THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ - Pdf 67

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
2.1 Tổng quan tỡnh hỡnh sản xuất lúa gạo của Việt Nam trong thời gian qua
Sản xuất lúa gạo đóng vai trũ đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế
nông nghiệp và nông thôn Việt Nam. Khoảng 80% trong tổng số 11 triệu hộ
nông dân tham gia sản xuất lúa gạo, chủ yếu dựa vào phương thức canh tác
thủ công truyền thống. Trong gần ba thập kỷ qua nhờ có đổi mới cơ chế quản
lý, Việt Nam đó đạt được những thành tựu lớn trong sản xuất lúa gạo, không
những đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước mà hàng năm cũn xuất khẩu
được 3-4 triệu tấn gạo.
Trong sản xuất nông nghiệp, chiếm gần 50% GDP nông nghiệp (không bao
gồm lâm và ngư nghiệp) năm 2003. Trong giai đoạn 1990-2002 sản lượng lúa
tăng bỡnh quõn khoảng 4,9% năm. Đó là kết quả của việc tăng năng suất lúa
(3.0% năm) và do tăng diện tích gieo trồng (1,8% năm). Mức tăng trưởng của
sản xuất lúa giữa các vùng khác biệt đáng kể. Tốc độ tăng sản lượng cao nhất
là ở vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.
Năng suất lúa tăng mạnh nhất là ở vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và
Đồng bằng sông Hồng. Diện tích gieo trồng lúa ở Tây Bắc và Duyên hải Nam
Trung Bộ trong giai đoạn 1990-2002 giảm, trong khi đó ở các vùng khác trong
cùng thời kỳ lại tăng.
Sự thay đổi về diện tích và năng suất lúa là hai nhân tố chính tác động tới tốc
độ tăng sản lượng, song vai trũ của chúng giữa các vùng khác nhau và thay đổi
theo thời gian. Diện tích gieo trồng lúa của Việt Nam năm 2002 đạt xấp xỉ 7,5
triệu ha, trong đó ĐBSCL chiếm tỉ lệ cao nhất (51,3%) sau đó là ĐBSH (19,6%).
Hiện nay, năng suất lỳa trung bỡnh cả nước đạt 4,6 tấn/ha và sản lượng thóc
đạt 34,064 triệu tấn. Tăng năng suất lúa không chỉ nhờ có giống tốt, mà cũn do
phỏt triển thuỷ lợi, cải thiện dinh dưỡng cây trồng, và cải tiến công tác quản lý.
Tốc độ tăng năng suất lúa (tuỳ theo điều kiện tự nhiên, chủ yếu là dinh dưỡng,
bức xạ và khả năng tưới tiêu) khác biệt đáng kể giữa các vùng sinh thái, đặc
biệt là giữa ĐBSCL và các vùng cũn lại trong cả nước. Trong khi tốc độ tăng
năng suất lúa ở ĐBSCL giảm từ 2,1% xuống cũn 0,4%, thỡ cỏc vựng khỏc lại

Đầu những năm 90, để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, Chính phủ Việt
Nam đó kiểm soát hoàn toàn lượng gạo xuất khẩu thông qua giấy phép và hạn
ngạch xuất khẩu, và chỉ cho phép doanh nghiệp nhà nước xuất khẩu gạo. Từ
1991 đến 1993, cả nước chỉ có 40 công ty xuất khẩu gạo, chủ yếu là ở phía
Nam. Hệ thống xuất khẩu gạo trong giai đoạn đó không có hiệu quả và ảnh
hưởng bất lợi tới thu nhập của nông dân.
Từ năm 1998, để tăng cường hiệu quả xuất khẩu gạo, chính phủ cho phép tư
nhân tham gia các hoạt động thương mại quốc tế. Năm 1999, các công ty liên
doanh đó được phép xuất khẩu gạo nếu tỡm được đối tác. Đến năm 2000, cả
nước đó cú 47 cụng ty xuất khẩu gạo. Tuy nhiên, thị phần của công ty tư nhân
trong tổng lượng gạo xuất khẩu vẫn cũn nhỏ. Năm 1998, các doanh nghiêp tư
nhân chỉ xuất được 185.000 tấn gạo, chiếm khoảng 4% ngoài tổng số 4 triệu
tấn.
Chính phủ Việt Nam cũng áp dụng hạn ngạch để kiểm soát xuất khẩu gạo. Từ
năm 1997, Chính phủ toàn quyền xác định tổng lượng xuất khẩu dựa trên mức
dư thừa được dự báo từ sản lượng và tiêu thụ. Trong thực tế, hạn ngạch xuất
khẩu không hoàn toàn ràng buộc đối với tất cả các doanh nghiệp do hạn ngạch
được phép chuyển nhượng. Hơn nữa, tổng hạn ngạch xuất khẩu được điều
chỉnh theo định kỳ tùy theo sản lượng thực tế và giá gạo thế giới. Nhằm đẩy
mạnh lượng gạo xuất khẩu, Chính phủ đó thực hiện những biện pháp khuyến
khích đối với cả doanh nghiệp trung ương và địa phương. Từ năm 2000 việc
kiểm soát xuất khẩu bằng hạn ngạch đó được bói bỏ.
2.2.2 Giai đoạn xây dựng và hoàn thiện
Giai đoạn xây dựng (2001-2006): Chiến lược xuất khẩu gạo đó được xác định
trong Văn kiện Đại hội Đảng về phát triển nông nghiệp, trong chiến lược xuất
khẩu và chiến lược ngành trồng trọt nói chung, đến chiến lược cụ thể của các
doanh nghiệp xuất khẩu gạo trong Hiệp hội lương thực Việt Nam.
Trong giai đoạn này, Việt Nam bước vào thời kỳ thực hiện lộ trỡnh hội nhập
vào các khuôn khổ chung đó cam kết như CEPT/AFTA, thuế suất nhập khẩu các
mặt hàng nông sản của các nước, trong đó có gạo, giảm đồng loạt. Bên cạnh

1989-1990 1,520
1991-1995 1,734
1996-2000 3,663
2001-2004 3,706
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam qua các năm
Có 13 năm Việt Nam giữ vị trí thứ hai thế giới về lượng gạo xuất khẩu (chỉ có 3
năm đứng thứ ba sau Thái Lan và Ấn Độ) và vượt Mỹ liên tục từ năm 1990 đến
nay. Đó là quóng đường đi lên đầy khó khăn, thách thức, nhưng cũng khá
thành công trong hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam, được đánh dấu bằng
những kỷ lục đáng ghi nhận.
2.3 Thực trạng hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam từ 2001 đến nay
2.3.1 Quan điểm, mục tiêu định hướng xuất khẩu gạo từ 2001 đến nay
Khi xem xét quan điểm định hướng hoạt động xuất khẩu gạo, Văn kiện Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ IX đó xác định ”Tiếp tục đẩy mạnh sản xuất lương
thực theo hướng thâm canh, tăng năng suất và tăng nhanh lúa đặc sản, chất
lượng cao…Tạo thị trường ổn định cho một số loại mặt hàng nông sản thực
phẩm và hàng công nghiệp có khả năng cạnh tranh; tỡm kiếm các thị trường
cho mặt hàng xuất khẩu mới. Nâng cao chất lượng các mặt hàng xuất khẩu,
tăng thêm thị phần ở các thị trường truyền thống, tiếp cận và mở mạnh các thị
trường mới…”
Trong công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế đất nước thời kỳ 2001 - 2010,
Đảng đó xỏc định vai trũ quan trọng của việc sản xuất lúa gạo. éõy là nhiệm vụ
hàng đầu trong phát triển nông nghiệp ở bất kỳ giai đoạn lịch sử nào. éể giải
quyết nhu cầu ăn của đất nước ta trong tương lai sẽ là 100 triệu người, giải
quyết thức ăn cho chăn nuôi với nhu cầu ngày càng lớn về thịt, trứng, sữa,
cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp, nhất là đối phó với khả năng xuất hiện
khủng hoảng lương thực toàn cầu thỡ an toàn lương thực quốc gia vẫn là
“chỡa khúa" bảo đảm cho sự ổn định về chính trị, xó hội của đất nước.
Từ nhận thức đó, mục tiêu cụ thể trong việc sản xuất lúa gạo nước ta là duy
trỡ bốn triệu ha đất canh tác lúa; giữ ổn định sản lượng lúa đến năm 2010 là

Hoa Kỳ 2541 3291 3834 3000 3680 3500 3000 3500 3200
Paskistan 2417 1603 1458 1800 2480 3500 2600 3000 4500
Trung Quốc 1847 1963 2583 800 500 800 1400 1000 1600
Ai Cập 705 473 579 700 1000 1000 1200 500 700
Agrgentina 363 233 170 250 345 346 400 400 500
Myanmar 670 1002 388 100 190 192 - 200 400
EU 264 350 220 225 201 196 200 200 200
Tổng thế
giới
244422792227550253782739027800324003080031000
Nguồn: USDA (2008); Thời báo kinh tế Việt Nam (2007); TCTK và FAO (2009)
Trong thời gian qua, sản lượng gạo xuất khẩu của cả 3 nước Ấn Độ, Pakistan
và Trung Quốc không ổn định. Pakistan là quốc gia có thể cạnh tranh ổn định
nhất về sản lượng gạo xuất khẩu với Việt Nam. Trong thời gian 2006-2008
gần đây sản lượng xuất khẩu gạo của Pakistan tương đối ổn định với khoảng
3000 nghỡn tấn (dự báo năm 2009 sẽ tăng lên 4500 nghỡn tấn). Trên thị
trường quốc tế, Hoa Kỳ được xem là nước xuất khẩu gạo chất lượng cao. Là
một nước có nền công nghiệp hiện đại, Hoa Kỳ không hướng hoạt động xuất
khẩu gạo theo sản lượng. Do đó, sản lượng gạo xuất khẩu của Hoa Kỳ có sự ổn
định tương đối, không có những thay đổi đột ngột, trung bỡnh trong giai đoạn
1999-2008 đạt khoảng 3300 nghỡn tấn.
Cũng như nhiều nước khác, sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam không ổn
định, nhưng có xu hướng tăng lên.
Bảng: Khối lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam
Năm
Khối lượng
(nghỡn
tấn)
Biến động hàng
năm (khối

năm 2004, giá xuất khẩu tăng 14,4% so với 2004. Năm 2006, gạo xuất khẩu
4,8 triệu tấn, đạt 1,3 tỷ USD, so với năm 2005 giảm 9% về lượng nhưng giá
tăng 2,6% nên kim ngạch chỉ giảm 6,7%. Diễn biến tương tự xảy ra trong năm
2007 và 2008, khi sản lượng không tăng nhiều nhưng giá tăng mạnh đó đẩy
kim ngạch xuất khẩu gạo tăng mạnh.
Như vậy, với khối lượng xuất khẩu trung bỡnh trong giai đoạn 2001-2008
khoảng 4,2 triệu tấn, Việt Nam đó duy trỡ vị trí thứ hai về khối lượng gạo xuất
khẩu. Khối lượng gạo xuất khẩu qua các năm có xu hướng tăng lên giúp gia
tăng kim ngạch cũng như mở rộng thị trường xuất khẩu.
Nguồn: TCTK và Hiệp hội Lương thực Việt Nam (2001-2008)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status