QUY ĐỊNH VÀ THỰC TIỄN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA MỸ VÀ GIẢI PHÁP CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
----------------------------
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Đề tài :

QUY ĐỊNH VÀ THỰC TIỄN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA MỸ
VÀ GIẢI PHÁP CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS Nguyễn Phúc Khanh
Sinh viên thực hiện : Trần Ngọc Trung
Lớp : A4 - K38B

Hà nội - 2003

6
2.2.2 Quá trình điều tra
….....…………………….…………………………………...
10
2.2.3 Các khái niệm pháp lý chính
…………….……………….……....…………...
20
2.2.4 Quá trình xem xét lại
…………...………….……………………………….…...
34

CHƯƠNG II. THỰC TIỄN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA MỸ
1. Tổng quan thực trạng bán phá giá vào thị trường Mỹ
…………………....
36
1.1 Thống kê các vụ bán phá giá trong giai đoạn 1980-2001
…………………...
37
1.2 Thực trạng xử lý các vụ bán phá giá vào thị trường Mỹ
……….…….….…...
43
2. Những nhận xét về việc áp dụng luật chống bán phá giá của Mỹ
……...
49
2.1 Phản ứng của các quốc gia đối với luật chống bán phá giá của Mỹ
…..…...
49
2.2 Những ảnh hưởng tiêu cực của luật chống bán phá giá của Mỹ
đến bản thân nền kinh tế Mỹ
…………..………….…………………………………...

LỜI NÓI ĐẦU Luật chống bán phá giá là một trong những bộ luật non trẻ nhất của hệ
thống luật thương mại quốc gia cũng như thế giới bởi cho đến đầu thế kỷ XX,
khái niệm chống bán phá giá hầu như vẫn chưa hình thành.
Tuy nhiên, trong bối cảnh tự do hoá thương mại ngày càng phát triển, khi
mà các hàng rào thương mại cổ điển dần được tháo bỏ, thì khái niệm bán phá
giá và chống bán phá giá ngày càng phổ biế
n và luật chống bán phá giá, do vậy,
ngày càng được chú trọng. Điều này đã được minh chứng qua số lượng ngày
càng tăng các quốc gia có luật chống bán phá giá cũng như các vụ kiện bán phá
giá diễn ra trên phạm vi toàn cầu.
Do vậy một điều hiển nhiên là trong hoạt động thương mại quốc tế trong
tương lai, việc các doanh nghiệp phải đối mặt với luật chống bán phá giá là một
điều tất yế
u.
Mỹ, với tư cách là bạn hàng lớn nhất của Việt Nam và cũng là bạn hàng


1.1. Định nghĩa
Theo qui định tại khoản 800-801, chương 463 thuộc bộ Luật Doanh Thu
1916 (Revenue Act of 1916), hành vi bán phá giá là hành vi nhập khẩu, hỗ trợ
việc nhập khẩu, bán hàng hóa nhập khẩu vào thị trường Mỹ tại mức giá thấp hơn
đáng kể so với giá trị thực hoặc giá bán buôn của hàng hóa đó, tính tại thời điểm
xuất khẩu vào thị trường Mỹ, hoặc tại thị trường chính của nước sản xuấ
t, hoặc
tại một nước thứ ba cũng nhập khẩu hàng hóa đó (giá trị thực hoặc giá bán buôn
nói trên là giá không bao gồm cước vận chuyển, thuế, và các khoản phí khác cần
thiết cho việc nhập khẩu và bán tại thị trường Mỹ) với điều kiện, hành vi nói
trên được thực hiện nhằm phá hủy hoặc phương hại một ngành sản xuất ở Mỹ
hoặc ngăn cản việ
c thành lập một ngành sản xuất ở Mỹ, hoặc giành vị trí độc
quyền buôn bán hàng hóa đó ở Mỹ.
Theo định nghĩa trên, một hành vi sẽ được coi là bán phá giá nếu thỏa mãn
2 tiêu chí:
- Hàng hóa đó được bán tại mức giá thấp hơn giá trị thông thường.
- Việc bán hàng hóa tại mức giá đó gây thiệt hại tới ngành sản xuất của
Mỹ.

1.2. Các đạo luật của Mỹ liên quan đến bán phá giá
Mỹ là một trong những quốc gia đầu tiên đưa luật chống bán phá giá vào
hệ thống luật pháp quốc gia.
Điều luật đầu tiên điều chỉnh hành vi bán phá giá là khoản 800 - 801 thuộc
Bộ Luật Doanh Thu ban hành năm 1916, thường được gọi là Luật chống bán
phá giá 1916.
Theo luật này, nhà nhập khẩu có thể bị truy cứu trách nhiệm dân sự và
hình sự nếu nhập khẩu hoặc bán hàng hóa ngoại nhập vào thị trường Mỹ tại mức
giá thấp hơn đáng kể so với mức giá của cũng sản phẩm đó bán tại một thị


2. Qui định của luật pháp Hoa Kỳ về xử lý hành vi bán phá giá

2.1. Cơ quan thẩm quyền điều tra hành vi bán phá giá

Cùng với sự hình thành của các điều luật liên quan, phạm vi thẩm quyền
xét xử hành vi bán phá giá cũng thay đổi theo.
Khi ban hành luật chống bán phá giá 1916, các vụ kiện bán phá giá được
coi là các vụ án dân sự và thậm chí là hình sự, do vậy cơ quan chịu trách nhiệm
là tòa án Mỹ. Thẩm quyền của tòa án chỉ giới hạn trong phạm vi xét xử, còn việc
tìm kiếm chứng cứ để có thể thắng được vụ kiện hoàn toàn là bổn phận của bên
nguyên đơn.
Việc ra đời Luật chống bán phá giá 1921 đồng nghĩa với việc chuyển đổi
thẩm quyền từ Tòa án sang Cục ngân khố Mỹ (US Treasury). Trách nhiệm cũng
được nâng cao: thẩm quyền của Cục Ngân khố không chỉ giới hạn trong việc
đưa ra phán quyết mà còn tiến hành các bước điều tra và xác định mức độ thiệt
hại mà mỗi hành vi bán phá giá gây ra. Tuy nhiên, trên thực tế, các công tác liên
quan đến hành vi bán phá giá đều không được Cục Ngân khố ti
ến hành công
khai và thường không có thời hạn để hoàn tất một cuộc điều tra. Chính bởi lý do
này mà tính bảo hộ của Luật chống bán phá giá đã không được phát huy, tạo nên
sự phản ứng trong giới công nghiệp Mỹ, đặc biệt là trong ngành thép. Sự phản
ứng này đã dẫn đến kết quả ra đời của Luật Thương mại 1974 (Trade Act of
1979) và Luật Thương mại 1979 (Trade Act of 1979). Một cách chính xác thì
trong 2 bộ luật mới này, chính quyền M
ỹ đã đưa ra các đạo luật qui định về hành
vi bán phá giá, cụ thể là Đạo luật Jackson - Vanik.
Theo luật mới này, hành vi bán hàng ở mức giá thấp hơn chi phí sản xuất
cũng được coi là bán phá giá. Về mặt thuật ngữ, bán phá giá và bán dưới mức
chi phí đều được gọi là bán dưới mức hợp lý (Less than fair value - LTFV). Luật

- Điều tra
- Xem xét lại.

2.2.1. Quá trình khởi kiện
A. Tổng quan.
Bên nguyên đơn có thể đệ đơn kiện bán phá giá lên Bộ Thương mại Hoa
Kỳ (DOC) và Uỷ ban Thương mại Quốc tế (USITC) với nội dung: Một ngành
sản xuất của Mỹ đang phải chịu thiệt hại vật chất hoặc có nguy cơ phải chịu thiệt
hại vật chất, hoặc việc thành lập một ngành sản xuất ở Mỹ bị
trì hoãn do việc
nhập khẩu một hay nhiều loại hàng hóa tại mức giá thấp hơn mức hợp lý (mức
LTFV) hoặc do việc Chính phủ của một hay nhiều quốc gia trợ giá cho hàng hóa
mà Mỹ nhập khẩu.

B. Chuẩn bị khởi kiện
Thông thường, DOC và USITC thường xem xét lại đơn kiện trước khi
được đệ trình chính thức nhằm giúp nguyên đơn tránh được những sai sót có thể
ngăn cản quá trình điều tra.
Về mặt hình thức, đơn kiện phải có phần mở đầu và kết luận và được trình
bày theo dạng sau:
Mục 1: Thông tin chung
Mục 2: Mô tả hàng hóa nhập khẩu, nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu
Mục 3: Thông tin về trợ
giá và thông tin về giá
Mục 4: Thông tin về tình trạng nguy kịch
Mục 5: Thông tin về mức độ thiệt hại

Mục 1: Thông tin chung
Phần này cung cấp thông tin về nguyên đơn và ngành nội địa sản xuất sản
phẩm tương tự hoặc gần giống với sản phẩm nhập khẩu. Theo qui định, đơn kiện

"Tình trạng nguy kịch" là điều khoản cho phép áp dụng thuế chống bán
phá giá trước thời hạn hiệu lực trong trường hợp đặc biệt. Bên nguyên đơn có
thể yêu cầu áp dụng điều khoản vào bất kỳ thời điểm nào trước ngày DOC đưa
ra phán quyết cuối cùng 20 ngày.
Đương nhiên, để điều khoản này được áp dụng, thì bên nguyên đơn phải
nhận đượ
c phán quyết xử thắng của DOC và USITC. Việc thi hành điều khoản

(1)
Ví dụ, 1 tổng công ty, gồm nhiều công ty thành viên chiếm 25% tổng sản lượng của ngành, đệ đơn kiện bán
phá giá. Để đơn kiện được chấp nhận, số công ty thành viên ủng hộ đơn kiện phải chiếm trên 50% sản lượng của
tổng công ty.
này sẽ dẫn đến việc áp dụng mức thuế chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập
khẩu được bán trong khoảng thời gian 90 ngày trước khi mức thuế chống bán
phá giá được áp dụng. Điều khoản này được áp dụng nhằm 2 mục đích:
(1) Ngăn cản việc nhà nhập khẩu trốn thuế chống bán phá giá bằng cách
nhập khẩu một khối lượng lớn ngay sau khi có đơn kiện.
(2) Giảm bớ
t ảnh hưởng của lượng hàng nhập khẩu trốn thuế nếu như sự
việc đã xảy ra.
DOC phải đưa ra quyết định liên quan đến việc áp dụng điều khoản “tình
trạng nguy kịch”, và nếu quyết định của DOC là có tồn tại tình trạng đó, đồng
thời USITC cũng xác nhận việc có thiệt hại vật chất đối với ngành sản xuất nội
địa, thì USITC phải đưa ra một phán quyết bổ sung để xác định xem liệu có xảy
ra tình trạng trốn thuế hay không. Để đưa ra phán quyết này, USITC phải cân
nhắc các yếu tố:
(1) Thời gian và khối lượng hàng nhập khẩu.
(2) Sự tăng nhanh chóng lượng hàng nhập khẩu.
(3) Bất kỳ một yếu tố khác cho thấy đang có hành vi trốn thuế chống bán
phá giá.

Ngoại trừ bước 3, trong các bước còn lại nếu có phán quyết xử thua bên
nguyên đơn thì vụ kiện sẽ bị dừng lại.
Thời hạn hoàn thành cho 5 bước trên như sau:
Bước 1: 20 ngày sau khi nhận được đơn kiện
Bước 2: 45 ngày sau khi nhận được đơn kiện
Bước 3: 115 ngày sau khi hoàn thành bước 2
Bước 4: 75 ngày sau khi hoàn thành bước 3.
Bướ
c 5: 120 ngày sau khi hoàn thành bước 3.

1

Những thông tin này sẽ được sử dụng để đánh giá quy mô của ngành sản xuất mặt hàng tương tự của Mỹ, từ đó
đánh giá mức độ thiệt hại mà mặt hàng bán phá giá gây ra.
A. Bước 1: Bắt đầu điều tra
Bên nguyên đơn phải đồng thời đệ đơn kiện lên DOC và USITC. Trong
vòng 20 ngày sau khi nhận đơn kiện, Bộ TM Hoa Kỳ (DOC) sẽ xác định tính
cần thiết áp dụng thuế chống bán phá giá như đơn kiện yêu cầu. Nếu phán quyết
của DOC là cần thiết, thì quá trình điều tra sẽ được tiến hành, nếu ngược lại
DOC sẽ bác đơn kiện và quá trình tố tụng chấm dứ
t.

B. Bước 2: Giai đoạn điều tra sơ bộ của Uỷ ban Thương mại Quốc tế
Hoa Kỳ - USITC
Trong vòng 45 ngày sau khi nhận được đơn kiện, USITC sẽ dựa trên
những thông tin sẵn có để xác định xem liệu có dấu hiệu nào cho thấy một
ngành sản xuất Mỹ đang phải chịu thiệt hại hoặc có nguy cơ phải chịu thiệt hại

trả lời bảng câu hỏi, tuy nhiên, việc không trả lời có thể dẫn đến những kết luận
không có lợi từ phía USITC.
Trong quá trình soạn thảo, bảng câu hỏi, USITC phải giải quyết một vấn
đề mấu chốt, đó là xác định chính xác sản phẩm cần đi
ều tra. Trước khi đưa ra
phán quyết, USITC phải đánh giá mức độ thiệt hại mà một ngành sản xuất sản
phẩm tương tự của Mỹ phải hứng chịu. Luật chống bán phá giá định nghĩa "một
ngành sản xuất" là "bao gồm tất cả các nhà sản xuất sản phẩm tương tự hoặc
bao gồm các nhà sản xuất tạo ra một phần sản lượng chủ chố
t của sản phẩm
trên…". Cũng theo luật thì "sản phẩm tương tự" là sản phẩm giống hệt, hoặc
trong trường hợp không có sản phẩm giống hệt, là sản phẩm có nhiều đặc tính
tương đồng với sản phẩm được so sánh nhất…". Việc xác định sản phẩm tương
tự được thực hiện dựa trên việc xem xét đơn kiện, thảo luận với các cá nhân
trong ngành sả
n xuất sản phẩm đó, và các phân tích mà USITC có được. Sau khi
đã lựa chọn được sản phẩm tương tự cần điều tra, USITC sẽ soạn thảo bảng câu
hỏi theo một mẫu đã được điều chỉnh cho phù hợp với vấn đề điều tra và gửi cho
các nhà sản xuất Mỹ, nhà nhập khẩu Mỹ và nhà xuất khẩu hoặc nhà sản xuất
nước ngoài (nước xuấ
t khẩu thuộc diện điều tra).
Bảng câu hỏi cho nhà sản xuất Mỹ có 4 phần: Phần 1 đưa ra các câu hỏi về
bộ máy và hoạt động của Công ty; có ủng hộ đơn kiện này không? Tại sao?
Phần 2 yêu cầu cung cấp các thông tin, dữ liệu trong vòng 3 năm gần nhất về
năng suất, sản lượng, lượng hàng dự trữ, lượng hàng bán, lượng hàng nhập khẩu,
lượng tiêu thụ nội bộ, số lao động, giờ làm việc, mức lương. Phần 3 liên quan
đến các dữ liệu về tài chính trong 3 năm gần nhất bao gồm dữ liệu về tình hình
lỗ lãi của sản phẩm được điều tra; dữ liệu về vốn, chi phí nghiên cứu và phát
triển, và giá trị tài sản của doanh nghiệp; ngoài ra còn có các câu hỏi về mức độ
ảnh hưởng của hàng nhập khẩu đối v

tổng kết này, các bên có thể đưa ra các thông tin và luận điểm thích hợp với vấn
đề điều tra. Bảng tổng kết được giới hạn về độ dài là 50 trang và phả
i được trình
lên USITC trong vòng 3 ngày làm việc sau buổi họp báo.

* Báo cáo của ban điều tra và bản ghi nhớ
Báo cáo của ban điều tra là một văn bản khách quan do điều tra viên,
chuyên gia phân tích sản xuất, kế toán viên / kiểm toán viên, và chuyên gia kinh
tế soạn thảo dưới sự chỉ đạo của giám sát viên. Bản báo cáo bao gồm 1 bài
thuyết trình và phân tích về tất cả các số liệu thống kê và các thông tin khác thu
thập được từ bảng câu hỏi, tài liệu, nghiên cứu thực địa… Bản báo cáo không
đưa ra bất kỳ đề
xuất nào liên quan đến phán quyết của USITC.
Sau khi giám sát viên xem xét kỹ, bản báo cáo sẽ được chuyển tới USITC
sau khoảng 5 tuần điều tra sơ bộ. Vào ngày làm việc tiếp theo, hội đồng cố vấn
sẽ chuyển cho USITC bản ghi nhớ do thành viên luật sư của ban điều tra soạn
thảo. Bản ghi nhớ nêu ra các vấn đề pháp lý liên quan đến cuộc điều tra, tóm tắt
luận điểm của hai bên ủng hộ
và phản đối, đồng thời cũng đưa ra đề xuất về mặt
pháp lý.

* Tổng kết và biểu quyết
Khoảng 4 ngày làm việc sau khi nhận được bản báo cáo của ban điều tra,
USITC sẽ tổ chức một buổi họp nhằm tổng kết giai đoạn điều tra và biểu quyết.
Trong buổi họp, đại diện của USITC có thể chất vấn ban điều tra về các vấn đề
liên quan đến cuộc điều tra trước khi thông qua bản báo cáo. Tiếp sau đó, t
ừng
đại diện của USITC sẽ tuyên bố quan điểm của cá nhân và biểu quyết việc có
hay không thiệt hại vật chất đối với một ngành sản xuất Mỹ do hành vi bán phá
giá gây ra. ý kiến biểu quyết sẽ quyết định đến phán quyết của USITC. Chỉ cần

những nghi ngờ trên, thì DOC vẫn tiến hành giai đoạn điều tra chính thức,
nhưng nhà nhập khẩu sẽ không phải ký quỹ số tiền nói trên.

(1)
"Mức bán phá giá" là lượng chênh lệch giữa giá trị thông thường của loại hàng đó với giá xuất khẩu vào thị
trường Mỹ cũng của loại hàng đó".
"Mức bán phá giá"
"Tỉ lệ bán phá giá " =
Giá xuất khẩu
X 100% D. Bước 4: Giai đoạn điều tra chính thức của DOC
Trong vòng 235 ngày sau ngày nhận đơn kiện, DOC phải đưa ra phán
quyết chính thức liệu hàng nhập khẩu thuộc diện điều tra có được bán hoặc có
khả năng được bán ở mức giá dưới mức hợp lý (mức LTFV) hay không.

E. Bước 5: Giai đoạn điều tra chính thức của USITC
Trong vòng 280 ngày kể từ ngày nhận đơn kiện, USITC phải đưa ra phán
quyết chính thức về việc liệu hành vi nhập khẩu loại hàng hóa thuộc diện điều
tra có gây tổn hại vật chất hoặc đe dọa tổn hại vật chất hoặc ngăn cản việc thành
lập một ngành sản xuất của Mỹ hay không.
Giai đ
oạn điều tra chính thức này được chia làm 8 bước:
- Lập lịch trình điều tra.
- Lập bảng câu hỏi
- Báo cáo trước hội thảo
- Hội thảo và tổng kết.
- Báo cáo chính thức của ban điều tra và bản ghi nhớ.
- Kết thúc hồ sơ điều tra và ý kiến của các bên.

ảng câu hỏi cho nhà buôn Mỹ ít nhất gồm 4 phần: Phần 1 tương tự như
bảng câu hỏi cho nhà sản xuất và nhà nhập khẩu. Phần 2 yêu cầu số liệu về hạn
ngạch và giá trị loại hàng thuộc diện điều tra mà Công ty mua, phân loại theo
nước sản xuất (hàng sản xuất tại Mỹ, hàng sản xuất tại nước thuộc diện điều tra,
và hàng sản xuất tại nướ
c không thuộc diện điều tra). Phần 3 đưa ra các câu hỏi
về đặc điểm của thị trường của loại hàng hóa trên và phương thức mua bán.
Phần 4 đưa ra các câu hỏi về tình hình cạnh tranh giữa hàng sản xuất tại Mỹ với
hàng sản xuất tại nước thuộc diện điều tra và hàng sản xuất tại nước không
thuộc diện điều tra. Ngoài ra còn có các câu hỏi yêu cầu đưa ra s
ự so sánh về
giá, chất lượng… giữa các mặt hàng có xuất xứ từ 3 nguồn gốc nói trên.
Bảng câu hỏi sẽ được gửi đi trong vòng 1 tuần sau khi nhận được thông
báo của DOC về kết luận điều tra sơ bộ.

* Báo cáo tiền hội thảo
Bản báo cáo này được trình lên USITC 9 ngày trước khi tổ chức hội thảo,
bao gồm các thông tin mới nhất và số liệu thống kê, phân tích của các bên liên
quan, cũng như các cơ sở để USITC và các bên thảo luận trong buổi hội thảo.

* Hội thảo và tổng kết
USITC sẽ tổ chức một buổi hội thảo ngay sau khi DOC đưa ra phán quyết
chính thức. Chủ tịch của USITC sẽ chủ trì buổi hội thảo. Buổi hội thảo là dịp để
các bên liên quan bày tỏ quan điểm của mình và cũng là cơ hội để các thành
viên USITC chất vấn các bên và khai thác thông tin phục vụ cho việc đưa phán
quyết chính thức. Đơn đăng ký tham gia hội thảo phả
i được gửi lên Ban thư ký
của USITC chậm nhất là 3 ngày trước khi buổi hội thảo diễn ra.
Trong buổi hội thảo, các bên ủng hộ và phản đối đơn kiện sẽ có 5 phút cho
mỗi bên để tóm tắt luận điểm của mình. Tiếp theo đó, mỗi bên sẽ có một tiếng

mức độ tin cậy, hoặc giá trị
của các thông tin này.

* Tổng kết và biểu quyết
USITC sẽ tổ chức một buổi tổng kết và biểu quyết công khai, 3 ngày sau
khi nhận được ý kiến bình luận nêu trên của các bên có liên quan và 6 ngày
trước khi kết thúc thời hạn điều tra. Trước khi biểu quyết, USITC sẽ một lần nữa
xem xét lại toàn bộ hồ sơ và có thể yêu cầu ban điều tra tóm tắt lại quá trình điều
tra.

* Phán quyết và quan điểm của USITC
Theo qui định, USITC phải đệ trình phán quyết chính thức lên ban thư ký
của DOC trong vòng 120 ngày sau khi nhận được thông báo về kết luận sơ bộ
của DOC hoặc 45 ngày sau khi nhận được thông báo về kết luận chính thức của
DOC. Trong cùng thời gian này, USITC phải trình bày quan điểm bằng văn bản
về lý do đưa ra phán quyết đó. Các văn bản này cùng được chuyển cho các bên
liên quan.
Sau khi xem xét phán quyết chính thức và bản giải trình c
ủa USITC, DOC
sẽ đưa ra quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu
thuộc diện điều tra và đưa ra một mức thuế tương đương với tỉ lệ bán phá giá.
Lưu ý : Tuy nhiên, có một điểm cần lưu ý rằng, mức thuế mà DOC đưa ra
vào thời điểm này không phải là mức thuế thực sự mà hàng hoá nhập khẩu phải
chịu. Ta có thể xem xét một ví dụ: DOC phát hiện thấy hàng nhập khẩu được
bán với tỉ lệ bán phá giá là 5%. Sau khi USITC đưa ra phán quyết chính thức là
có thiệt hại vật chất, DOC sẽ ra quyết định áp dụng mức thuế chống bán phá giá
v
ới hàng hoá đó là 5%. Từ thời điểm này, mặt hàng trên, khi nhập khẩu vào Mỹ,
sẽ phải chịu thêm một mức thuế 5%. Nhà nhập khẩu sẽ phải đặt cọc một số tiền
tương đương với mức 5% trên cho Cục Hải quan của Mỹ khi làm thủ tục nhập

Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) và Uỷ ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ
(USITC).
A. Giá trị thông thường ( Normal value )
Giá trị thông thường, nói một cách đơn giản, là giá của sản phẩm thuộc
diện đ
iều tra được bán tại một thị trường khác ngoài Mỹ.
Giá trị thông thường là một khái niệm quan trọng, có tính quyết định đến
phương pháp tính mức bán phá giá cũng như kết quả hay mức thuế chống bán
phá giá sẽ được áp dụng.
Việc tiến hành xác định “giá trị thông thường” do DOC tiến hành và có 5
phương pháp để xác định khái niệm này :
(1) Giá thị trường nước xuất khẩu
(2) Giá thị trường nướ
c thứ ba
(3) Giá dự tính
(4) Giá của nền kinh tế phi thị trường
(5) Giá xây dựng theo các dữ liệu sẵn có

(1) Giá trị thông thường = Giá thị trường nước xuất khẩu
Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất. Giá trị thông thường
được tính trên cơ sở giá bán của sản phẩm xuất khẩu tại thị trường nước xuất
khẩu. Nói cách khác, một s
ản phẩm sẽ bị coi là bán phá giá nếu giá xuất khẩu
của sản phẩm đó vào thị trường Mỹ thấp hơn giá bán lẻ ( giá bán cho người tiêu
dùng) cũng của sản phẩm đó hoặc sản phẩm tương tự tại thị trường nước xuất
khẩu. Trên cơ sở giá CIF, DOC sẽ trừ đi các khoản phí như cước vận chuyển,
phí giao dịch, hoa hồng, và các chi phí bán hàng có liên quan khác. Mục đích
của DOC là muốn so sánh trên cơ sở giá xuất xưởng.

(2) Giá trị thông thường = Giá thị trường của nước thứ ba


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status