LỜI MỞ ĐẦU
Toàn cầu hóa và khu vực hóa đã trở thành xu hướng phát triển chung của thế
giới. Việt Nam không thể đứng ngoài xu hướng này mà phải nắm bắt cơ hội để đưa
đất nước nhanh chóng hội nhập với khu vực và thế giới một cách chủ động, tích cực,
đạt hiệu quả cao. Thực hiện chủ trương đó, trong những năm qua Việt Nam đã tích
cực tham gia vào quá trình này,hiện Việt Nam đã là thành viên của ASEAN, APEC,
ASEM, đã ký kết hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và trong năm 2006 Việt
Nam đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO và chính thức trở thành thành
viên thứ 150 của WTO.
Hội nhập kinh tế quốc tế mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng có không ít thách
thức cho các quốc gia đang phát triển. Bởi vì, Hội nhập kinh tế quốc tế nhằm tới đích
là tự do hóa thương mại, điều này cũng đồng nghĩa với việc phải dỡ bỏ những rào
cản do các nước lập nên nhằm làm cho hàng hóa giữa các nước được di chuyển thuận
lợi hơn trên cơ sở cạnh tranh bình đẳng. Lợi ích lớn nhất của tự do hóa thương mại là
thúc đẩy ngày càng nhiều nước tham gia buôn bán trao đổi hàng hóa từ đó thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế, tranh thủ được vốn, khoa học – công nghệ, nguyên liệu, thị
trường …, người tiêu dùng có nhiều cơ hội lựa chọn hàng hóa tốt hơn với giá rẻ hơn.
Tuy nhiên không phải ngẫu nhiên mà các nước lại dựng lên những rào cản làm ảnh
hưởng đến sự lưu thông hàng hóa. Lý do mà các nước làm việc này là để nhằm bảo
hộ sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh của hàng hóa bên ngoài. Điều này có ý
nghĩa lớn vì sản xuất trong nước mà bị suy giảm sẽ ảnh hưởng lớn đến công ăn việc
làm, ảnh hưởng đến ổn định xã hội; ảnh hưởng nguồn thu cho ngân sách nhà nước;
ảnh hưởng đến cán cân thanh toán, nguy cơ bệnh tật gia tăng do ảnh hưởng của hàng
nhập khẩu … Tự do hóa thương mại ở những mức độ khác nhau sẽ làm yếu đi hoặc
mất dần các hàng rào nói trên và như thế sẽ làm ảnh hưởng đến mục đích đặt ra khi
thiết lập hàng rào.
Đối với nước ta, hội nhập kinh tế quốc tế sẽ giúp cho Việt Nam có thêm cơ
hội giao lưu kinh tế với nhiều nền kinh tế, có thêm nhiều đối tác kinh doanh, mở rộng
SV: Đặng Trần Hiếu Lớp: QTKD CN & XD 50B
1
thị trường, thu hút thêm nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Từ đó có thể tận dụng được
quốc tế. Rào cản thương mại quốc tế rất đa dạng, phức tạp và được quy định bởi cả
hệ thống pháp luật quốc tế, cũng như luật pháp của từng quốc gia, được sử dụng
không giống nhau ở các quốc gia và vùng lãnh thổ.
Trong thực tế, các nhà khoa học có rất nhiều định nghĩa khác nhau về rào cản
thương mại. Song, nhìn chung lại thì rào cản thương mại được hiểu là các luật lệ,
chính sách, quy định hay tập quán của Chính phủ mỗi nước trong khuôn khổ pháp lý
chung nhằm hạn chế hay ngăn cản hoạt động thương mại hàng hóa hay dịch vụ của
nước ngoài.
Ngày nay trên thế giới đang diễn ra xu hướng toàn cầu hóa và hoạt động
thương mại tự do được coi là một kênh chủ yếu, là chiếc cầu khổng lồ nối vòng tay
lớn và đồng thuận giữa các nước trên thế giới. Và các rào cản thương mại chính là
những quy định thống nhất, tạo sự bình đẳng, công khai được Tổ chức Thương mại
Thế giới (WTO) xây dựng lên nhằm tạo ra sự đồng thuận vận hành suôn sẻ, theo đó
giám sát việc thực hiện của các thành viên.
1.2. Các loại rào cản thương mại
1.2.1. Hàng rào thuế quan
Thuế quan được áp dụng trước hết là nhằm mục đích tăng nguồn thu ngân
sách cho Chính phủ, sau đó là vì những mục đích khác như ngăn chặn hàng nhập
khẩu và bảo vệ hàng trong nước, trả đũa một quốc gia khác, bảo vệ một ngành sản
xuất quan trọng hay còn non trẻ của nước mình. Một số rào cản thuế quan thường
được áp dụng như: thuế phần trăm, thuế quan đặc thù như hạn ngạch thuế quan, thuế
đối kháng, thuế chống bán phá giá, thuế thời vụ, thuế bổ sung.
SV: Đặng Trần Hiếu Lớp: QTKD CN & XD 50B
3
Thuế quan là biện pháp mà Tổ chức Thương mại thế giới cho phép sử dụng để
bảo hộ thị trường trong nước nhưng phải cam kết ràng buộc với mức thuế trần nhất
định và có lịch trình cắt giảm, do vậy xu hướng ngày càng giảm đi. Sự tự do hóa biểu
hiện thông qua các chính sách về quy chế tối huệ quốc (MFN), chế độ thuế quan ưu
đãi phổ cập (GFP), Hiệp định thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung của các khối liên
kết kinh tế như EU, NAFTA, AFTA, APEC…
cấm xuất khẩu hoặc nhập khẩu với một số hàng hóa nào đó …
Hạn chế định lượng (quota):
Đó là hạn ngạch về số lượng hoặc giá trị được phép xuất khẩu, nhập khẩu
trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm), hạn ngạch này có thể do nước nhập
khẩu hoặc xuất khẩu tự áp đặt một cách đơn phương nhưng cũng có loại hạn ngạch
được áp đặt trên cơ sở tự nguyện của bên thứ hai (hạn ngạch xuất khẩu tự nguyện).
Hạn ngạch bao gồm: hạn ngạch toàn cầu, hạn ngạch song phương, hạn ngạch theo
mùa, hạn ngạch liên quan đến thực hiện xuất khẩu, hạn ngạch liên quan đến bán hàng
hóa nội địa, hạn ngạch của các hạn mục nhạy cảm.
Hạn ngạch là một công cụ kinh tế và là một công cụ phổ biến của hàng rào phi
thuế quan phục vụ cho công tác điều tiết, quản lý Nhà nước về xuất nhập khẩu, vừa
nhằm bảo hộ sản xuất trong nước, bảo vệ tài nguyên, vừa cải thiện cán cân thanh
toán. Hạn ngạch được hiểu là quy định của Nhà nước về số lượng (hoặc giá trị) của
một mặt hàng hoặc một nhóm mặt hàng được phép xuất khẩu sang hoặc nhập khẩu từ
một thị trường nhất định trong một thời gian nhất định, thông qua hình thức cấp giấy
phép (quota xuất, nhập khẩu). Hạn ngạch nhập khẩu là công cụ quan trọng để thực
hiện chiến lược sản xuất thay thế nhập khẩu, bảo vệ sản xuất nội địa. Để quản lý xuất
khẩu, các nước cũng áp dụng hạn ngạch xuất khẩu. Hạn ngạch xuất khẩu được quy
định theo mặt hàng, theo nước và theo thời gian. Hạn ngạch xuất khẩu mang tính chủ
động và thường là biện pháp tự bảo vệ thị trường trong nước hoặc tài nguyên trong
nước.
Hạn chế định lượng đang được coi là có tác dụng bảo hộ mạnh hơn các biện
pháp thuế quan và dễ bóp méo thương mại. Cho nên, điều XI của Hiệp định GATT
không cho phép các nước thành viên áp dụng các biện pháp hạn chế số lượng nhập
SV: Đặng Trần Hiếu Lớp: QTKD CN & XD 50B
5
khẩu hoặc xuất khẩu hàng hóa. Tuy nhiên, Hiệp định GATT cũng đưa ra một số
ngoại lệ cho phép các nước thành viên được áp dụng các biện pháp hạn chế định
lượng theo những điều kiện nghiêm ngặt. Ví dụ như để đối phó với tình trạng thiếu
lương thực trầm trọng, bảo vệ cán cân thanh toán, bảo vệ sức khỏe con người, động
thể bị kiện hoặc áp dụng biện pháp đối kháng; cuối cùng là cấp “đèn xanh” là những
trợ cấp chung được thả nổi hoàn toàn, bởi ít bóp méo hoạt động thương mại như phổ
biến và hỗ trợ nghiên cứu phát triển, hỗ trợ vùng khó khăn, hỗ trợ cải tiến trang thiết
bị đang sử dụng để đáp ứng các quy định mới về môi trường …
Rào cản về chống bán phá giá:
Đây là hành vi bán hàng hóa tại thị trường nước nhập khẩu thấp hơn giá bán
tại thì trường nội địa của nước xuất khẩu nhằm chiếm lĩnh thị trường, hay cạnh tranh
giành thị phần. Việc làm này bị coi là một hành vi cạnh tranh không lành mạnh vì
không dựa trên những tiêu chí thương mại chung, gây ảnh hưởng tới ngành công
nghiệp nước nhập khẩu.
Việc áp dụng thuế chống bán phá giá là để làm tăng giá hàng hóa nhập khẩu ,
khắc phục tác động xấu của hành vi bán phá giá. Hiệp định về chống bán phá giá của
WTO đã quy định cụ thể về các tiêu chí để xác định hành vi phá giá và biện pháp
khắc phục.
Trong thực tế, việc bán phá giá không chỉ xảy ra ở các nước đang phát triển
mà diễn ra gay cả ở các nước công nghiệp phát triển như EU, Canada, Hoa Kỳ… Theo
số liệu của Ban thư ký WTO, từ năm 1995 đến tháng 6 năm 2005, các nước thành viên
WTO đã tiến hành điều tra 2.741 vụ kiện bán phá giá, nhiều nhất là Ấn Độ 412 vụ, kế
đến là Mỹ 358 vụ, EU 318 vụ …Rốt cuộc, chỉ có 63% số vụ bị áp thuế bán phá giá, cao
nhất là Trung Quốc, tiếp đến Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Thái Lan …
Các quy định về kỹ thuật, vệ sinh, nhãn mác …:
Cùng với những nỗ lực giảm thuế và điều chỉnh các biện pháp phi thuế truyền
thống trong WTO, ngày càng xuất hiện nhiều hình thức rào cản thương mại mang
tính kỹ thuật như các quy định về vệ sinh, kỹ thuật, môi trường, nhãn mác sản phẩm.
Đây là phạm vi chứa đựng nhiều quy định khá phức tạp và hết sức chặt chẽ.
SV: Đặng Trần Hiếu Lớp: QTKD CN & XD 50B
7
Hiện nay, trong WTO, Hiệp định SPS điều chỉnh việc áp dụng các biện pháp
vệ sinh, kiểm dịch động, thực vật và Hiệp định TBT điều chỉnh việc áp dụng các quy
định liên quan đến tiêu chuẩn sản phẩm, dán nhãn, chứng nhận và công nhận hợp
các quyền chính như quyền tác giả, nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, thiết kế công
nghiệp, các bí mật thương mại.
Ngoài những biên pháp chủ yếu kể trên, trong hoạt động thương mại quốc tế
còn tồn tại rất nhiều hình thức rào cản thương mại khác. Ví dụ, như mua sắm của
Chính phủ, doanh nghiệp nhà nước, quy tắc xuất xứ, các quy định về kiểm định hàng
hóa trước khi xuống tàu …
Cùng với sự phát triển của hoạt động thương mại và xu hướng điều tiết các
rào cản truyền thống, ngày càng xuất hiện nhiều hình thức rào cản trá hình và tinh vi
hơn, thường là liên quan tới các tiêu chuẩn về kỹ thuật, môi trường, lao động, với
mục đích cuối cùng là đạt được nhiều giá trị thặng dư cho doanh nghiệp mình, đất
nước mình trong sân chơi chung toàn cầu.
Thương mại tự do là một trong những động lực to lớn phát triển kinh tế của
mỗi quốc gia. Vì vậy, trong quá trình hội nhập sâu vào hệ thống thương mại đa
phương, việc đầu tư nguồn lực và thời gian để nghiên cứu, hiểu rõ để phòng tránh
hiệu quả những rào cản này là vô cùng cần thiết.
Theo đó, các biện pháp đấu tranh phòng tránh các rào cản không công bằng để
bảo vệ lợi ích cho mình là một vấn đề lớn không chỉ đối với các nhà quản lý vĩ mô,
hoạch định chính sách, xây dựng luật pháp mà còn là một nhiệm vụ quan trọng số
một đối với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam.
1.2.3. Rào cản kỹ thuật TBT (Technological Barier to Trade)
Đây là hàng rào quy định về hệ thống quản trị chất lượng, môi trường, đạo
đức kinh doanh, điểm kiểm soát tới hạn, … đối với các doan nghiệp khi thâm nhập
vào thị trường. Hệ thống TBT gồm có:
Hệ thống quản trị chất lượng ISO 9001 :2000
Hệ thống này đã được trên 140 quốc gia áp dụng. ISO 9001:2000 đề cập chủ
yếu đến các lĩnh vực về chất lượng, theo Tổ chức Phát triển Công nghiệp của Liên
SV: Đặng Trần Hiếu Lớp: QTKD CN & XD 50B
9
Hợp Quốc (UNIDO) các doanh nghiệp áp dụng hệ thống này sẽ đáp ứng được yêu
cầu của khách hàng trong và ngoài nước, nâng cao tinh thần làm việc của nhân viên