Giải pháp nâng cao khả năng áp dụng thuế chống bán phá giá - Pdf 12

Chuyên đề thực tập chuyên ngành
LỜI CẢM ƠN
SV: Đoàn Văn Hưng Lớp: KTQT45A
Trong quá trình thực hiện đề tài, em đã nhận được sự
giúp đỡ cũng như hướng dẫn tận tình của thầy giáo hướng
dẫn, của các cán bộ, nhân viên cơ sở thực tập.
Em xin chân thành cảm ơn GS.TS Đỗ Đức Bình đã tận
tình hướng dẫn em trong chuyên đề này.
Em xin cảm ơn các cán bộ, nhân viên của Viện Kinh tế
chính trị thế giới đã tạo điều kiện giúp em hoàn thành đề tài.
Em xin cảm ơn các thầy cô giáo khoa Kinh tế và Kinh
doanh quốc tế nói riêng cũng như các thầy cô giáo của
trường Đại học Kinh tế quốc dân nói chung đã cung cấp cho
em cái nhìn tổng quát trên lĩnh vực kinh tế để em có
thể hoàn thành đề tài.
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính tất yếu của đề tài
Chống bán phá giá là một biện pháp đã được WTO thừa nhận để kiểm
soát hoạt động xuất nhập khẩu giữa các nền kinh tế trên thế giới. Hiện nay
Việt Nam đã và đang bị áp dụng thuế chống bán phá giá trên nhiều mặt hàng
xuất khẩu đi các nước trên thế giới, khi rào cản thuế quan và phi thuế quan
đang được giảm để tuân thủ với các quy định của tổ chức thương mại thế giới
WTO thì các vụ chống bán phá giá được sử dụng nhiều hơn nhằm bảo vệ các
ngành công nghiệp sản xuất trong nước.
Hiện nay Việt Nam đã là thành viên chính thức của tổ chức thương mại
thế giới WTO do vậy, việc áp dụng thuế chống bán phá giá tại Việt Nam là
một công cụ hữu ích trong tương lai và cần được phát huy vai trò giúp Việt
Nam có thể kiểm soát lượng hàng hoá nhập khẩu vào thị trường nội địa mà
không trái với quy định của WTO
Chính vì vậy nâng cao khả năng áp dụng thuế chống bán phá giá tại

Chuyên đề thực tập chuyên ngành
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ TỔNG QUAN VỀ BÁN
PHÁ GIÁ VÀ TÌNH HÌNH ÁP DỤNG THUẾ CHỐNG
BÁN PHÁ GIÁ TRÊN THẾ GIỚI
1.1. Quan điểm về bán phá giá
1.1.1 Khái niệm
Bán phá giá thường được hiểu là hành động bán một mặt hàng với giá
thấp hơn giá hiện hành của mặt hàng đó trên thị trường, làm cho những người
bán khác phải hạ giá bán. Như vậy ở đây có sự so sánh về giá của một mặt
hàng trên cùng một thị trường.
Tuy nhiên khái niệm bán phá giá trong thương mại quốc tế hàm ý so
sánh về giá của một mặt hàng trên hai thị trường khác nhau: Thị trường nước
nhập khẩu và trị trường nước xuất khẩu. Nhìn chung , tất cả các nước cho rằng
bán phá giá xảy ra khi hàng hoá xuất khẩu đựơc bán sang một nước khác với
giá thấp hơn giá bán tại thị trường nội địa . Mặc dù khái niệm bán phá giá đưa
ra khá đơn giản tuy nhiên khi xác định giá bán của một mặt hàng cho thị
trường xuất khẩu và thị trường nhập khẩu thì vô cùng phức tạp bởi vì khi đó
phải xác định mặt hàng đó được bán với giá bán buôn hay bán lẻ, tỷ giá hối
đoái , chi phí vận chuyển , thuế suất, thuế nhập….
1.1.2 Cơ sở kinh tế của việc bán phá giá
Trước khi tìm hiểu về tình hình điều tra và áp dụng thuế chống bán phá
giá trên thế giới thay đổi mạnh mẽ như thế nào trong gần một thập kỷ qua cần
nghiên cứu về cơ sở kinh tế của việc bán phá giá. Điều này có ý nghĩa quan
trọng trong việc xác định khi nào thì hành vi bán phá giá là hành vi cạnh tranh
không lành mạnh, khi nào thì hành vi đó là bình thường về mặt kinh tế. Tìm
hiểu cơ sở kinh tế của việc bán phá giá cũng sẽ giúp ích trong việc phân tích ai
SV: Đoàn Văn Hưng Lớp: KTQT45A
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
là người có lợi, ai là người bị thiệt khi chấp nhận hay không chấp nhận hành vi
đó.

tương tự tại thị trường nước nhập khẩu. Điều này làm giảm lợi nhuận và lương
của các chủ công ty và người lao động sản xuất mặt hàng cạnh tranh với hàng
nhập khẩu và đe dọa lợi ích tiềm năng trong tương lai của họ hoặc làm ảnh
hưởng đến mức sống của những đối tượng này.
Tuy nhiên, giá bán của hàng nhập khẩu thấp hơn giá bán của sản phẩm
nội địa rõ ràng đã đem lại lợi ích cho toàn xã hội nhiều hơn so với những thiệt
hại mà các nhà sản xuất sản phẩm cạnh tranh phải gánh chịu.
Trước khi có hàng nhập khẩu bán vào thị trường trong nước với giá thấp
hơn giá hiện hành, cung và cầu của mặt hàng đó ở thị trường trong nước cân
bằng ở điểm E, với giá p
1
và lượng tiêu thụ q
1
. Tuy nhiên, khi có nguồn hàng
nước ngoài bán với giá thấp hơn là p
2
, lượng tiêu thụ tăng lên q
2
, trong đó
SV: Đoàn Văn Hưng Lớp: KTQT45A
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
lượng hàng sản xuất trong nước giảm xuống chỉ còn q

2
, lượng hàng nhập khẩu
là q
2 -
q

2.

nước do thị trường này không chịu tác động nhiều của giá thế giới. Nhưng trên
thị trường thế giới, công ty lại điều chỉnh giá sản phẩm theo giá thị trường. Do
đó, khi giá thị trường thế giới xuống thấp, nhà xuất khẩu sẽ dễ dàng bị coi là
bán phá giá. Nếu ta áp dụng biện pháp chống bán phá giá nhằm tránh các chi
phí điều chỉnh việc gia nhập và rút khỏi ngành của các nhà sản xuất sản phẩm
tương tự tại nước nhập khẩu thì chính sách này chỉ có thể gạt nhà xuất khẩu ra
khỏi thị trường nước nhập khẩu chứ không hề làm tăng giá thế giới. Hơn nữa,
để thực hiện mục tiêu làm giảm các chi phí điều chỉnh không cần thiết do
thương mại gây ra, nước nhập khẩu hoàn toàn có thể sử dụng một số biện pháp
đối phó tạm thời khác ví dụ như biện pháp tự vệ.
Tóm lại việc sử dụng biện pháp chống bán phá giá như một công cụ để
tránh các thiệt hại tạm thời do hàng nhập khẩu gây ra không phải là biện pháp
tối ưu ngay cả khi hàng nhập khẩu bị coi là bán phá giá.
1.1.2.2. Bán phá giá xảy ra do giá xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất
Những người ủng hộ quan điểm bán phá giá là sự phân biệt giá thường
lập luận rằng bán phá giá do giá xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất cũng là
một hình thức phân biệt giá. Họ cho rằng các công ty không thể duy trì việc
bán hàng dưới chi phí nếu không bù lỗ cho phần hàng này bằng những phần
hàng bán trên chi phí trong thị trường khác, tức là công ty đó đang thực hiện
biện pháp phân biệt giá.
Tuy nhiên, lập luận trên chưa giải thích được tại sao giá xuất khẩu dưới
chi phí sản xuất lại bị coi là bán phá giá. Để tìm hiểu thêm về ý nghĩa kinh tế
của hành vi này, ta sẽ xem xét khái niệm “chi phí” bằng cách phân biệt “chi
phí trung bình” và “chi phí biên”. Chi phí trung bình là chi phí tính trên một
SV: Đoàn Văn Hưng Lớp: KTQT45A
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
đơn vị sản phẩm đầu ra. Chi phí biên là chi phí tăng lên do sản xuất thêm một
đơn vị sản phẩm đầu ra.
Sự phân biệt này có ý nghĩa quan trọng trong ngắn hạn khi nhiều loại
chi phí sản xuất là cố định, không phụ thuộc vào số lượng sản xuất, chỉ có một

đều dẫn tới việc hạ thấp lợi nhuận. Vùng xám cho thấy mức giảm lợi nhuận
tương ứng với việc lựa chọn sản lượng q
1
và q
2
.
Các đường MR và MC cũng cắt nhau tại E, tương ứng với mức sản
lượng q
0.
Tuy nhiên ở mức sản lượng q
0
lợi nhuận chưa được tối đa hoá. Tăng
sản lượng vượt quá q
0
sẽ tăng được lợi nhuận vì chi phí biên vẫn thấp hơn thu
nhập biên. Do đó điều kiện để tối đa hoá lợi nhuận của một công ty là thu nhập
biên bằng chi phí biên ở điểm mà ở đó chi phí biên đang đi lên chứ không đi
xuống.
Trong ngắn hạn, khi thị trường suy thoái bất cứ công ty nào dù là cạnh
tranh hoàn hảo hay không hoàn hảo cũng có thể bán sản phẩm với giá thấp
hơn chi phí trung bình chỉ cần mức giá này cao hơn giao điểm của chi phí biên
và chi phí biến đổi trung bình. Hành vi này của nhà sản xuất chính là để bù
đắp chi phí cố định. Nhà sản xuất có thể hy vọng rằng sau một thời gian suy
giảm tạm thời, thị trường sẽ hồi phục và công ty có thể tăng giá; hoặc chỉ đơn
giản là nhà sản xuất đang cố gắng bán hàng nhằm giảm thiểu thua lỗ trước khi
rút khỏi thị trường.
Khi cả nhà sản xuất trong nước và nhà xuất khẩu đều bán phá giá dưới
chi phí trung bình do suy thoái của thị trường thì việc đánh thuế chống bán phá
giá đối với nhà xuất khẩu là không hợp lý. Trong trường hợp này, biện pháp
SV: Đoàn Văn Hưng Lớp: KTQT45A

Khi bắt đầu xuất khẩu vào một thị trường, công ty thường phải đưa ra
quyết định sản xuất trước khi xác định được chính xác mức giá trên thị trường
bằng cách quyết định sản lượng sản xuất theo mức giá dự tính. Mức giá dự
tính của công ty là số bình quân gia quyền của tất cả các phương án giá cả có
thể có với xác suất của mỗi phương án được sử dụng như các trọng số. Nếu
giá bán thực tế thấp hơn nhiều so với giá bán mong đợi ban đầu thì công ty sẽ
phải bán hàng với mức giá thấp hơn chi phí biên định trước.
Khi công ty phát hiện ra đã xác định sai giá thị trường và do đó, xác
định sai chi phí biên, công ty khó có thể điều chỉnh sản lượng ngay lập tức.
Mức sản lượng chỉ có thể điều chỉnh sau một thời gian dài, khi công ty có thể
cải biến toàn bộ yếu tố đầu vào của nó, kể cả quy mô các nhà máy.
Do tính cứng nhắc trong ngắn hạn, một khi công ty đã ấn định sản lượng
sản xuất, có nghĩa là không thay đổi được toàn bộ các chi phí cố định thì việc
điều chỉnh chi phí biên ước tính ban đầu là hầu như không thể xảy ra. Ví dụ
như với một hãng hàng không đang duy trì một chuyến bay thường lệ nhưng
còn một số vé chưa bán được. Khi đó, chi phí biên tăng lên cho mỗi hành
khách tiếp theo có thể rất thấp, chẳng hạn bằng chi phí một suất ăn trên máy
bay. Chi phí biên trong trường hợp này gần như bằng không. Hay như một
công ty sản xuất đồ gốm sứ xuất khẩu. Công ty đã đầu tư máy móc, lò nung
cho việc sản xuất 5 vạn chiếc đĩa. Nếu trên thực tế, công ty mới chỉ có đơn đặt
hàng yêu cầu giao ngay 4,5 vạn chiếc đĩa thì chi phí biên tăng thêm cho mỗi
chiếc đĩa sản xuất tiếp theo là không đáng kể (chỉ tương ứng với một lượng
nhỏ chi phí đất sét và lao động) vì với công suất lò nung đã định trước, công ty
vẫn phải mất một lượng chi phí cố định đã đầu tư vào lò nung, chi phí cho
nguyên liệu để đốt lò… Do đó, trong ngắn hạn, hãng hàng không hay công ty
sản xuất đồ gốm sứ này có thể bán vé hoặc xuất khẩu số đĩa chưa bán được ở
SV: Đoàn Văn Hưng Lớp: KTQT45A
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
bất cứ mức giá nào cũng được coi là có lợi vì mức giá nào trong trường hợp
này cũng lớn hơn chi phí biên.

Hành vi độc quyền của công ty rõ ràng sẽ gây thiệt hại lớn cho nước
nhập khẩu. Do đó, các nước nhập khẩu thường tỏ ra khá kiên quyết trong việc
đối phó với hành vi bán phá giá nhằm chiếm lĩnh thị trường này.
Tuy nhiên, áp dụng thuế chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu bị
bán phá giá kiểu này không phải là giải pháp tối ưu. Điều này xuất phát từ
nguyên nhân: (i) việc bán phá giá để chiếm lĩnh thị trường là rất khó khăn vì
ngoài việc đẩy các công ty cạnh tranh khác ra khỏi thị trường, công ty còn
phải tìm cách ngăn cản sự quay trở lại của các đối thủ cạnh tranh khi giá bị
đẩy lên cao. (ii) trên phạm vi quốc tế, hiếm khi xảy ra hiện tượng một công ty
có thể độc quyền trên toàn bộ thị trường. Việc kiểm soát giá trên thị trường sẽ
do một số công ty lớn nắm giữ. Do đó, ngay cả khi nhà xuất khẩu thành công
trong việc loại bỏ tất cả các công ty nội địa thì họ vẫn phải dàn xếp với các
công ty quốc tế khác để thống nhất về việc định giá. (iii)nước nhập khẩu có
thể triệt tiêu sức mạnh độc quyền của công ty bằng cách đánh thuế đối với lợi
nhuận độc quyền sau khi công ty đã tăng giá chứ không cần phải đánh thuế
chống bán phá giá ngay trong giai đoạn đầu. Nếu không làm như vậy, nước
nhập khẩu sẽ phải chịu mất đi một lượng hàng nhập khẩu rẻ chỉ vì sợ bị thôn
tính thị trường.
Bốn là, cạnh tranh để giành thị phần
Một số công ty xuất khẩu hàng với mức giá thấp hơn chi phí biên nhằm
mục tiêu chiếm được thị phần cao hơn trên thị trường nhập khẩu. Tuy nhiên,
khác với trường hợp trên, công ty không có ý định thôn tính toàn bộ thị trường
mà chỉ cố gắng tăng thị phần của mình.
SV: Đoàn Văn Hưng Lớp: KTQT45A
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Theo lý thuyết, trong thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, một công ty
không thể bán được nhiều sản phẩm mà nó mong muốn tại mức giá thị trường.
Doanh số bán ra của công ty phụ thuộc vào giá của sản phẩm.
Trên thực tế, bên cạnh yếu tố giá còn có rất nhiều yếu tố chi phối doanh
thu của một công ty. Một trong số đó là hoạt động tiếp thị gồm quảng cáo,

với giá thấp hơn chi phí biên. Trong ngắn hạn, người tiêu dùng ở nước nhập
khẩu sẽ được lợi do mua được hàng ở mức giá thấp. Trong dài hạn, khả năng
này vẫn có thể diễn ra vì giá sẽ tiếp tục thấp do chi phí sản xuất giảm bởi công
ty có nhiều kinh nghiệm hơn. Thông qua quá trình “vừa học, vừa làm” này, rõ
ràng người tiêu dùng đã được lợi do nỗ lực của nhà xuất khẩu.
Vấn đề đặt ra ở đây là phản ứng của nhà sản xuất trong nước đối với
tình huống này. Các công ty trong nước cũng được hưởng lợi từ hành vi này
của các nhà xuất khẩu thông qua việc học hỏi như các đối thủ của mình và do
đó, giúp các công ty này cạnh tranh tốt hơn. Nếu không, họ sẽ bị các công ty
nước ngoài bỏ xa. Trong trường hợp các công ty trong nước không thể hoàn
thiện để thích ứng với quá trình điều chỉnh học hỏi này, sự rút lui của các công
ty đó sẽ mang lại lợi ích cho cả nước nhập khẩu và nền kinh tế thế giới nói
chung.
Tóm lại, trong nhiều trường hợp các công ty nước ngoài có thể xuất
khẩu hàng của mình sang thị trường nước khác với giá thấp hơn giá nội địa và
thậm chí thấp hơn cả chi phí sản xuất, nhưng không phải mọi trường hợp đều
có thể gán cho cái mác “bán phá giá” để áp dụng biện pháp ngăn cản. Trong
nhiều trường hợp, làm như vậy sẽ tạo ra sự bảo hộ không cần thiết cho ngành
sản xuất trong nước, làm giảm lợi ích của người tiêu dùng cũng như của toàn
xã hội.
1.1.3. Quy định của WTO về bán phá giá
SV: Đoàn Văn Hưng Lớp: KTQT45A
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Quy tắc chống bán phá giá mà hiện nay WTO dựa vào được quy định trong
điều 6 của Hiệp định GATT (Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại)
ban hành vào tháng 4/1979. Hiệp định xác định những ảnh hưởng tiêu cực của
bán phá giá đối với thương mại quốc tế. Thuế chống bán phá giá chỉ có thể sử
dụng để đối phó với những loại hình bán phá giá gây thiệt hại nghiêm trọng
cho một ngành công nghiệp nào đó, hoặc gây trở ngại nghiêm trọng cho việc
xây dựng một ngành công nghiệp. Nội dung chủ yếu của hiệp định như sau:

bình đẳng không phân biệt đối xử, phải thu thuế từng kiện hàng nhập khẩu
qua điều tra thấy gây thiệt hại do bán phá giá.
 Những hành động chống bán phá giá đại diện cho nước thứ ba phải được
nước thứ ba đưa ra lời mời hoặc cung cấp những tài liệu có liên quan.
Theo WTO, để xác định giá sản phẩm có bán phá giá hay không, cần tuân
thủ những quy tắc sau đây:
Thứ nhất: Lấy cơ sở giá bán hàng hoá cùng loại tại thị trường nội địa của nước
xuất khẩu. Khi không thể sử dụng giá này, phải sử dụng giá mà nước này xuất
khẩu sang nước thứ ba làm chuẩn, hoặc xác định bằng cách cộng giá thành sản
xuất với các chi phí hợp lý và lợi nhuận.
Hai là: Hàng chuyển khẩu thường được so với giá tương ứng của nước xuất
khẩu.
Ba là: Nếu không có giá xuất khẩu hoặc giá này bị cho là không đáng tin, thì
có thể lấy giá bán hàng nhập khẩu để xác định giá xuất khẩu.
Bốn là: Giá xuất khẩu và giá bán nội địa của nước xuất khẩu phải được so
sánh ở cùng một trình độ thương mại.
Trên thực tế, nhằm bảo hộ công nghiệp nội địa, có rất nhiều chính phủ
đều áp dụng các hành động nhằm vào bán phá giá. Cho đến nay, WTO chưa
SV: Đoàn Văn Hưng Lớp: KTQT45A
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
đưa ra việc giải quyết vấn đề bán phá giá thông qua đàm phán mà vẫn căn cứ
theo điều 6 của GATT cho phép các nước hành động chống bán phá giá.
Nhưng chỉ khi việc bán phá giá làm tổn hại đến công nghiệp của nước nhập
khẩu thì các biện pháp chống bán phá giá mới được áp dụng.
Ngày nay, các nước nhập khẩu chống bán phá giá bằng cách thu thuế
nhập khẩu ngoại ngạch đối với sản phẩm cá biệt của nước xuất khẩu cá biệt,
khiến giá hàng nhập "xấp xỉ giá thông thường", hoặc loại bỏ sự tổn hại của
công nghiệp nội địa nước nhập khẩu. WTO đã sửa đổi một số điều trong Hiệp
định Chống bán phá giá, trong đó quy định các nước nhập khẩu phải kết thúc
các biện pháp chống bán phá giá và thời gian thực thi sau 5 năm. Khi nước

xuất khẩu hàng hoá là đối tượng chịu thuế chống bán phá giá khởi kiện đến
WTO, cụ thể là Cơ quan Giải quyết Tranh chấp. Các vụ việc giải quyết tranh
chấp về việc chống bán phá giá luôn là vấn đề phức tạp và gây nhiều tranh cãi.
Đôi khi, kết quả thường dẫn đến các hành vi trả đũa trong thương mại, gây ra
rất nhiều mâu thuẫn, ảnh hưởng xấu đến tình hình thương mại chung trên thế
giới. Vì vậy, các quốc gia thường rất thận trọng khi quyết định việc áp dụng
thuế chống bán phá giá đối với hàng hoá nhập khẩu bị bán phá giá vào nước
mình.
Trong thực tiễn áp dụng thuế chống bán phá giá trên thế giới, đã có
nhiều nước áp dụng biện pháp này trước khi WTO ra đời. Căn cứ thống kê từ
năm 1990, việc áp dụng thuế chống bán phá giá hiện nay luôn thể hiện sự tiến
bộ và xu hướng phát triển của các nước đang phát triển so với các nước phát
triển. Điều này được thể hiện bằng biểu đồ dưới đây:
Xu hướng điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá
SV: Đoàn Văn Hưng Lớp: KTQT45A
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
(Nguồn: Báo cáo của Ban Thư ký WTO và Ủy ban chống bán phá giá WT )
Một điểm cần quan tâm là không chỉ có các nước phát triển áp dụng
thuế chống bán phá giá đối với các nước đang phát triển và ngược lại. Các
nước phát triển còn áp dụng thuế chống bán phá giá đối với các nước phát
triển khác và điều này cũng xảy ra tương tự đối với các nước đang phát triển.
1.2.1.1 Tình hình áp dụng thuế chống bán phá giá của các nước phát
triển
Kể từ năm 1995 cho đến cuối năm 2001, có 12 nước phát triển đã tiến
hành 899 cuộc điều tra chống bán phá giá và có 502 lần áp dụng thuế chống
bán phá giá đối với hàng hoá nhập khẩu bị bán phá giá.
Cũng trong thời gian đó, hàng hoá xuất khẩu của 32 nước phát triển lại
là đối tượng của 745 cuộc điều tra chống bán phá giá và chịu 430 lần bị áp
dụng thuế chống bán phá giá từ các nước nhập khẩu.
Trong số các nước phát triển, Hoa kỳ và EU luôn đi đầu trong việc áp

Trung quốc là nhiều nước phát triển chưa coi nền kinh tế Trung quốc là kinh tế
SV: Đoàn Văn Hưng Lớp: KTQT45A
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
thị trường, do đó dễ dẫn tới kết luận là hàng xuất khẩu bị bán phá giá, mặc dù
trên thực tế có thể không phải như vậy.
1.2.2 Thực tiễn áp dụng thuế chống bán phá giá của Hoa kỳ
Chính sách chống phá giá của Hoa kỳ được thể hiện thông qua Luật
chống bán phá giá năm 1921. Kho bạc Nhà nước Hoa kỳ lúc đó được giao
nhiệm vụ điều tra các hành vi bán phá giá và ấn định mức thuế chống bán phá
giá. Tuy nhiên, nhiệm vụ này đã được chuyển giao cho Bộ Thương mại Hoa
kỳ đảm nhận sau khi Nghị viện Hoa kỳ thông qua một đạo luật mới về thực thi
hiệp định thương mại (Trade Agreement Act), trong đó có quy định liên quan
đến việc điều tra, áp dụng thuế chống phá giá vào năm 1979.
Sau khi WTO ra đời trên cơ sở kết quả đàm phán của vòng Uruguay vào
năm 1995, các quy định của Hoa kỳ về chống bán phá giá phải tuân thủ theo
Hiệp định về chống bán phá giá của WTO. Trên cơ sở đó, Hoa kỳ đã ban hành
Quy định về chống bán phá giá và chống trợ cấp vào năm 1997, trong đó
hướng dẫn tiến trình thực hiện về điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá.
Các cuộc điều tra phá giá hàng năm của Hoa kỳ ngày càng giảm từ khi
Hiệp định chống bán phá giá của WTO có hiệu lực vào năm 1995, từ cao nhất
là 84 cuộc điều tra trong năm 1992 còn 14 (1995), 21(1996) và 15(1997).
Theo con số thống kê chính thức từ Bộ Thương mại Hoa kỳ, đã có 72 cuộc
điều tra chống phá giá từ 1996 đến 1998. Trong năm 1998, sức ép của ngành
công nghiệp trong nước và cạnh tranh nước ngoài, đặc biệt là về sắt thép đã
làm số cuộc điều tra áp dụng thuế chống bán phá giá tăng lên thành 36 cuộc,
gấp đôi so với hai năm trước gộp lại.
Việc điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá của Hoa kỳ thường tập
trung vào mặt hàng chính là sắt thép. Trong số 72 cuộc điều tra chống phá giá
từ 1996 đến 1998 có đến 39 cuộc (chiếm 54%) về sản phầm sắt thép nhưng chỉ
chú trọng vào một số mặt hàng sắt thép quan trọng, mang tính chiến lược cao

Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Số vụ điều tra phá giá 24 42 21 66 31
điều tra trợ cấp 1 3 8 20 0
Điều kiện áp dụng thuế chống bán phá giá ở EU:
i) Hàng nhập khẩu bị bán với giá thấp hơn giá trị thông thường (phá giá);
ii) Ngành sản xuất sản phẩm tương tự của EU bị thiệt hại về vật chất do hàng
nhập khẩu bị bán phá giá gây ra;
iii) Việc đánh thuế chống bán phá giá là cần thiết cho lợi ích của EU.
Không giống như qui định trong Hiệp định Chống bán phá giá của
WTO, điều kiện thứ ba tính đến cả lợi ích của người tiêu dùng và của ngành
sản xuất sử dụng hàng nhập khẩu làm nguyên liệu đầu vào. Tóm lại quyết định
đánh thuế chống bán phá giá của EU được dựa trên toàn bộ lợi ích của cả cộng
đồng.
* Cơ quan điều tra và thủ tục điều tra
Thủ tục điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá của EU được qui định ở
Qui chế 384/96 ngày 22/12/1995 của Hội đồng Bộ trưởng EU, sau đây gọi là
tắt là “Qui chế chống bán phá giá”.
- Các cơ quan chức năng bao gồm:
+ Ủy ban
Ủy ban châu Âu đóng vai trò quan trọng nhất trong việc thi hành luật
chống bán phá giá của EU, là cơ quan có trách nhiệm nhận đơn đề nghị điều
tra phá giá, quyết định mở cuộc điều tra, tiến hành điều tra, áp dụng thuế
chống bán phá giá tạm thời, quyết định chấp nhận cam kết giá bởi các nhà
xuất khẩu nước ngoài và kiến nghị lên Hội đồng Bộ trưởng việc áp dụng thuế
chống bán phá giá chính thức. Ủy ban còn có quyền kiến nghị lên Hội đồng
Bộ trưởng phê chuẩn sửa đổi Qui chế chống bán phá giá và ban hành các luật
mới về thương mại. Trong nội bộ Ủy ban, việc thực thi luật chống bán phá giá
SV: Đoàn Văn Hưng Lớp: KTQT45A

Trích đoạn Thực trạng áp dụng thuế chống bán phá giá tại Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status