TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
----------------------------
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài :
QUY ĐỊNH VÀ THỰC TIỄN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA MỸ
VÀ GIẢI PHÁP CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS Nguyễn Phúc Khanh
Sinh viên thực hiện : Trần Ngọc Trung
Lớp : A4 - K38B
Hà nội - 2003
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU…………………………………….…………….………………………..1
CHƯƠNG I. QUY ĐỊNH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA MỸ
1. Khái niệm về bán phá giá…….…………………………………………………...3
1.1 Định nghĩa………………….………………………………………………………...3
1.2 Các đạo luật liên quan đến bán phá giá
( Luật doanh thu 1916, Luật thuế quan 1930,…)………...………………………...3
2. Quy định của luật pháp Hoa Kỳ về xử lý hành vi bán phá giá…...……...5
2.1 Cơ quan thẩm quyền điều tra hành vi bán phá giá……..……………………...5
2.2 Trình tự tiến hành xử lý bán phá giá……..…………………….………………...6
2.2.1 Quá trình khởi kiện……..…………………….…………..………………………6
2.2.2 Quá trình điều tra….....…………………….…………………………………...10
2.2.3 Các khái niệm pháp lý chính …………….……………….……....…………...20
2.2.4 Quá trình xem xét lại…………...………….……………………………….…...34
CHƯƠNG II. THỰC TIỄN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA MỸ
1. Tổng quan thực trạng bán phá giá vào thị trường Mỹ…………………....36
1.1 Thống kê các vụ bán phá giá trong giai đoạn 1980-2001…………………...37
1.2 Thực trạng xử lý các vụ bán phá giá vào thị trường Mỹ……….…….….…...43
2. Những nhận xét về việc áp dụng luật chống bán phá giá của Mỹ……...49
2.1 Phản ứng của các quốc gia đối với luật chống bán phá giá của Mỹ…..…...49
phá giá Mỹ. Sự đơn giản về mặt bản chất nhưng phức tạp về các quy định cũng
như cách thức xử lý đòi hỏi các doanh nghiệp, cụ thể là các doanh nghiệp Việt
Nam, phải có được một vốn hiểu biết nhất định về bộ luật này nhằm, ít nhất,
tránh những lúng túng và sai sót không cần thiết trong trường hợp bị kiện bán
phá giá, và cao hơn, giành phần thắng về mình.
Đây chính là lý do em lựa chọn đề tài này để thực hiện bài khoá luận tốt
nghiệp với mong muốn đưa ra được một cái nhìn riêng về bộ luật chống bán
phá giá của Mỹ. Tuy nhiên, do những nguyên nhân chủ quan và khách quan,
bản khoá luận này mới chỉ đưa ra được một số nét cơ bản của bộ luật chống bán
phá giá Mỹ cũng như việc thực thi bộ luật này trong thực tế nhằm giúp cho
người đọc có một cái nhìn khái quát nhất về bộ luật này.
Em xin chân thành cảm ơn sự chỉ đạo và sự hỗ trợ về mặt tài liệu của giáo
viên hướng dẫn, thầy Nguyễn Phúc Khanh, Phó giáo sư, Tiến sĩ, Phó hiệu
trưởng trường Đại học Ngoại thương. Dưới sự chỉ đạo và hướng dẫn của thầy,
em đã có thể hoàn thành tốt bản khoá luận tốt nghiệp này.
Hà nội, ngày 30/12/2003
Sinh viên
Trần Ngọc Trung
CHƯƠNG I
QUI ĐỊNH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA MỸ
1. Khái niệm về bán phá giá
1.1. Định nghĩa
Theo qui định tại khoản 800-801, chương 463 thuộc bộ Luật Doanh Thu
1916 (Revenue Act of 1916), hành vi bán phá giá là hành vi nhập khẩu, hỗ trợ
việc nhập khẩu, bán hàng hóa nhập khẩu vào thị trường Mỹ tại mức giá thấp hơn
đáng kể so với giá trị thực hoặc giá bán buôn của hàng hóa đó, tính tại thời điểm
xuất khẩu vào thị trường Mỹ, hoặc tại thị trường chính của nước sản xuất, hoặc
tại một nước thứ ba cũng nhập khẩu hàng hóa đó (giá trị thực hoặc giá bán buôn
nói trên là giá không bao gồm cước vận chuyển, thuế, và các khoản phí khác cần
thiết cho việc nhập khẩu và bán tại thị trường Mỹ) với điều kiện, hành vi nói
Đó là Luật Thương mại 1974 (Trade Act of 1974) và luật Thương mại 1979
(Trade Act of 1979). Hai điều luật này được ban hành nhằm chấn chỉnh lại công
tác kiểm soát, điều tra và xử lý các hành vi bán phá giá gây tổn hại cho nền công
nghiệp Mỹ. Chi tiết về vấn đề này sẽ được thảo luận kỹ ở phần sau.
Như vậy về cơ bản có 4 điều luật chính điều chỉnh hành vi bán phá giá:
- Luật chống bán phá giá 1916
- Luật chống bán phá giá 1921
- Luật Thương mại 1974
- Luật Thương mại 1979
Bốn bộ luật này được kết hợp nhuần nhuyễn với nhau và đều được Bộ
Thương mại Hoa Kỳ (DOC) và Uỷ ban Thương mại Hoa Kỳ (USITC) dẫn chiếu
trong quá trình xử lý các vụ kiện bán phá giá.
2. Qui định của luật pháp Hoa Kỳ về xử lý hành vi bán phá giá
2.1. Cơ quan thẩm quyền điều tra hành vi bán phá giá
Cùng với sự hình thành của các điều luật liên quan, phạm vi thẩm quyền
xét xử hành vi bán phá giá cũng thay đổi theo.
Khi ban hành luật chống bán phá giá 1916, các vụ kiện bán phá giá được
coi là các vụ án dân sự và thậm chí là hình sự, do vậy cơ quan chịu trách nhiệm
là tòa án Mỹ. Thẩm quyền của tòa án chỉ giới hạn trong phạm vi xét xử, còn việc
tìm kiếm chứng cứ để có thể thắng được vụ kiện hoàn toàn là bổn phận của bên
nguyên đơn.
Việc ra đời Luật chống bán phá giá 1921 đồng nghĩa với việc chuyển đổi
thẩm quyền từ Tòa án sang Cục ngân khố Mỹ (US Treasury). Trách nhiệm cũng
được nâng cao: thẩm quyền của Cục Ngân khố không chỉ giới hạn trong việc
đưa ra phán quyết mà còn tiến hành các bước điều tra và xác định mức độ thiệt
hại mà mỗi hành vi bán phá giá gây ra. Tuy nhiên, trên thực tế, các công tác liên
quan đến hành vi bán phá giá đều không được Cục Ngân khố tiến hành công
khai và thường không có thời hạn để hoàn tất một cuộc điều tra. Chính bởi lý do
này mà tính bảo hộ của Luật chống bán phá giá đã không được phát huy, tạo nên
sự phản ứng trong giới công nghiệp Mỹ, đặc biệt là trong ngành thép. Sự phản
được gói gọn trong thời hạn tối đa là 280 ngày. Tuy nhiên, trên thực tế, các phán
quyết cuối cùng thường được đưa ra sớm hơn thời hạn này rất nhiều. Về cơ bản,
có 3 bước để kết thúc một vụ kiện bán phá giá:
- Khởi kiện.
- Điều tra
- Xem xét lại.
2.2.1. Quá trình khởi kiện
A. Tổng quan.
Bên nguyên đơn có thể đệ đơn kiện bán phá giá lên Bộ Thương mại Hoa
Kỳ (DOC) và Uỷ ban Thương mại Quốc tế (USITC) với nội dung: Một ngành
sản xuất của Mỹ đang phải chịu thiệt hại vật chất hoặc có nguy cơ phải chịu thiệt
hại vật chất, hoặc việc thành lập một ngành sản xuất ở Mỹ bị trì hoãn do việc
nhập khẩu một hay nhiều loại hàng hóa tại mức giá thấp hơn mức hợp lý (mức
LTFV) hoặc do việc Chính phủ của một hay nhiều quốc gia trợ giá cho hàng hóa
mà Mỹ nhập khẩu.
B. Chuẩn bị khởi kiện
Thông thường, DOC và USITC thường xem xét lại đơn kiện trước khi
được đệ trình chính thức nhằm giúp nguyên đơn tránh được những sai sót có thể
ngăn cản quá trình điều tra.
Về mặt hình thức, đơn kiện phải có phần mở đầu và kết luận và được trình
bày theo dạng sau:
Mục 1: Thông tin chung
Mục 2: Mô tả hàng hóa nhập khẩu, nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu
Mục 3: Thông tin về trợ giá và thông tin về giá
Mục 4: Thông tin về tình trạng nguy kịch
Mục 5: Thông tin về mức độ thiệt hại
Mục 1: Thông tin chung
Phần này cung cấp thông tin về nguyên đơn và ngành nội địa sản xuất sản
phẩm tương tự hoặc gần giống với sản phẩm nhập khẩu. Theo qui định, đơn kiện
phải nhân danh cả một ngành sản xuất. Để thỏa mãn điều kiện này thì:
(1)
Ví dụ, 1 tổng công ty, gồm nhiều công ty th nh viên chià ếm 25% tổng sản lượng của ng nh, à đệ đơn kiện
bán phá giá. Để đơn kiện được chấp nhận, số công ty th nh viên à ủng hộ đơn kiện phải chiếm trên 50% sản
lượng của tổng công ty.
này sẽ dẫn đến việc áp dụng mức thuế chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập
khẩu được bán trong khoảng thời gian 90 ngày trước khi mức thuế chống bán
phá giá được áp dụng. Điều khoản này được áp dụng nhằm 2 mục đích:
(1) Ngăn cản việc nhà nhập khẩu trốn thuế chống bán phá giá bằng cách
nhập khẩu một khối lượng lớn ngay sau khi có đơn kiện.
(2) Giảm bớt ảnh hưởng của lượng hàng nhập khẩu trốn thuế nếu như sự
việc đã xảy ra.
DOC phải đưa ra quyết định liên quan đến việc áp dụng điều khoản “tình
trạng nguy kịch”, và nếu quyết định của DOC là có tồn tại tình trạng đó, đồng
thời USITC cũng xác nhận việc có thiệt hại vật chất đối với ngành sản xuất nội
địa, thì USITC phải đưa ra một phán quyết bổ sung để xác định xem liệu có xảy
ra tình trạng trốn thuế hay không. Để đưa ra phán quyết này, USITC phải cân
nhắc các yếu tố:
(1) Thời gian và khối lượng hàng nhập khẩu.
(2) Sự tăng nhanh chóng lượng hàng nhập khẩu.
(3) Bất kỳ một yếu tố khác cho thấy đang có hành vi trốn thuế chống bán
phá giá.
Mục 5: Thông tin về mức độ thiệt hại
Trong phần này, bên nguyên đơn phải cung cấp các dữ liệu chứng minh
việc mặt hàng nhập khẩu gây thiệt hại hoặc đe đọa thiệt hại cho ngành sản xuất
nội địa. Nhìn chung, các số liệu này phải tổng kết được tình hình của 3 năm gần
nhất bao gồm:
(1) Kim ngạch và giá trị hàng nhập khẩu được bán ở mức giá LTFV.
(2) Giá bán tại Mỹ của hàng nhập khẩu và giá của sản phẩm tương tự được
sản xuất tại Mỹ.
(3) Năng suất, doanh số trong nước, doanh số xuất khẩu của sản phẩm
DOC sẽ bác đơn kiện và quá trình tố tụng chấm dứt.
B. Bước 2: Giai đoạn điều tra sơ bộ của Uỷ ban Thương mại Quốc tế
Hoa Kỳ - USITC
Trong vòng 45 ngày sau khi nhận được đơn kiện, USITC sẽ dựa trên
những thông tin sẵn có để xác định xem liệu có dấu hiệu nào cho thấy một
ngành sản xuất Mỹ đang phải chịu thiệt hại hoặc có nguy cơ phải chịu thiệt hại
vật chất, hoặc việc thành lập một ngành sản xuất bị ngăn cản do việc nhập khẩu
loại hàng hóa nằm trong diện điều tra. Trong giai đoạn điều tra sơ bộ này,
USITC phải tiến hành 6 bước:
- Thành lập và lên kế hoạch điều tra sơ bộ.
- Bảng câu hỏi.
- Họp báo và tổng kết
- Báo cáo của ban điều tra và bản ghi nhớ
- Tổng kết và biểu quyết
- Phán quyết và quan điểm của USITC
* Thành lập và lên kế hoạch điều tra sơ bộ
Sau khi nhận được đơn kiện, USITC sẽ thành lập một ban điều tra gồm 6
thành viên: 1 điều tra viên, 1 chuyên gia kinh tế, 1 kế toán viên/kiểm toán viên,
1 chuyên gia phân tích sản xuất, một luật sư, và 1 giám sát viên. Ban điều tra sẽ
lên kế hoạch điều tra và soạn thảo 1 thông báo cho công luận. Mục đích của bản
thông báo này là cung cấp cho công chúng những thông tin liên quan đến nội
dung điều tra và lịch trình điều tra.
Bên nguyên đơn cũng có thể tham gia vào ban điều tra.
* Bảng câu hỏi
Sau khi xem xét kỹ lưỡng đơn kiện và các thông tin sẵn có khác, ban điều
tra soạn thảo bảng câu hỏi để gửi cho các nhà sản xuất Mỹ, các nhà nhập khẩu
Mỹ và các nhà sản xuất nước ngoài nhằm lấy các thông tin cần thiết để đưa ra
phán quyết. Bảng câu hỏi sẽ được gửi đi trong vòng 2 đến 4 ngày làm việc sau
khi nhận được đơn kiện. Việc trả lời bảng câu hỏi là bắt buộc đối với các nhà
sản xuất và nhà nhập khẩu Mỹ. Nhà sản xuất nước ngoài không nhất thiết phải
bảng câu hỏi cho nhà sản xuất. Phần 2 yêu cầu các dữ liệu trong vòng 3 năm gần
nhất về việc nhập khẩu mặt hàng được điều tra; kim ngạch và giá trị hàng bán,
tiêu thụ nội bộ, chuyển nhượng hàng nhập khẩu nói trên; và lượng hàng nhập
khẩu dự trữ trong kho. Phần 3 yêu cầu cung cấp mức giá bán hàng nhập khẩu và
các thông tin liên quan đến mức giá.
Bảng câu hỏi cho nhà sản xuất nước ngoài cũng gồm 3 phần. Hai phần đầu
bao gồm các câu hỏi tổng quát về hoạt động của nhà sản xuất tại nước đang
được điều tra (nước xuất khẩu) và tại Mỹ. Phần 3 yêu cầu các thông tin trong 3
năm gần nhất về năng suất, sản lượng, lượng hàng bán trong nước, lượng xuất
khẩu sang Mỹ và các thị trường khác và lượng dự trữ mặt hàng trên.
* Họp báo và tổng kết
Sau khoảng 3 tuần điều tra sơ bộ, USITC sẽ tổ chức một cuộc họp báo.
Điều hành buổi họp báo là giám đốc điều tra của USITC; ban điều tra cùng tham
dự. Các bên ủng hộ hay phản đối vụ kiện đều có một tiếng đồng hồ để đưa ra
các luận điểm và bằng chứng để bảo vệ quan điểm của mình. Các bên diễn
thuyết phải đảm bảo tính chính xác của các thông tin đưa ra. Các quan chức
đứng đầu và ban điều tra có thể đặt câu hỏi cho các nhân chứng, nhưng việc chất
vấn giữa hai bên ủng hộ và phản đối là không được phép. Sau khi hai bên kết
thúc bài thuyết trình, mỗi bên cũng có 10 phút để bác bỏ luận điểm của bên còn
lại và đưa ra kết luận. Toàn bộ nội dung buổi họp báo được lập thành biên bản.
USITC khuyến khích các bên nộp bản tổng kết sau họp báo. Trong bản
tổng kết này, các bên có thể đưa ra các thông tin và luận điểm thích hợp với vấn
đề điều tra. Bảng tổng kết được giới hạn về độ dài là 50 trang và phải được trình
lên USITC trong vòng 3 ngày làm việc sau buổi họp báo.
* Báo cáo của ban điều tra và bản ghi nhớ
Báo cáo của ban điều tra là một văn bản khách quan do điều tra viên,
chuyên gia phân tích sản xuất, kế toán viên / kiểm toán viên, và chuyên gia kinh
tế soạn thảo dưới sự chỉ đạo của giám sát viên. Bản báo cáo bao gồm 1 bài
thuyết trình và phân tích về tất cả các số liệu thống kê và các thông tin khác thu
thập được từ bảng câu hỏi, tài liệu, nghiên cứu thực địa… Bản báo cáo không
điều tra thu thập hoặc do chính DOC thu thập để xác định các khái niệm : Giá trị
thông thường, Giá xuất khẩu, Mức bán phá giá và tỉ lệ bán phá giá (ý nghĩa của
các khái niệm này sẽ được giải thích cụ thể ở phần 2.2.3).
Nếu kết luận sơ bộ của DOC là có hành vi bán phá giá thì DOC sẽ ra lệnh
đình chỉ việc thanh toán cho tất cả các giao dịch liên quan đến hàng nhập khẩu
thuộc diện điều tra, được thực hiện trong khoảng thời gian 90 ngày trước khi ban
hành lệnh này. Tiếp sau đó, các nhà nhập khẩu phải ký quĩ một khoản tiền tương
đương với tỉ lệ bán phá giá
(1)
. Nếu kết luận của DOC là: không có cơ sở cho
những nghi ngờ trên, thì DOC vẫn tiến hành giai đoạn điều tra chính thức,
nhưng nhà nhập khẩu sẽ không phải ký quỹ số tiền nói trên.
D. Bước 4: Giai đoạn điều tra chính thức của DOC
Trong vòng 235 ngày sau ngày nhận đơn kiện, DOC phải đưa ra phán
quyết chính thức liệu hàng nhập khẩu thuộc diện điều tra có được bán hoặc có
khả năng được bán ở mức giá dưới mức hợp lý (mức LTFV) hay không.
E. Bước 5: Giai đoạn điều tra chính thức của USITC
Trong vòng 280 ngày kể từ ngày nhận đơn kiện, USITC phải đưa ra phán
quyết chính thức về việc liệu hành vi nhập khẩu loại hàng hóa thuộc diện điều
(1)
"Mức bán phá giá" l là ượng chênh lệch giữa giá trị thông thường của loại h ng à đó với giá xuất khẩu v oà
thị trường Mỹ cũng của loại h ng à đó".
"Tỉ lệ bán phá giá " ="Mức bán phá giá"X 100%Giá xuất khẩu
tra có gây tổn hại vật chất hoặc đe dọa tổn hại vật chất hoặc ngăn cản việc thành
lập một ngành sản xuất của Mỹ hay không.
Giai đoạn điều tra chính thức này được chia làm 8 bước:
- Lập lịch trình điều tra.
- Lập bảng câu hỏi
- Báo cáo trước hội thảo
- Hội thảo và tổng kết.
và hàng sản xuất tại nước không thuộc diện điều tra). Phần 3 đưa ra các câu hỏi
về đặc điểm của thị trường của loại hàng hóa trên và phương thức mua bán.
Phần 4 đưa ra các câu hỏi về tình hình cạnh tranh giữa hàng sản xuất tại Mỹ với
hàng sản xuất tại nước thuộc diện điều tra và hàng sản xuất tại nước không
thuộc diện điều tra. Ngoài ra còn có các câu hỏi yêu cầu đưa ra sự so sánh về
giá, chất lượng… giữa các mặt hàng có xuất xứ từ 3 nguồn gốc nói trên.
Bảng câu hỏi sẽ được gửi đi trong vòng 1 tuần sau khi nhận được thông
báo của DOC về kết luận điều tra sơ bộ.
* Báo cáo tiền hội thảo
Bản báo cáo này được trình lên USITC 9 ngày trước khi tổ chức hội thảo,
bao gồm các thông tin mới nhất và số liệu thống kê, phân tích của các bên liên
quan, cũng như các cơ sở để USITC và các bên thảo luận trong buổi hội thảo.
* Hội thảo và tổng kết
USITC sẽ tổ chức một buổi hội thảo ngay sau khi DOC đưa ra phán quyết
chính thức. Chủ tịch của USITC sẽ chủ trì buổi hội thảo. Buổi hội thảo là dịp để
các bên liên quan bày tỏ quan điểm của mình và cũng là cơ hội để các thành
viên USITC chất vấn các bên và khai thác thông tin phục vụ cho việc đưa phán
quyết chính thức. Đơn đăng ký tham gia hội thảo phải được gửi lên Ban thư ký
của USITC chậm nhất là 3 ngày trước khi buổi hội thảo diễn ra.
Trong buổi hội thảo, các bên ủng hộ và phản đối đơn kiện sẽ có 5 phút cho
mỗi bên để tóm tắt luận điểm của mình. Tiếp theo đó, mỗi bên sẽ có một tiếng
đồng hồ để nêu ra bằng chứng bảo vệ luận điểm của mình. Sau khi nghe trình
bày của các bên là quá trình chất vấn của USITC, của ban điều tra và của bên
đối lập.
Kết thúc buổi hội thảo là phần tóm tắt vụ kiện dài 5 phút do cả hai bên, bên
nguyên đơn và bị đơn, trình bày.
USITC khuyến khích các bên liên quan đệ trình bằng chứng lên USITC
trước khi diễn ra buổi hội thảo. Các bằng chứng này cần ngắn gọn và tập trung
vào vấn đề chính của cuộc điều tra. Ngoài ra, USITC cũng khuyến khích các bên
đệ trình bản tổng kết sau buổi hội thảo. Bản tổng kết có thể đưa ra thông tin
Sau khi xem xét phán quyết chính thức và bản giải trình của USITC, DOC
sẽ đưa ra quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu
thuộc diện điều tra và đưa ra một mức thuế tương đương với tỉ lệ bán phá giá.
Lưu ý : Tuy nhiên, có một điểm cần lưu ý rằng, mức thuế mà DOC đưa ra
vào thời điểm này không phải là mức thuế thực sự mà hàng hoá nhập khẩu phải
chịu. Ta có thể xem xét một ví dụ: DOC phát hiện thấy hàng nhập khẩu được
bán với tỉ lệ bán phá giá là 5%. Sau khi USITC đưa ra phán quyết chính thức là
có thiệt hại vật chất, DOC sẽ ra quyết định áp dụng mức thuế chống bán phá giá
với hàng hoá đó là 5%. Từ thời điểm này, mặt hàng trên, khi nhập khẩu vào Mỹ,
sẽ phải chịu thêm một mức thuế 5%. Nhà nhập khẩu sẽ phải đặt cọc một số tiền
tương đương với mức 5% trên cho Cục Hải quan của Mỹ khi làm thủ tục nhập
khẩu. Tình trạng này sẽ được duy trì trong vòng một năm. Sau một năm, trong
quá trình xem xét lại, DOC mới đưa ra một mức thuế chống bán phá giá thực sự.
Mức thuế chống bán phá giá thực sự này có thể sẽ cao hơn hoặc thấp hơn tỉ lệ
bán phá giá mà DOC tìm thấy. Nếu cao hơn, nhà nhập khẩu sẽ phải nộp thêm số
tiền còn thiếu. Nếu thấp hơn, nhà nhập khẩu sẽ được hoàn trả lại phần thừa.
Đồng thời trong quá trình xem xét lại, DOC và USITC sẽ quyết định việc có tiếp
tục duy trì thuế chống bán phá giá đối với mặt hàng đó hay không.
Có hai mốc hiệu lực của thuế chống bán phá giá, tuỳ thuộc vào phán quyết
chính thức của DOC về “tình trạng nguy kịch”. Nếu phán quyết chính thức của
DOC là có tồn tại "tình trạng nguy kịch”, và USITC cũng đưa ra phán quyết
chính thức rằng: 1 ngành sản xuất của Mỹ đang phải chịu thiệt hại vật chất, thì
USITC sẽ phải điều tra thêm để xác định xem liệu có tình trạng "trốn thuế" hay
không (như trình bày trong mục 4 - phần B - 2.2.1). Kết quả của cuộc điều tra
thêm này sẽ quyết định ngày hiệu lực của phán quyết: Nếu kết quả điều tra là có
hành vi "trốn thuế", thì mức thuế chống bán phá giá sẽ được áp dụng từ ngày
ban hành lệnh đình chỉ thanh toán (C-2.2.2); trong trường hợp ngược lại, thì thời
hạn hiệu lực bắt đầu từ ngày công bố chính thức quyết định của USITC.
Như vậy, việc DOC và USITC đưa ra các phán quyết chính thức chưa hẳn
đã kết thúc quá trình điều tra một hành vi bán phá giá. Như đã nói ở phần đầu,
(2) Giá trị thông thường = Giá thị trường của nước thứ ba
Trong trường hợp sản phẩm thuộc diện điều tra hoặc sản phẩm tương tự
sản phẩm thuộc diện điều tra không được bán trên thị trường nước xuất khẩu
hoặc doanh số của mặt hàng này tại thị trường nước xuất khẩu quá thấp ( nhỏ
hơn 5% tổng doanh số mặt hàng này tại thị trường Mỹ ) thì DOC sẽ coi thị
trường mặt hàng này của nước xuất khẩu là không tồn tại và lựa chọn thị trường
một nước thứ ba nơi cũng nhập khẩu mặt hàng tương tự của nước xuất khẩu
trên. DOC sẽ lấy giá xuất khẩu vào thị trường nước thứ ba của mặt hàng thuộc
diện điều tra làm giá trị thông thường.
(3) Giá trị thông thường = Giá dự tính
Giá dự tính là mức giá do DOC xây dựng nên dựa trên 3 yếu tố: Chi phí
sản xuất ; Mức chi phí chung ; Mức lợi nhuận hợp lý. Việc tính toán mức chi
phí chung và mức lợi nhuận hợp lý sẽ được dựa trên các dữ liệu liên quan đến
hoạt động sản xuất và bán hàng do nhà xuất khẩu hoặc nhà sản xuất thuộc diện
điều tra cung cấp. Trong trường hợp không xác định được 2 yếu tố này bằng cơ
sở trên, DOC có thể dựa vào : Số liệu thực tế về hoạt động sản xuất và bán hàng
của nhà xuất khẩu hoặc nhà sản xuất thuộc diện điều tra tại thị trường nước xuất
khẩu hoặc bất kỳ một phương pháp nào khác miễn là mức lợi nhuận dự tính
không vượt quá mức lợi nhuận thông thường mà nhà xuất khẩu hoặc nhà sản
xuất thuộc diện điều tra vẫn hưởng.
DOC sẽ áp dụng mức giá dự tính trong trường hợp không có thị trường
nước thứ ba tương tự.
Trường hợp đặc biệt : Loại trừ các khoản doanh thu phát sinh từ
mức giá thấp hơn mức chi phí.
Trong quá trình kinh doanh, thường có một số giao dịch có mức giá bán
thấp hơn mức chi phí sản xuất. Các giao dịch như vậy sẽ được coi là “giao dịch
trong điều kiện thương mại bất thường” và sẽ bị loại khỏi giá trị thông thường.
Trong thực tế, các giao dịch dưới mức chi phí sẽ bị loại nếu giá bán trung bình
của các giao dịch này thấp hơn chi phí sản xuất trung bình và kim ngạch của
các giao dịch này chiếm trên 20% tổng kim ngạch. Việc loại bỏ các giao dịch