Giải pháp nâng cao khả năng áp dụng thuế chống bán phá giá tại Việt Nam trong điều kiện hội nhập WTO. - Pdf 34

Trong quá trình thực hiện đề tài, em đã nhận được sự giúp đỡ cũng như hướng dẫn tận tình của thầy giáo hướng dẫn, của các cán bộ, nhân viên cơ sở thực tập.
Em xin chân thành cảm ơn GS.TS Đỗ Đức Bình đã tận tình hướng dẫn em trong chuyên đề này.
Em xin cảm ơn các cán bộ, nhân viên của Viện Kinh tế chính trị thế giới đã tạo điều kiện giúp em hoàn thành đề tài.
Em xin cảm ơn các thầy cô giáo khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế nói riêng cũng như các thầy cô giáo của trường Đại học Kinh tế quốc dân nói chung đã cung cấp cho em cái nhìn tổng quát trên lĩnh vực kinh tế để em có
thể hoàn thành đề tài.
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
LỜI CẢM ƠN
SV: Đoàn Văn Hưng Lớp: KTQT45A
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính tất yếu của đề tài
Chống bán phá giá là một biện pháp đã được WTO thừa nhận để kiểm
soát hoạt động xuất nhập khẩu giữa các nền kinh tế trên thế giới. Hiện nay Việt
Nam đã và đang bị áp dụng thuế chống bán phá giá trên nhiều mặt hàng xuất
khẩu đi các nước trên thế giới, khi rào cản thuế quan và phi thuế quan đang
được giảm để tuân thủ với các quy định của tổ chức thương mại thế giới WTO
thì các vụ chống bán phá giá được sử dụng nhiều hơn nhằm bảo vệ các ngành
công nghiệp sản xuất trong nước.
Hiện nay Việt Nam đã là thành viên chính thức của tổ chức thương mại
thế giới WTO do vậy, việc áp dụng thuế chống bán phá giá tại Việt Nam là
một công cụ hữu ích trong tương lai và cần được phát huy vai trò giúp Việt
Nam có thể kiểm soát lượng hàng hoá nhập khẩu vào thị trường nội địa mà
không trái với quy định của WTO
Chính vì vậy nâng cao khả năng áp dụng thuế chống bán phá giá tại Việt
Nam hiện nay là cần thiết và đây cũng chính là nội dung nghiên cứu của
chuyên đề thực tập “Giải pháp nâng cao khả năng áp dụng thuế chống bán
phá giá tại Việt Nam trong điều kiện hội nhập WTO”.
2. Đối tượng nghiên cứu
2
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Chuyên đề tiến hành khảo sát và nghiên cứu những vấn đề tổng quan
chống bán phá giá và tình hình áp dụng thuế chống bán phá giá tại Việt Nam

hàng trên cùng một thị trường.
Tuy nhiên khái niệm bán phá giá trong thương mại quốc tế hàm ý so
sánh về giá của một mặt hàng trên hai thị trường khác nhau: Thị trường nước
nhập khẩu và trị trường nước xuất khẩu. Nhìn chung , tất cả các nước cho rằng
bán phá giá xảy ra khi hàng hoá xuất khẩu đựơc bán sang một nước khác với
giá thấp hơn giá bán tại thị trường nội địa . Mặc dù khái niệm bán phá giá đưa
ra khá đơn giản tuy nhiên khi xác định giá bán của một mặt hàng cho thị
trường xuất khẩu và thị trường nhập khẩu thì vô cùng phức tạp bởi vì khi đó
phải xác định mặt hàng đó được bán với giá bán buôn hay bán lẻ, tỷ giá hối
đoái , chi phí vận chuyển , thuế suất, thuế nhập….
1.1.2 Cơ sở kinh tế của việc bán phá giá
4
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Trước khi tìm hiểu về tình hình điều tra và áp dụng thuế chống bán phá
giá trên thế giới thay đổi mạnh mẽ như thế nào trong gần một thập kỷ qua cần
nghiên cứu về cơ sở kinh tế của việc bán phá giá. Điều này có ý nghĩa quan
trọng trong việc xác định khi nào thì hành vi bán phá giá là hành vi cạnh tranh
không lành mạnh, khi nào thì hành vi đó là bình thường về mặt kinh tế. Tìm
hiểu cơ sở kinh tế của việc bán phá giá cũng sẽ giúp ích trong việc phân tích ai
là người có lợi, ai là người bị thiệt khi chấp nhận hay không chấp nhận hành vi
đó.
1.1.2.1. Bán phá giá xảy ra do phân biệt giá quốc tế
Phân biệt giá quốc tế xảy ra khi thị trường bị phân biệt giá là thị trường
của các nước khác nhau. Song giá xuất khẩu thường cao hơn giá của thị trường
nội địa do nhà xuất khẩu phải chịu thêm nhiều chi phí xuất khẩu như vận
chuyển, bảo hiểm…Do đó, khi nhà sản xuất theo đuổi hành vi phân biệt giá
quốc tế, tức là giá bán trong nước khác giá xuất khẩu thì hành vi đó chỉ bị coi
là bán phá giá nếu giá xuất khẩu sản phẩm thấp hơn giá bán của sản phẩm đó ở
trong thị trường nội địa.
Tuy nhiên, xét về mặt kinh tế, bán phá giá cũng là một hiện tượng thông

hơn giá hiện hành, cung và cầu của mặt hàng đó ở thị trường trong nước cân
bằng ở điểm E, với giá p
1
và lượng tiêu thụ q
1
. Tuy nhiên, khi có nguồn hàng
nước ngoài bán với giá thấp hơn là p
2
, lượng tiêu thụ tăng lên q
2
, trong đó
lượng hàng sản xuất trong nước giảm xuống chỉ còn q

2
, lượng hàng nhập khẩu
là q
2 -
q

2.

Từ hình 1 có thể thấy rằng thặng dư của người tiêu dùng tăng thêm một
lượng bằng diện tích hình thang ABFE, trong khi đó thặng dư của nhà sản xuất
trong nước giảm một lượng bằng diện tích hình thang ABCE. Về tổng thể,
toàn xã hội được lợi bằng diện tích tam giác CFE.
Trong trường hợp này, nếu muốn, chính phủ một nước có thể đánh thuế
để phân phối lại thu nhập nhằm bù đắp thiệt hại cho ngành sản xuất trong
nước, hay thậm chí sử dụng biện pháp tự vệ. Áp dụng thuế chống bán phá giá
trong trường hợp này không phải là giải pháp tối ưu.
SV: Đoàn Văn Hưng Lớp: KTQT45A

đối phó tạm thời khác ví dụ như biện pháp tự vệ.
Tóm lại việc sử dụng biện pháp chống bán phá giá như một công cụ để
tránh các thiệt hại tạm thời do hàng nhập khẩu gây ra không phải là biện pháp
tối ưu ngay cả khi hàng nhập khẩu bị coi là bán phá giá.
1.1.2.2. Bán phá giá xảy ra do giá xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất
Những người ủng hộ quan điểm bán phá giá là sự phân biệt giá thường
lập luận rằng bán phá giá do giá xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất cũng là
một hình thức phân biệt giá. Họ cho rằng các công ty không thể duy trì việc
bán hàng dưới chi phí nếu không bù lỗ cho phần hàng này bằng những phần
hàng bán trên chi phí trong thị trường khác, tức là công ty đó đang thực hiện
biện pháp phân biệt giá.
Tuy nhiên, lập luận trên chưa giải thích được tại sao giá xuất khẩu dưới
chi phí sản xuất lại bị coi là bán phá giá. Để tìm hiểu thêm về ý nghĩa kinh tế
của hành vi này, ta sẽ xem xét khái niệm “chi phí” bằng cách phân biệt “chi
phí trung bình” và “chi phí biên”. Chi phí trung bình là chi phí tính trên một
đơn vị sản phẩm đầu ra. Chi phí biên là chi phí tăng lên do sản xuất thêm một
đơn vị sản phẩm đầu ra.
Sự phân biệt này có ý nghĩa quan trọng trong ngắn hạn khi nhiều loại
chi phí sản xuất là cố định, không phụ thuộc vào số lượng sản xuất, chỉ có một
phần nhỏ chi phí sản xuất là thay đổi khi lượng sản xuất thay đổi. Chính chi
phí biên là yếu tố quyết định trong việc định giá của một công ty trong ngắn
hạn khi phải chịu chi phí nhất định để thâm nhập thị trường. Điều này giải
thích tại sao một công ty vẫn chấp nhận bán hàng với mức giá thấp hơn chi phí
trung bình dù biết rằng đang bị lỗ. Thật vậy, có trường hợp nếu công ty không
tiếp tục sản xuất thì công ty có thể sẽ bị lỗ nhiều hơn do vẫn chịu chi phí cố
định.
SV: Đoàn Văn Hưng Lớp: KTQT45A
Trước hết chúng ta hãy xem xét kỹ hơn tình huống giá xuất khẩu thấp
hơn chi phí trung bình. Sau đó chúng ta sẽ tiếp tục nghiên cứu trường hợp giá
xuất khẩu thấp hơn chi phí biên.

sản lượng vượt quá q
0
sẽ tăng được lợi nhuận vì chi phí biên vẫn thấp hơn thu
nhập biên. Do đó điều kiện để tối đa hoá lợi nhuận của một công ty là thu nhập
biên bằng chi phí biên ở điểm mà ở đó chi phí biên đang đi lên chứ không đi
xuống.
Trong ngắn hạn, khi thị trường suy thoái bất cứ công ty nào dù là cạnh
tranh hoàn hảo hay không hoàn hảo cũng có thể bán sản phẩm với giá thấp
hơn chi phí trung bình chỉ cần mức giá này cao hơn giao điểm của chi phí biên
và chi phí biến đổi trung bình. Hành vi này của nhà sản xuất chính là để bù
đắp chi phí cố định. Nhà sản xuất có thể hy vọng rằng sau một thời gian suy
giảm tạm thời, thị trường sẽ hồi phục và công ty có thể tăng giá; hoặc chỉ đơn
10
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
giản là nhà sản xuất đang cố gắng bán hàng nhằm giảm thiểu thua lỗ trước khi
rút khỏi thị trường.
Khi cả nhà sản xuất trong nước và nhà xuất khẩu đều bán phá giá dưới
chi phí trung bình do suy thoái của thị trường thì việc đánh thuế chống bán phá
giá đối với nhà xuất khẩu là không hợp lý. Trong trường hợp này, biện pháp
chống bán phá giá chỉ mang tính bảo hộ đơn thuần nhằm làm giảm tác động
bất lợi đối với công ty trong nước khi thị trường suy thoái.
Sự khác biệt về cơ cấu chi phí của các công ty trên thế giới có thể do
nhiều nguyên nhân. Ví dụ như việc các công ty của Mỹ thường đầu tư lớn vào
máy móc, thiết bị khiến cho tỷ lệ chi phí cố định của các công ty này trong
tổng chi phí thường cao hơn các nhà cạnh tranh khác ở nước ngoài. Do đó, các
công ty này sẽ dễ bị coi là bán phá giá trong thời gian cầu của thế giới giảm.
Hay như ở Nhật Bản, do tiền lương công nhân thường được coi là chi phí cố
định vì các công ty Nhật hiếm khi sa thải công nhân nên các công ty này có
thể sẽ tiếp tục sản xuất và xuất khẩu sang Mỹ ở mức giá mà công ty Mỹ cho là
quá thấp để duy trì hoạt động.

điều chỉnh chi phí biên ước tính ban đầu là hầu như không thể xảy ra. Ví dụ
như với một hãng hàng không đang duy trì một chuyến bay thường lệ nhưng
còn một số vé chưa bán được. Khi đó, chi phí biên tăng lên cho mỗi hành
khách tiếp theo có thể rất thấp, chẳng hạn bằng chi phí một suất ăn trên máy
bay. Chi phí biên trong trường hợp này gần như bằng không. Hay như một
công ty sản xuất đồ gốm sứ xuất khẩu. Công ty đã đầu tư máy móc, lò nung
cho việc sản xuất 5 vạn chiếc đĩa. Nếu trên thực tế, công ty mới chỉ có đơn đặt
hàng yêu cầu giao ngay 4,5 vạn chiếc đĩa thì chi phí biên tăng thêm cho mỗi
chiếc đĩa sản xuất tiếp theo là không đáng kể (chỉ tương ứng với một lượng
12
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
nhỏ chi phí đất sét và lao động) vì với công suất lò nung đã định trước, công ty
vẫn phải mất một lượng chi phí cố định đã đầu tư vào lò nung, chi phí cho
nguyên liệu để đốt lò… Do đó, trong ngắn hạn, hãng hàng không hay công ty
sản xuất đồ gốm sứ này có thể bán vé hoặc xuất khẩu số đĩa chưa bán được ở
bất cứ mức giá nào cũng được coi là có lợi vì mức giá nào trong trường hợp
này cũng lớn hơn chi phí biên.
Tóm lại, áp dụng thuế chống bán phá giá trong trường hợp công ty xác
định sai mức giá trên thị trường và chi phí biên là không hợp lý vì việc xác
định sai mức giá này chỉ phản ánh hiện tượng kinh tế đơn thuần là chi phí biên
trong ngắn hạn có thể cao hơn rất nhiều so với chi phí trung bình trong dài
hạn.
Hai là, tối đa hoá doanh thu
Ở những công ty lớn, chủ công ty thường thuê ban giám đốc điều hành.
Trong một thời gian nào đó, ban giám đốc có thể quan tâm đến mục tiêu tối đa
hoá doanh thu để nhằm khuyếch trương hay được khen thưởng mà xa rời mục
tiêu tối đa hóa lợi nhuận của công ty.
Nếu tình huống này xảy ra trong thị trường nội địa, chính phủ sẽ không
can thiệp vì đây là vấn đề của bản thân công ty. Tuy rằng hành vi này có thể
gây thiệt hại cho những người sản xuất sản phẩm cạnh tranh trên thị trường,

nhuận độc quyền sau khi công ty đã tăng giá chứ không cần phải đánh thuế
chống bán phá giá ngay trong giai đoạn đầu. Nếu không làm như vậy, nước
nhập khẩu sẽ phải chịu mất đi một lượng hàng nhập khẩu rẻ chỉ vì sợ bị thôn
tính thị trường.
Bốn là, cạnh tranh để giành thị phần
14
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Một số công ty xuất khẩu hàng với mức giá thấp hơn chi phí biên nhằm
mục tiêu chiếm được thị phần cao hơn trên thị trường nhập khẩu. Tuy nhiên,
khác với trường hợp trên, công ty không có ý định thôn tính toàn bộ thị trường
mà chỉ cố gắng tăng thị phần của mình.
Theo lý thuyết, trong thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, một công ty
không thể bán được nhiều sản phẩm mà nó mong muốn tại mức giá thị trường.
Doanh số bán ra của công ty phụ thuộc vào giá của sản phẩm.
Trên thực tế, bên cạnh yếu tố giá còn có rất nhiều yếu tố chi phối doanh
thu của một công ty. Một trong số đó là hoạt động tiếp thị gồm quảng cáo,
thiết kế sản phẩm, bao gói, bán hàng. Khi bán hàng dưới mức chi phí biên để
cố gắng giới thiệu sản phẩm của mình, công ty đã tin tưởng rằng thị phần tăng
lên ở hiện tại sẽ làm giảm chi phí sản xuất hoặc tăng giá trong tương lai và do
đó, chi phí bỏ ra ngày hôm nay để tiến hành hoạt động tiếp thị sẽ được hoàn
lại bằng lợi nhuận trong tương lai. Đây là hành vi thường gặp của nhiều công
ty bởi vì sản phẩm nhập khẩu mới không dễ gì được chấp nhận ngay mà phải
được công nhận dần thông qua quá trình dùng thử. Do đó, nhà xuất khẩu phải
hạ giá thấp hơn chi phí biên nhằm khuyến khích khách hàng dùng thử với tin
tưởng rằng sau đó họ có thể tăng giá lên khi người tiêu dùng đã chấp nhận sản
phẩm. Điều này rất hữu ích với người tiêu dùng vì họ sẽ có cơ hội dùng một
loại sản phẩm tốt hơn. Kể cả khi công ty tăng giá sau này cho đúng với giá trị
của sản phẩm thì điều này cũng là hiện tượng bình thường.
Trong trường hợp này, hàng nhập khẩu bị bán phá giá sẽ chiếm chỗ một
số sản phẩm trong nước. Nhưng đây cũng chỉ là một quy luật kinh tế thông

thậm chí thấp hơn cả chi phí sản xuất, nhưng không phải mọi trường hợp đều
có thể gán cho cái mác “bán phá giá” để áp dụng biện pháp ngăn cản. Trong
16
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
nhiều trường hợp, làm như vậy sẽ tạo ra sự bảo hộ không cần thiết cho ngành
sản xuất trong nước, làm giảm lợi ích của người tiêu dùng cũng như của toàn
xã hội.
1.1.3. Quy định của WTO về bán phá giá
Quy tắc chống bán phá giá mà hiện nay WTO dựa vào được quy định trong
điều 6 của Hiệp định GATT (Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại)
ban hành vào tháng 4/1979. Hiệp định xác định những ảnh hưởng tiêu cực của
bán phá giá đối với thương mại quốc tế. Thuế chống bán phá giá chỉ có thể sử
dụng để đối phó với những loại hình bán phá giá gây thiệt hại nghiêm trọng
cho một ngành công nghiệp nào đó, hoặc gây trở ngại nghiêm trọng cho việc
xây dựng một ngành công nghiệp. Nội dung chủ yếu của hiệp định như sau:
 Thiết lập nguyên tắc cơ bản về việc thu thuế chống bán phá giá. Chỉ có
thể áp dụng biện pháp đánh thuế chống bán phá giá sau khi tiến hành
điều tra theo quy định của điều 6 của Hiệp định GATT.
 Bản quy tắc còn làm rõ thế nào là bán phá giá. Việc bán phá giá có gây
thiệt hại nghiêm trọng cho các bên ký kết khác hay không và thiệt hại ở
mức độ nào. Định nghĩa bán phá giá là: giá xuất khẩu của một mặt hàng
thấp hơn giá của mặt hàng cùng loại mà các nước xuất khẩu cung ứng
cho người tiêu dùng của nước mình, tức thâm nhập vào thị trường một
nước khác với giá thấp hơn giá thông thường. Nếu một công ty xuất
khẩu sản phẩm với giá thấp hơn giá cả bình thường trong nước, thì sản
phẩm đó đã là "bán phá giá".
 Ở đây có khái niệm giá thông thường. WTO đưa ra 3 cách xác định giá
thông thường: một là giá tiêu thụ thông thường trong nước của nước
xuất khẩu hàng hoá; hai là giá xuất khẩu của nước xuất khẩu sang nước
thứ ba; ba là giá của các chi phí cấu thành. Thông thường, WTO xác

Ba là: Nếu không có giá xuất khẩu hoặc giá này bị cho là không đáng tin, thì
có thể lấy giá bán hàng nhập khẩu để xác định giá xuất khẩu.
Bốn là: Giá xuất khẩu và giá bán nội địa của nước xuất khẩu phải được so
sánh ở cùng một trình độ thương mại.
Trên thực tế, nhằm bảo hộ công nghiệp nội địa, có rất nhiều chính phủ
đều áp dụng các hành động nhằm vào bán phá giá. Cho đến nay, WTO chưa
đưa ra việc giải quyết vấn đề bán phá giá thông qua đàm phán mà vẫn căn cứ
theo điều 6 của GATT cho phép các nước hành động chống bán phá giá.
Nhưng chỉ khi việc bán phá giá làm tổn hại đến công nghiệp của nước nhập
khẩu thì các biện pháp chống bán phá giá mới được áp dụng.
Ngày nay, các nước nhập khẩu chống bán phá giá bằng cách thu thuế
nhập khẩu ngoại ngạch đối với sản phẩm cá biệt của nước xuất khẩu cá biệt,
khiến giá hàng nhập "xấp xỉ giá thông thường", hoặc loại bỏ sự tổn hại của
công nghiệp nội địa nước nhập khẩu. WTO đã sửa đổi một số điều trong Hiệp
định Chống bán phá giá, trong đó quy định các nước nhập khẩu phải kết thúc
các biện pháp chống bán phá giá và thời gian thực thi sau 5 năm. Khi nước
nhập khẩu xác định được biên độ của bán phá giá đặc biệt nhỏ (nhỏ hơn 2%
giá cả xuất khẩu của sản phẩm này) thì việc điều tra bán phá giá phải kết thúc.
Hiệp định cũng quy định các thành viên WTO phải thông báo kịp thời và chi
tiết với Uỷ ban các biện pháp chống bán phá giá về những hành động chống
bán phá giá tạm thời và cuối cùng, khi nảy sinh tranh chấp, khuyến khích các
thành viên thương lượng với nhau. Các thành viên cũng có thể sử dụng thủ tục
giải quyết tranh chấp của WTO.
1.2. Tình hình áp dụng thuế chống bán phá giá trên thế giới
SV: Đoàn Văn Hưng Lớp: KTQT45A
1.2.1. Tổng quan về tình hình áp dụng thuế chống bán phá giá trên thế
giới
Năm 1995, vòng đàm phán Uruguay kết thúc với sự ra đời của WTO
và một số các hiệp định liên quan đến thương mại quốc tế, trong đó có Hiệp
định về chống bán phá giá của WTO. Đây chính là cơ sở pháp luật quốc tế mà

Xu hướng điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá
(Nguồn: Báo cáo của Ban Thư ký WTO và Ủy ban chống bán phá giá WT )
Một điểm cần quan tâm là không chỉ có các nước phát triển áp dụng
thuế chống bán phá giá đối với các nước đang phát triển và ngược lại. Các
nước phát triển còn áp dụng thuế chống bán phá giá đối với các nước phát
triển khác và điều này cũng xảy ra tương tự đối với các nước đang phát triển.
1.2.1.1 Tình hình áp dụng thuế chống bán phá giá của các nước phát
triển
SV: Đoàn Văn Hưng Lớp: KTQT45A
Kể từ năm 1995 cho đến cuối năm 2001, có 12 nước phát triển đã tiến
hành 899 cuộc điều tra chống bán phá giá và có 502 lần áp dụng thuế chống
bán phá giá đối với hàng hoá nhập khẩu bị bán phá giá.
Cũng trong thời gian đó, hàng hoá xuất khẩu của 32 nước phát triển lại
là đối tượng của 745 cuộc điều tra chống bán phá giá và chịu 430 lần bị áp
dụng thuế chống bán phá giá từ các nước nhập khẩu.
Trong số các nước phát triển, Hoa kỳ và EU luôn đi đầu trong việc áp
dụng thuế chống bán phá giá, nhưng cũng không tránh khỏi là đối tượng bị áp
dụng thuế chống bán phá giá từ các nước khác. Hoa kỳ đã tiến hành 255 cuộc
điều tra chống bán phá giá và có 169 lần áp dụng thuế chống bán phá giá, tuy
nhiên chỉ 57 lần bị áp dụng thuế chống bán phá giá. EU cũng gần tương đương
Hoa kỳ với 246 cuộc điều tra và có 153 lần áp dụng thuế chống bán phá giá và
cũng chỉ 18 lần bị áp dụng thuế chống bán phá giá.
Hàn quốc cũng 28 lần áp dụng thuế chống phá giá và 70 lần bị áp dụng
thuế chống bán phá giá. Nhật Bản thì tương đối đặc biệt khi chỉ áp dụng thuế
chống bán phá giá có 1 lần nhưng 60 lần bị áp dụng thuế chống bán phá
giá.
1.2.1.2 . Tình hình áp dụng thuế chống bán phá giá của các nước đang
phát triển
Trong giai đoạn từ năm 1995 đến cuối năm 2001, có 23 nước đang phát
triển đã tiến hành 946 cuộc điều tra chống bán phá giá và có 564 lần áp dụng

Quy định về chống bán phá giá và chống trợ cấp vào năm 1997, trong đó
hướng dẫn tiến trình thực hiện về điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá.
Các cuộc điều tra phá giá hàng năm của Hoa kỳ ngày càng giảm từ khi
Hiệp định chống bán phá giá của WTO có hiệu lực vào năm 1995, từ cao nhất
là 84 cuộc điều tra trong năm 1992 còn 14 (1995), 21(1996) và 15(1997).
SV: Đoàn Văn Hưng Lớp: KTQT45A
Theo con số thống kê chính thức từ Bộ Thương mại Hoa kỳ, đã có 72 cuộc
điều tra chống phá giá từ 1996 đến 1998. Trong năm 1998, sức ép của ngành
công nghiệp trong nước và cạnh tranh nước ngoài, đặc biệt là về sắt thép đã
làm số cuộc điều tra áp dụng thuế chống bán phá giá tăng lên thành 36 cuộc,
gấp đôi so với hai năm trước gộp lại.
Việc điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá của Hoa kỳ thường tập
trung vào mặt hàng chính là sắt thép. Trong số 72 cuộc điều tra chống phá giá
từ 1996 đến 1998 có đến 39 cuộc (chiếm 54%) về sản phầm sắt thép nhưng chỉ
chú trọng vào một số mặt hàng sắt thép quan trọng, mang tính chiến lược cao
như thép carbon cán nóng và cán mỏng. Từ năm 1999, Hoa kỳ đang áp dụng
mức thuế chống phá giá khoảng 25% đến 67,5% đối với sản phẩm sắt thép cán
nóng nhập khẩu từ Nhật bản, và đối với Brazil là 50,7% đến 71%. Đối với
Liên bang Nga, Hoa kỳ thực hiện theo Chương trình hành động áp dụng cho
ngành sắt thép, thoả thuận theo các yêu cầu liên quan đến nhập khẩu sản phẩm
sắt thép và hạn chế chỉ nhập khẩu 16 mặt hàng sắt thép với số lượng nhất
định.
Tổng kết trong giai đoạn từ năm 1995 đến cuối năm 2001, Hoa kỳ đã
tiến hành 255 cuộc điều tra chống bán phá giá và 169 lần áp dụng thuế chống
bán phá giá, tuy nhiên chỉ là đối tượng chịu 57 lần bị áp dụng thuế chống bán
phá giá. Như vậy từ năm 1999 cho đến 2001, việc áp dụng thuế chống bán phá
giá của Hoa kỳ đã tăng lên khá nhanh.
1.2.3. Thực tiễn áp dụng thuế chống bán phá giá của EU
1.2.3.1 Tình hình áp dụng thuế chống bán phá giá trong liên minh châu
Âu

- Các cơ quan chức năng bao gồm:
SV: Đoàn Văn Hưng Lớp: KTQT45A

Trích đoạn Thực trạng áp dụng thuế chống bán phá giá tại Việt Nam Nguyên nhân chủ quan Nguyên nhân khách quan
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status