếu khách quan và cũng là yêu cầu cấp bách để Việt Nam hội nhập một
cách có hiệu quả vào nền kinh tế thế giới và khu vực.
Nhận thức được điều này, em đã chọn đề tài “Hoạt động xuất khẩu điều của
Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2.Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm củng cố, bổ sung và vận dụng những
lý thuyết đã học vào giải quyết một vấn đề thực tiễn trong đời sống kinh tế - xã hội .
Hoạt động xuất khẩu điều của Việt Nam
3
Trần Mai Phương-CQ482226 Kinh tế quốc tế 48B
Phân tích, đánh giá khả năng cạnh tranh của Việt Nam về xuất khẩu hạt điều trên thị trường
thế giới trong thời gian qua, qua đó chỉ ra được những thành tựu đạt được và những tồn tại
cần khắc phục. Từ đó tìm ra những phương hướng, biện pháp nhằm tăng cường sức cạnh
tranh của hạt điều xuất khẩu trong thời gian tới.

chỉ là cây mọc hoang dại, đến nay đã được trồng rộng rãi ở khắp các nước nhiệt đới,
đặc biệt là các vùng nhiệt đới ven biển. Cây điều được đưa vào trồng ở Việt Nam từ
thế kỷ 18. Điều là cây có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới ven biển và thích hợp với
những vùng có độ cao so với mặt nước biển từ 600 trở lại. ở những vùng trồng điều
này, nhiệt độ cao đều trong năm, không có mùa đông lạnh, nhiệt độ trung bình trong
năm từ 24 đến 28
0
C, ánh sáng dồi dào (trên 2000 giờ/năm), đây là nhân tố khí hậu
có tính quyết định cho cây điều bởi vì điều cần ánh sáng để ra hoa, kết quả cho năng
suất cao. Ngoài ra, độ ẩm tương đối của không khí thấp trong vụ khô (vụ ra hoa) sẽ
góp phần đưa lại năng suất cao, ít sâu bệnh. Cây điều không kén đất tốt, các loại đất
có độ phì nhiêu thấp như đất đỏ vàng phát triển trên sa thạch hoặc grannít, đất cát
ven biển, đất xám phát triển trên phù sa cổ hoặc đá grannit bạc mầu, khô hạn đều
thích hợp với điều kiện là thoát nước tốt, đất tương đối nhẹ, có tầng dầy khá. Như
vậy, chúng ta có thể tận dụng những vùng đất còn bỏ hoang để trồng điều. Tuy
nhiên, cũng cần tuân thủ những kỹ thuật cần thiết trong trồng điều. Nếu trồng điều
một cách tùy tiện, bất chấp các yêu cầu kỹ thuật, coi điều như một cây bán dã sinh,
sẽ dẫn đến những thất bại.
Điều được biết đến và trở thành một cây có giá trị kinh tế cao của nhiều nước
với ba sản phẩm chính là nhân điều, dầu vỏ hạt điều và các sản phẩm chế biến từ
trái điều như rượu và nước giải khát.
Nhân điều chiếm khoảng 20 - 25% trọng lượng hạt điều, là một loại thực
phẩm cao cấp có giá trị dinh dưỡng cao với 20% đạm, 40 - 53% chất béo, 22,3% bột
đường, 2,5% chất khoáng và nhiều loại vitamin nhóm B, nên được nhiều người ưa
Hoạt động xuất khẩu điều của Việt Nam
5
Trần Mai Phương-CQ482226 Kinh tế quốc tế 48B
dùng vì đó là loại thức ăn vừa bổ lại vừa hạn chế được nhiều bệnh hiểm nghèo như
huyết áp, thần kinh, xơ vữa động mạch Nhân điều có thể rang để ăn, có thể dùng
làm một trong những thành phần của bánh ăn rất thơm, có thể ép ra dầu rán, người

điều Việt Nam đã có mặt tại thị trường đông dân nhất hành tinh này. Ngày nay,
Trung Quốc luôn là thị trường lớn thứ 2 của hạt điều Việt Nam. Đặc biệt hơn là
ngay từ khi Việt Nam – Hoa Kỳ chưa bình thường hoá quan hệ về mặt ngoại giao
thì chúng ta đã có những lô hàng xuất khẩu nhân điều xuất khẩu trực tiếp qua thị
trường Hoa Kỳ - đó là năm 1994.
Trong suốt 10 năm liền từ 1990 – 1999, cây điều Việt Nam từ chỗ chỉ có vài
chục ngàn ha với sản lượng mấy chục ngàn tấn, xuất khẩu nhỏ lẻ, thì năm 1999 Việt
Nam đã có sản lượng 100 ngàn tấn điều thô, sản lượng nhân xuất khẩu đạt 28 ngàn
tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 164 triệu USD. Công nghiệp chế biến điều phát triển
mạnh mẽ, sản lượng điều thô trong nước bắt đầu không đủ cung cấp cho công
nghiệp chế biến và xuất khẩu.
Do vậy mà năm 1996, Việt Nam chính thức ghi tên mình vào danh sách các
quốc gia nhập khẩu hạt điều thô từ châu Phi. Để động viên một ngành công nghiệp
non trẻ đang phát triển với tốc độ “nóng”, Nhà nước cần có định hướng phát triển.
Hiệp hội điều Việt Nam - Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn đã trình Thủ
tướng Chính phủ đề án chiến lược phát triển ngành điều giai đoạn 10 năm từ 2000 –
2010. Ngày 07/5/1999, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 120 /
1999/QĐ–TTg v/v: phê duyệt đề án phát triển ngành điều đến năm 2010.
Điều kỳ diệu là không phải đợi đến 10 năm mà chỉ 5 năm sau, tức là năm
2005 hầu như toàn bộ chỉ tiêu phát triển của Quyết định 120 của chính phủ đã được
ngành điều hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch.
Để ghi nhận thành quả đó thì ngày 14 tháng 1 năm 2003, Chủ tịch nước đã
tặng ngành điều Huân chương Lao động Hạng 3 thời kỳ đổi mới.
Những năm gần đây mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, ngành điều Việt Nam
vẫn kiên trì thực hiện các mục tiêu đã đề ra. Diện tích cây điều được giữ vững,
Hoạt động xuất khẩu điều của Việt Nam
7
Trần Mai Phương-CQ482226 Kinh tế quốc tế 48B
nhiều vùng, nhiều hộ nông dân trồng điều không những xoá được đói, giảm được
nghèo mà còn khá hơn từ trồng điều. Công nghiệp chế biến dần hoàn thiện, ngày

để cạnh tranh thắng lợi trên thị trường. Khả năng cạnh tranh của chất lượng sản
phẩm được thể hiện nếu một sản phẩm có chất lượng tốt hơn thì sẽ có lợi thế hơn
trong cạnh tranh so với những sản phẩm cùng loại nhưng có chất lượng thấp hơn.
Chất lượng sản phẩm hạt điều được quyết định do nhân tố di truyền và quyết định
bởi công tác chế biến, bảo quản. Muốn tăng chất lượng hạt điều phải đồng thời thực
hiện tốt hai nhiệm vụ: Thứ nhất là yếu tố về giống, cách thức gieo trồng. Thứ hai là
phương thức chế biến bảo quản, yếu tố này có ảnh hưởng lớn đến chất lượng sản
phẩm cuối cùng.
Trong sản xuất, công nghệ là yếu tố sống động mang tính quyết định khả
năng cạnh tranh của sản phẩm thông qua công nghệ thể hiện nó làm tăng năng suất
lao động và chất lượng sản phẩm từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh. Trong bối
cảnh cạnh tranh gay gắt ở cả thị trường trong nước và ngoài nước, công nghệ đang
là mối quan tâm sâu sắc của mọi quốc gia. Riêng đối với mặt hàng điều xuất khẩu,
cần chú ý đến việc đầu tư công nghệ để giữ gìn và làm tăng chất lượng của sản
phẩm. Chính điều này sẽ làm tăng giá trị của mặt hàng xuất khẩu, nhờ đó có thể
xuất khẩu những sản phẩm đã được chế biến sâu có chất lượng cao chứ không phải
xuất những mặt hàng thô đem lại giá trị rất thấp lại phải chịu sự tác động rất nhiều
của điều kiện tự nhiên, mùa vụ
Uy tín của doanh trên thị trường thể hiện sự tin tưởng của khách hàng vào
chính doanh nghiệp đó. Đây cũng là nhân tố rất quan trọng để đánh giá khả năng
cạnh tranh của sản phẩm của doanh nghiệp . Hiện nay, trên thị trưòng điều thế giới,
các doanh nghiệp như Alphonsa Cashew Industries, Achal Cashew Private Limited
(ấn Độ), Lafacoo (Việt Nam) là những doanh nghiệp rất có uy tín về xuất khẩu hạt
điều. Hình ảnh và uy tín của doanh nghiệp trên thương trường là một tiềm lực vô
hình của doanh nghiệp. Để có được sức mạnh này doanh nghiệp cần phải thực hiện
Hoạt động xuất khẩu điều của Việt Nam
9
Trần Mai Phương-CQ482226 Kinh tế quốc tế 48B
nhiều hoạt động và các chỉ tiêu khác như: Đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng
sản phẩm, kinh doanh có hiệu quả, đặc biệt là luôn tăng lợi nhuận cũng như giành

vậy nhu cầu về vốn là rất lớn. Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, chúng ta không thể
chỉ trông chờ vào nguồn vốn trong nước, do đó phải huy động nhiều nguồn vốn
khác nhau, trong đó có nguồn vốn thu được từ hoạt động xuất khẩu hạt điều, bởi
quá trình công nghiệp hóa không những đòi hỏi các khoản đầu tư bổ sung mà còn
đòi hỏi nhiều khoản đầu tư mới với quy mô lớn mà khả năng trong nước không đáp
ứng được. Hàng năm, hạt điều xuất khẩu đem lại một lượng kim ngạch rất lớn, đóng
góp rất nhiều cho nguồn thu ngân sách nhà nước. Kim ngạch xuất khẩu hạt điều
không ngừng tăng trong những năm qua, đóng góp cho ngân sách nhà nước của
ngành điều cũng liên tục tăng.
Sản xuất và xuất khẩu hạt điều còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc nhập
khẩu khoa học công nghệ từ nước ngoài, phát triển công nghệ hiện có trong nước.
Lượng ngoại tệ thu được từ hoạt động xuất khẩu hạt điều đã được sử dụng hợp lý để
nhập khẩu những giống điều mới cho năng suất cao hơn và những công nghệ, máy
móc thiết bị tiên tiến để hiện đại hóa ngành chế biến điều.
Khi sản xuất điều phát triển, đời sống của đồng bào trồng điều, đặc biệt là ở
những vùng sâu, vùng xa được nâng lên, giúp đồng bào ổn định cuộc sống, định
canh định cư, tránh hiện tượng du canh, du cư như trước. Mỗi nhà máy, xí nghiệp
chế biến điều mọc lên ở đâu là nơi đó dân cư đến sinh sống tập trung, đồng thời
điện, đường, trường trạm được xây dựng theo để phục vụ cho hoạt động của các
nhà máy và đời sống của người dân. Việc phát triển ngành công nghiệp chế biến
điều vô hình chung đã đẩy nhanh tốc độ CNH - HĐH nông thôn, thúc đẩy sự phát
triển của ngành chế biến và xuất khẩu nông sản nói chung và góp phần chuyển dịch
nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hóa.
1.3.2 Sản xuất và xuất khẩu hạt điều góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất,
cải biến cơ cấu kinh tế và tạo cân bằng môi trường sinh thái
Hoạt động xuất khẩu điều của Việt Nam
11
Trần Mai Phương-CQ482226 Kinh tế quốc tế 48B
Nhờ trồng điều, chúng ta đã tăng nhanh vòng quay sử dụng đất, từ đó nâng
cao hiệu quả sử dụng đất, đặc biệt là đất ở những vùng trước đây bỏ hoang, cằn cỗi,

Việc sản xuất và xuất khẩu điều cũng đã góp phần không nhỏ vào việc cải
biến cơ cấu kinh tế của các vùng trồng điều. Trước đây các vùng này hầu như chỉ
dựa vào nông nghiệp là chính, nhưng từ khi điều trở thành sản phẩm của nền kinh tế
hàng hóa và có giá trị thương mại cao thì cơ cấu kinh tế của các vùng này đã có sự
chuyển biến tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ do sự phát
triển của các nhà máy sản xuất chế biến điều gắn liền với các vùng nguyên liệu.
Hiện nay nước ta có hơn 200 cơ sở chế biến hạt điều và hàng trăm xưởng chế biến
mini nhỏ tập trung chủ yếu ở những vùng nguyên liệu chính như Tây Nguyên,
Duyên hải Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ. Đây là những vùng trước đây hầu như
là thuần nông, nhưng sự ra đời của các nhà máy chế biến điều đã kéo theo sự xuất
hiện của rất nhiều dịch vụ khác, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế.
Bên cạnh đó, chúng ta đang đứng trước một thực tế là môi trường nước ta
hiện đang bị hủy hoại nặng nề thể hiện ở những hiện tượng thiên tai dồn dập như lũ
lụt, bão, đất xói lở, hạn hán. Một trong những nguyên nhân của hiện tượng ấy là do
sự tàn phá rừng, sự lạm dụng phân hóa học trong trồng trọt và các hóa chất khác, sự
tiêu diệt những vi sinh vật có ích Nhiệm vụ cấp bách trước mắt là phải phủ xanh
đất trống, đồi trọc, hạn chế sử dụng phân hóa học, thuốc trừ sâu, tăng độ phì nhiêu
và hiệu quả sử dụng đất.
Trước thực trạng môi trường như vậy, xuất phát từ quan điểm cây điều là
một loại cây lâm nghiệp phù hợp với trình độ sản xuất của đồng bào dân tộc, đáp
ứng được yêu cầu phòng hộ vùng đầu nguồn và được đưa vào trong các chương
trình khuyến khích trồng rừng như chương trình 327, PALM việc trồng cây điều
đã góp phần không nhỏ vào việc trồng, phát triển rừng và giữ gìn môi trường sinh
thái.
1.3.3. Sản xuất và xuất khẩu hạt điều góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo công
ăn việc làm và cải thiện đời sống người lao động
Cây điều còn được coi là cây của vùng đất bạc màu, cây của người nghèo bởi
đây là một trong những loại cây trồng chủ chốt trong chiến lược xóa đói giảm nghèo
Hoạt động xuất khẩu điều của Việt Nam
13

lượng và kim ngạch tăng với tốc độ khá cao. Xét về cơ cấu ngành hàng xuất khẩu,
trong khoảng 5 năm gần đây, bên cạnh một số sản phẩm nông sản mang tính truyền
thống như gạo, lạc nhân, hạt tiêu, cà phê, đỗ tương, nhân điều đã trở thành một mặt
hàng nông sản mang về cho đất nước một nguồn ngoại tệ xuất khẩu rất lớn. Tốc độ
tăng trưởng về sản lượng và kim ngạch xuất khẩu hạt điều tăng lên một cách đáng
kinh ngạc.
Riêng năm 2004 kim ngạch xuất khẩu điều đạt con số 430 triệu
USD(103.000 tấn), so với năm 2003 tăng 25% về sản lượng và 40% về giá trị. Và
năm 2005, do giá điều thế giới tăng, nên kim ngạch xuất khẩu tăng 10,3%, đạt 418
triệu USD, đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu điều lớn thứ 2 thế giới, sau Ấn
Độ. Năm 2006, VN đã vượt Ấn Độ - "cường quốc" về cây điều - để trở thành quốc
gia dẫn đầu thế giới về XK hạt điều. Chất lượng nhân điều VN cũng được ca ngợi là
số 1, là thơm ngon hơn hẳn nhân điều của Ấn Độ, Brazil hay Tanzania Thật vậy,
năm 2006, các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu được 127.000 tấn nhân điều, đạt
kim ngạch xuất khẩu gần 504 triệu USD; trong khi Ấn Độ chỉ xuất khẩu có 118.000
tấn nhân điều. Chính kết quả này đã đẩy VN lên ngôi vị XK nhân điều hàng đầu thế
giới trong năm 2006. Năm 2007, tiếp tục lần thứ hai Việt Nam đứng số 1 thế giới về
XK hạt điều, đồng thời đạt mức cao kỷ lục về số lượng cũng như trị giá. Cả năm
2007, nước ta xuất khẩu được 151,73 ngàn tấn hạt điều các loại với trị giá 650,6
triệu USD, tăng 19,66% về lượng và tăng 29,15% về trị giá so với năm 2006; tăng
39,24% về lượng và tăng 29,73% về trị giá so với năm 2005. Năm 2008, cả nước
xuất khẩu 167.000 tấn hạt điều, đạt kim ngạch 920 triệu USD, tăng trên 40% về giá
Hoạt động xuất khẩu điều của Việt Nam
15
Trần Mai Phương-CQ482226 Kinh tế quốc tế 48B
trị so năm 2007. Tuy giá trị xuất khẩu chỉ bằng gần một nửa so với cà phê, nhưng
hạt điều vẫn thuộc nhóm hàng nông sản xuất khẩu chủ lực.
Theo số liệu thống kê, trong tháng 4/2009, cả nước xuất khẩu được 12,5
nghìn tấn hạt điều với trị giá 54,6 triệu USD, tăng 13,8% về lượng và tăng 17% về
trị giá so với tháng 3/2009; tăng 10% về lượng nhưng vẫn giảm 13,6% về trị giá so

17
Trần Mai Phương-CQ482226 Kinh tế quốc tế 48B
( Nguồn: tổng hợp từ số liệu của tổng cục thống kê)
2.1.2 Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu
Nhìn chung, ngành điều đã rất nỗ lực trong việc đa dạng hóa cơ cấu sản
phẩm điều cho xuất khẩu và đã chú ý nhiều đến việc nâng cao tỷ trọng các mặt hàng
điều chất lượng cao. Trong cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, không phải cứ có lợi thế sản
xuất loại nào thì xuất khẩu loại ấy, mà ở mỗi thị trường khác nhau, nhu cầu tiêu
dùng cũng khác nhau. Do đó, cần phải căn cứ và xem xét nhu cầu thị trường để đưa
ra và điều chỉnh cơ cấu sản phẩm cho phù hợp.
Trong cơ cấu sản phẩm hạt điều xuất khẩu của Việt Nam, nhân điều chiếm
một tỷ trọng lớn, trung bình hơn 85%. Điều này cho thấy hạt điều nhân là mặt hàng
chủ lực của ngành điều Việt Nam. Lượng xuất khẩu điều nhân của Việt Nam là rất
lớn, đứng thứ nhất trên thế giới, chủ yếu là do nhu cầu tiêu thụ trên thế giới liên tục
tăng. Theo số liệu thống kê của Hiệp hội điều Việt Nam, trong 3 năm từ 2006 đến
2008, toàn ngành điều cả nước đã nhập khẩu hơn 1,5 triệu tấn điều thô, trong đó
hơn 500 nghìn tấn được nhập khẩu từ các nước châu Phi như: Bờ Biển Ngà (trên
50%), Guinea Bissau, Mozambique và một số nước châu Á như Indonesia,
Hoạt động xuất khẩu điều của Việt Nam
18
Trần Mai Phương-CQ482226 Kinh tế quốc tế 48B
Campuchia với trị giá bình quân trên dưới 100 triệu USD mỗi năm. Cục Trồng trọt
(Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn) cho biết, diện tích canh tác điều cả nước
hiện nay khoảng 400 nghìn ha, trong đó chỉ có khoảng 300 nghìn ha có thu hoạch,
giảm khoảng 30 nghìn ha so với các niên vụ trước. Do vậy, năm nay các doanh
nghiệp Việt Nam dự kiến sẽ nhập khoảng 200 nghìn tấn điều thô để đáp ứng công
suất chế biến và nhu cầu xuất khẩu, tương ứng khoảng 100-140 triệu USD. Nhập
khẩu điều nguyên liệu của Việt Nam trong tháng 8/2009 đạt 24,2 triệu USD, mức
cao nhất kể từ đầu năm 2009, tăng 7,7% so với tháng trước và tăng 9,1% so với
cùng kỳ năm trước.

Trung Quốc hạt điều nhân cũng chỉ được tiêu thụ phần lớn ở các thành phố lớn như
Bắc Kinh, Thượng Hải, Thâm Quyến,
Tóm lại, về các thị trường xuất khẩu điều của Việt Nam, mỗi thị trường có
một đặc điểm riêng. Do đó các doanh nghiệp xuất khẩu cần tìm hiểu kỹ các thị
trường này để có thể đáp ứng một cách tốt nhất.
So với tháng trước, lượng và kim ngạch xuất khẩu hạt điều sang các thị
trường có sự tăng giảm không đồng đều. Một trong số những thị trường chủ lực của
hạt điều xuất khẩu nước ta là thị trường Hoa Kỳ. Với lượng xuất khẩu trong tháng
7/2009 đạt 7.549 tấn với kim ngạch 34,47 triệu USD, tăng 35,6% về lượng và tăng
49,36% về kim ngạch so với tháng trước, còn so với cùng kỳ năm 2008 thì tăng nhẹ
3,55% về kim ngạch và tăng 27,07% về lượng.
Tiếp đến là thị trường Hà Lan, so với tháng trước thì tăng cả lượng và kim
ngạch lần lượt là: 5,86% và 7,6% với lượng xuất khẩu đạt được trong tháng là 2.690
tấn với kim ngạch 13,51 triệu USD, tuy nhiên tổng lượng hạt điều xuất khẩu trong 7
tháng năm 2009 thì chỉ đạt 13.320 tấn với kim ngạch 67,31 triệu USD, giảm 10,5%
về lượng và 17,33% về kim ngạch so với 7 tháng đầu năma 2008.
Tổng lượng hạt điều xuất sang thị trường Trung Quốc trong 7 tháng đầu năm
2009 đạt 19.141 tấn với kim ngạch 80,83 triệu USD đứng thứ 2 sau Hoa Kỳ, giảm
nhẹ 0,71% về kim ngạch nhưng lại tăng 25,29% về lượng so với 7 tháng năm 2008.
Hoạt động xuất khẩu điều của Việt Nam
20
Trần Mai Phương-CQ482226 Kinh tế quốc tế 48B
Một số thị trường xuất khẩu khác của hạt điều nước ta có sự tăng trưởng cả
về lượng và kim ngạch so với tháng trước như: Australia (tăng 53,5% về lượng và
61,86% về trị giá), Canada (tăng 107,05% về lượng và 131,43% về trị giá), Nga
(38,7% về lượng và 36,97% về trị giá)…
Bảng 2.4: tham khảo thị trường xuất khẩu hạt điều trong tháng 4 và 4 tháng
đầu năm 2009 (lượng: tấn, trị giá: 1000 USD)
Thị trường Tháng 4/09 4 tháng đầu năm 09
Lượng trị giá Lượng trị giá

Tuy mới có gần 20 năm hình thành và phát triển, ngành chế biến – xuất khẩu
điều Việt Nam đã có những bước phát triển ngoạn mục để trở thành quốc gia chế
biến – xuất khẩu điều hàng đầu thế giới hiện nay.
Thực hiện đề án phát triển điều đến năm 2005 và 2010, các tỉnh đã hoàn
thành tốt việc rà soát quy hoạch phát triển điều, dành ngân sách hỗ trợ đầu tư
nghiên cứu khoa học công nghệ, hỗ trợ đưa giống mới vào sản xuất và hỗ trợ mở
rộng diện tích điều cao sản. Các doanh nghiệp đã đầu tư hàng tỷ đồng cho phát triển
vùng nguyên liệu, hỗ trợ giống cho nông dân. Nhờ đó, đến nay trong số hơn 400
nghìn ha điều cho thu hoạch, có khoảng 130 nghìn ha điều cao sản, năng suất đạt 2-
2,5 tấn, cá biệt có vùng đạt gần ba tấn/ha, tăng hơn năm lần so với giống điều cũ.
Trong hai năm 2005 và 2006 ngành điều Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn.
Do những nguyên nhân khách quan và chủ quan ở đầu vào (thị trường nguyên liệu
trong nước) và đầu ra (thị trường xuất khẩu nhân điều) nên riêng trong năm 2005,
các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu điều đã lỗ 1.000 tỉ đồng. Trong hoàn cảnh đầy
khó khăn ấy, Hiệp hội cây điều Việt Nam đã phát huy vai trò của mình trong việc
phối hợp hỗ trợ và khuyến cáo các hội viên tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm theo
Quyết định 80 của Thủ tướng Chính phủ, bảo đảm lợi ích cho nông dân trồng
Hoạt động xuất khẩu điều của Việt Nam
22
Trần Mai Phương-CQ482226 Kinh tế quốc tế 48B
nguyên liệu, doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu. Những cố gắng này đã tác động
đến tình hình thu mua điều nguyên liệu 2006 và các năm sau nhiều đơn vị đã không
còn lỗ, và đã bắt đầu có lãi. Bức tranh tổng thể của ngành điều đã có nhiều nét sáng
sủa, đáng mừng, khẳng định bước phát triển đúng hướng của ngành.
Về phát triển nguồn nguyên liệu, cây điều có lợi thế rõ rệt nhất là trồng được
trên đất bạc mầu, đất trống đồi trọc, điều vừa là cây nông nghiệp vừa là cây lâm
nghiệp, mức đầu tư thấp nên rất phù hợp với vùng nông dân nghèo với năng suất
điều thô cao và tỷ lệ lãi tốt. Ở Việt Nam có hàng triệu hecta đất trống, đồi núi trọc
lại nằm ở khu vực có điều kiện môi trường sinh thái phù hợp cho cây điều phát
triển.

thống kê. Giảm nhiều nhất là ở các tỉnh: Khánh Hoà (4.100ha), Bình Định
(3.000ha), Đắc Lắc (2.900ha)
Sản lượng thu hoạch qua các năm cũng không bền vững, mà lúc giảm, khi
tăng. Thí dụ: Năm 2006, sản lượng 340.000 tấn, năm 2007 là 400.000 tấn, nhưng
năm 2008 giảm còn 350.000 tấn.
Năng suất điều lại tăng rất chậm và không ổn định, do nông dân trồng điều ít
đầu tư thâm canh đúng kỹ thuật. Năng suất năm 2005 đạt 1,06 tấn/ha, năm 2006
giảm còn 0,9 tấn/ha, năm 2007: 1,03 tấn/ha và năm 2008 là 1,10 tấn/ha. Tại Braxin,
sản lượng điều xuất khẩu thấp hơn nước ta, nhưng năng suất bình quân là 2 tấn/ha.
Trong khi đó, Bình Phước là thủ phủ của cây điều cũng mới chỉ đạt bình quân trên
1,3 tấn/ha.
Về chế biến, một số đơn vị, cá nhân mới chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt
mà chưa đầu tư nghiên cứu và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu
ngày càng cao về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường, nên
hiệu quả đem lại không cao. Trình độ công nghệ chế biến hạn chế, tỷ lệ lao động
thủ công nhiều dẫn đến năng suất lao động thấp, giá thành chế biến cao đã kéo theo
nhiều hệ lụy khiến cho ngành điều trong tỉnh khó đứng vững và phát triển mạnh
trên thị trường quốc tế.
Hoạt động xuất khẩu điều của Việt Nam
24
Trần Mai Phương-CQ482226 Kinh tế quốc tế 48B
2.2.3. Nguyên nhân của những thành công và tồn tại trong hoạt động xuất
khẩu điều ở nước ta
Nguyên nhân của những thành công:
Sở dĩ ngành điều nước ta đạt được những thành công nói trên là do nhiều yếu
tố tác động, trong đó có thể kể đến một số yếu tố sau:
Thứ nhất là cầu thị trường điều trong những năm gần đây tăng mạnh, trong
khi lượng cung lại có hạn làm cho giá hạt điều tăng. Đó là cơ hội tốt cho các nhà
kinh doanh, sản xuất và chế biến điều xuất khẩu ở nước ta.
Thứ hai là điều kiện tự nhiên ở Việt Nam mà đặc biệt là ở các vùng từ Quảng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status