Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động CTTC của công ty TNHH một thành viên cho thuê tài chính ngân hàng á châu nói riêng và thị trường cho thuê tài chính việt nam nói chung - Pdf 98

LỜI MỞ ĐẦU
Từ lâu, cho thuê tài chính đã xuất hiện ở Việt Nam nhưng hầu như mức độ
phổ biến và sử dụng dịch vụ tại các doanh nghiệp chưa nhiều. Ở các quốc gia
khác trên thế giới, cho thuê tài chính là một trong những nguồn cung cấp vốn
chủ yếu cho các máy móc thiết bị tại doanh nghiệp, được xem là một yếu tố thúc
đẩy công nghiệp phát triển. Paul Getty - tỷ phú dầu mỏ Mỹ đã từng nói “Cái gì
sẽ tăng giá thì hãy mua, cái gì sẽ mất giá thì hãy đi thuê”. Do đó, cho thuê tài
chính sẽ là giải pháp tối ưu cho doanh nghiệp nhằm tiết kiệm chi phí đầu tư,
nhanh chóng thay đổi, cập nhật công nghệ mới, đặc biệt là với tốc độ phát triển
của khoa học công nghệ ngày nay, giá cả các máy móc thiết bị có xu hướng tốt
và rẻ hơn.
1. Tên đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động CTTC của Công ty
TNHH một thành viên cho thuê tài chính Ngân hàng Á Châu nói riêng và thị
trường cho thuê tài chính Việt Nam nói chung.
2. Mục đích nghiên cứu của Báo Cáo.
- Hệ thống và làm rõ hơn một số vấn đề cơ bản về cho thuê tài chính.
- Đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động cho thuê tài chính của Công ty
TNHH một thành viên cho thuê tài chính Ngân hàng Á Châu
- Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho
Công ty TNHH một thành viên cho thuê tài chính Ngân hàng Á Châu nói riêng
và thị trường cho thuê tài chính Việt Nam nói chung.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động tài chính và những vấn đề liên
quan đến cho thuê tài chính.
- Phạm vi nghiên cứu: Lấy thực tế tại Công ty TNHH một thành viên cho
thuê tài chính Ngân hàng Á Châu năm 2009, 2010 và 2011 làm cơ sở minh
chứng.
Trang 1 / 57
PHẦN I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN TRONG
HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH.
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của cho thuê tài chính.

trợ cho các hoạt động thuê mua ở Anh và năm 1993, tổng giá trị ngành công
nghiệp thuê mua đạt 49 Tỷ Bảng.
Nguyên nhân chính thúc đẩy các hoạt động cho thuê tài chính phát triển
nhanh là do nó thể hiện hình thức tài trợ có tính chất an toàn cao tiện lợi, và hiệu
quả cho các bên giao dịch.
1.2. Những vấn đề cơ bản của Hoạt động cho thuê tài chính.
1.2.1. Khái niệm.
Theo Nghị định số 16/NĐ-CP ngày 02/05/2001 của chính phủ thì khái niệm
cho thuê tài chính được hiểu như sau:
Cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng và dài hạn, thông qua việc
cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên
cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê và bên thuê. Bên cho thuê cam kết
mua máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu
cầu của bên mua và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê. Bên thuê sử
dụng tài sản thuê và thanh toán thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên
thoả thuận.
1.2.2. Đặc điểm của cho thuê tài chính.
- CTTC là một hoạt động tín dụng trung và dài hạn giữa bên cho thuê tài
sản và bên đi thuê tài sản.
- Trong thời hạn cho thuê, các bên không được đơn phương hủy bỏ hợp
đồng.
- Trong thời gian cho thuê, tài sản thuộc quyền sở hữu tài sản của công ty
cho thuê. Khi kết thúc thời hạn cho thuê, bên đi thuê có thể mua lại hoặc tiếp tục
thuê.
Trang 3 / 57
- CTTC là hoạt động tín dụng mà bên đi thuê không cần bỏ toàn bộ số tiền
cùng một lúc để thuê và cũng không cần tài sản thế chấp, không làm ảnh hưởng
đến hạn mức tín dụng của doanh nghiệp ở ngân hàng.
- Đối tượng CTTC chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các công ty
chưa có đủ điều kiện vay vốn của ngân hàng.

nhiệm giám sát và kiểm soát việc tuận thủ các quy định của pháp luật, đồng thời
công nhận tính hợp pháp của giao dịch thuê mua, quyền sở hữu pháp lý đối với
tài sản và xét sử, giải quyết các tranh chấp.
f) Hệ thống các văn bản pháp luật
Là các văn bản luật, hoặc dưới luật, các văn bane quy phạm pháp luật “ chi
phối” các hoạt động cho thuê tài chính, quy định trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền
lợi của tất cả các bên có liện quan đến hoạt động thuê mua. Những văn bản này
tạo nên hành lang pháp lý để hoạt động cho thuê tài chính đạt hiệu quả kinh tế
cao.
g) Đối tượng giao dịch trong hoạt động thuê mua
Tất cả các loại tài sản, thiết bị, phương tiện vận tải thường được sử dụng
trong hoạt động cho thuê tài chính, rất đa dạng và phong phú nhưng các đối
tượng này thường chia thành 2 loại chính: động sản và bất động sản.
Tóm lại, tùy theo mỗi phương thức thuê tài chính mà các chủ thể liên quan
có sự liên đới tham gia với những mức độ nhất định hoặc không tham gia vào
những hình thức thuê mua nào đó.
Sơ đồ1.1: Mối liên hệ giữa các bên có liên quan trong một giao dịch
thuê mua tài sản điển hình
Trang 5 / 57
Trang 6 / 57
Người cho thuê
Hợp đồng mua
máy móc, thiết bị
Hợp đồng thuê máy
móc thiết bị
Thế chấp Khoản
tiền vay
Quyền sở hữu
thiết bị
Trả phần tiền thuê máy

loại máy móc thiết bị.
- Chỉ có 2 bên tham gia trực tiếp vào giao dịch: Người cho thuê và người thuê.
- Vốn tài trợ hoàn toàn do người cho thuê đảm nhiệm.
- Người cho thuê có thể mua lại thiết bị khi chúng bị lạc hậu.
Phương thức tài trợ này có sự tham gia của 2 bên được thực hiện như sau:
Sơ đồ 1.2: Cho thuê tài chính có sự tham gia của hai bên
(1) Người cho thuê và người đi thuê ký hợp đồng thuê.
Trang 7 / 57
Giao tài sản ( 2b )
Ký hợp đồng thuê ( 1 )
Thanh toán tiền thuê ( 3 )
BÊN CHO THUÊ BÊN THUÊ
Chuyển giao quyền sử dụng (2a )
(2a) Người cho thuê lập thủ tục chuyển giao quyền sử dụng cho người đi thuê.
(2b) Người cho thuê giao tài sản cho người đi thuê.
(3) Theo định kỳ người đi thuê thanh toán tiền thuê cho người cho thuê.
Ngoài những đặc điểm chung của phương thức cho thuê, loại hợp đồng này
còn có những đặc điểm chính như sau:
Người cho thuê Người thuê
1. Sử dụng các loại máy móc, thiết bị
của chính họ để cho thuê
1. Thuê máy móc, thiết bị từ người có
tài sản đó
2. Đảm nhiệm toàn bộ vốn tài trợ 2. Ký kết với nhà cung cấp 1 phụ kiện
hợp đồng về cung cấp
3. Cung cấp các loại phụ tùng và dịch
vụ bảo tín cùng với thiết bị theo một
hợp đồng phô.
3. Trả tiền thuê theo định kỳ và trả tiền
phụ tùng và dịch vô

người đi thuê).
2a: Người cung cấp lập thủ tục chuyển giao quyền sở hữu cho người cho thuê.
2b: Người cung cấp chuyển giao tài sản cho người đi thuê.
2c: Người cho thuê thanh toán tiền mua tài sản.
2d: Người cho thuê lập thủ tục chuyển giao quyền sử dụng cho người đi thuê.
3: Phương thức cho thuê theo định kỳ người đi thuê thanh toán tiền thuê
cho người cho thuê.
Phương thức tài trợ có sự tham gia của ba bên còn được gọi là phương thức
thuê mua thuần (net lease) và là phương thức cho thuê tài chính được áp dụng
phổ biến nhất, vì có các ưu điểm sau:
- Người cho thuê không phải mua tài sản trước và như vậy sẽ làm cho vòng
quay của vốn nhanh hơn vì không phải dự trữ hàng tồn kho.
- Việc chuyển giao tài sản được thực hiện trực tiếp giữa người cung cấp và
người đi thuê và giữa họ cũng chịu trách nhiệm trực tiếp về tình trạng hoạt động
của tài sản, cũng như thực hiện việc bảo hành và bảo dưỡng tài sản. Như vậy
người cho thuê có thể trút bỏ gánh nặng về tình trạng hoạt động của tài sản.
- Người cho thuê không trực tiếp nhận tài sản rồi sau đó chuyển giao cho
người đi thuê và như vậy sẽ hạn chế được rủi ro liên quan đến việc từ chối nhận
hàng của người đi thuê, vì do có sự nhầm lẫn về mặt kỹ thuật.
Trang 9 / 57
Xuất phát từ các ưu điểm trên đây mà các ngân hàng và các tổ chức tài
chính đã áp dụng chủ yếu phương thức này để tài trợ cho các doanh nghiệp, đặc
biệt đối với cho thuê thiết bị. Trên thế giới 80% hợp đồng cho thuê tài chính áp
dụng theo phương thức này.
1.3.3. Tái cho thuê (lease back).
Tái cho thuê hay còn gọi là bán và thuê lại (Sale and lease back) là một
dạng đặc biệt của phương thức cho thuê có sự tham gia của hai bên. Trong hoạt
động kinh doanh có nhiều doanh nghiệp thiếu vốn lưu động để khai thác tài sản
cố định hiện có, nhưng lại không đủ uy tín để vay vốn lưu động ở các ngân hàng.
Trong trường hợp đó họ buộc phải bán lại một phần tài sản cố định cho ngân

Trong trường hợp tài sản có giá trị lớn, nhiều định chế tài chính hay các nhà chế
tạo cùng nhau hợp tác để tài trợ cho người thuê tạo thành sự liên kết theo chiều
ngang. Còn đối với trường hợp các định chế tài chính hay các nhà chế tạo lớn
giao tài sản của họ cho chi nhánh của họ thực hiện giao dịch tài trợ cho khách
hàng thì hình thành sự liên kết theo chiều dọc. Các bước và đặc điểm trong giao
dịch với người thuê của loại hợp đồng này không có khác biệt lớn so với phương
thức cho thuê điển hình.
1.3.5. Hợp đồng cho thuê bắc cầu:
Đây là hình thức đặc biệt của phương thức cho thuê tài chính, chỉ mới được
phổ biến trong thời gian gần đây, xuất phát từ thực tế là các công ty Leasing có
những hạn chế về nguồn vốn không đủ khả năng tự tài trợ cho khách hàng. Theo
thể thức cho thuê này, người cho thuê đi vay để mua tài sản cho thuê từ một hay
nhiều người cho vay nào đó.
Hình thức cho thuê này thường được sử dụng trong những giao dịch cho
thuê đòi hỏi một lượng vốn đầu tư lớn, chẳng hạn cho thuê một máy bay thương
mại hay một tàu chở hàng hoặc 1 tổ hợp chuyên ngành lớn v.v
Trang 11 / 57
Trong hình thức cho thuê này, vốn vay thường chiếm tỷ trọng lớn trong
tổng số tiền tài trợ, người cho thuê vẫn đóng vai trò chủ sở hữu tài sản cho thuê
và thông thường người cho thuê phải thế chấp chính tài sản mà họ đã cho thuê
cho người cho vay. Hình thức thế chấp tài sản cho thuê này sẽ làm giảm nhẹ rủi
ro cho người cho vay.
1.3.6. Cho thuê giáp lưng (Under lease):
Cho thuê giáp lưng là phương thức mà trong đó, thông qua sự đồng ý của
người cho thuê, người đi thuê thứ nhất cho người đi thuê thứ hai thuê lại tài sản
đó. Trên thực tế thực chất người đi thuê thứ nhất chỉ là người trung gian giữa
người cho thuê và người đi thuê thứ hai, nhưng về mặt pháp lý thì người đi thuê
thứ nhất phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện hợp đồng với người cho thuê.
Với phương thức cho thuê này, mặc dù doanh nghiệp không đủ điều kiện để trực
tiếp thuê mua với người cho thuê, vẫn có thể thuê được tài sản để sử dụng cho

huy động từ nước ngoài. Huy động có hiệu quả vốn đầu tư đòi hỏi rất nhiều kênh
huy động khác nhau phối hợp đồng thời; bao gồm hệ thống tín dụng; ngân sách
nhà nước và thị trường chứng khoán. Không thể phủ nhận vai trò tối quan trọng
của hệ thống tín dụng trong việc huy động vốn nhàn rỗi và giải ngân vốn đầu tư
nước ngoài. Là loại hình tín dụng trung dài hạn có nhiều ưu điểm, thể hiện ở sự
giảm thiểu rủi ro và phạm vi tài trợ rộng rãi, cho thuê tài chính góp phần không
nhỏ vào việc huy động vốn đầu tư trong nước và tìm nguồn tài trợ từ nước ngoài.
Với việc quy định của IMF không tính khoản nợ từ tài sản cho thuê tài chính
quốc tế vào khoản nợ nước ngoài của 1 quốc gia, hoạt động này càng có khả
năng trở thành một kênh thu hút vốn đầu tư nước ngoài hấp dẫn.
- Cho thuê tài chính góp phần phát triển hệ thống tài chính
Một hệ thống tài chính hoàn thiện phải tồn tại các kênh dẫn vốn hoạt động
hiệu quả. Xét riêng về số lượng, cho thuê tài chính đã đóng góp vào thị trường
tài chính một kênh dẫn vốn trung dài hạn quan trọng. Hơn nữa, trong điều kiện
các quốc gia đang phát triển, khi thị trường chứng khoán còn ở dạng sơ khai, sự
thiếu hút nghiêm trọng nguồn cung cấp vốn trung dài hạn là không thể phủ nhận,
vì thế, cho thuê tài chính càng có vai trò lớn đối với những nền kinh tế này. Về
Trang 13 / 57
mặt chất, cho thuê tài chính là một kênh dẫn vốn hấp dẫn, nguyên nhân là ở
phạm vi tài trợ rộng lớn, cung ứng đến mọi khu vực, thành phần kinh tế rất có lợi
đối với khách hàng, đồng thời giảm bớt rủi ro của người cho thuê, áp dụng hình
thức cho thuê tài chính trong nền kinh tế và đặc biệt là việc hình thành các công
ty cho thuê tài chính chuyên doanh, tách khỏi hoạt động của các ngân hàng
thương mại càng tạo điều kiện phát triển hệ thống tài chính quốc gia. Cụ thể, các
công ty cho thuê tài chính chuyên doanh sẽ cung cấp dịch vụ hữu hiện hơn hẳn
những đơn vị trực thuộc, tạo sức cạnh tranh đáng kể trong thị trường tài chính,
thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực tiền tệ ngân hàng.
- Cho thuê tài chính góp phần nâng cao năng lực công nghệ đất nước
Đối với các quốc gia đang phát triển, việc lạc hậu về công nghệ luôn luôn là
vấn đề gây đau đầu các nhà quản lý; cho thuê tài chính quốc tế sẽ tạo ra cơ hội

những khoản tài trợ ngắn hạn.
- Cơ chế thanh toán tiền thuê linh hoạt
Không như các ngân hàng thương mại bị yêu cầu thanh khoản đòi hỏi sự
quản lý chặt chẽ đối với việc thanh toán tiền vay, cho thuê tài chính có thể đưa ra
một cơ cấu trả nợ linh hoạt đáp ứng những dòng tiền đặc thù của người thuê. Ví
dụ cho thuê trả tăng dần, giảm dần, niên kim cố định. Việc thanh toán diễn ra
theo mùa hoặc ngắt quãng; Thời hạn thanh toán cũng linh hoạt, có thể định kỳ
theo quý hoặc theo tháng.
- Không cần tài sản thế chấp
Đây là ưu điểm nổi bật của cho thuê tài chính - sử dụng ngay tài sản thuê
làm vật thế chấp. Nguyên tắc tài sản thế chấp trong tín dụng ngân hàng để tránh
sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Tài sản thuê trong cho thuê tài chính
không đủ tính lỏng để người thuê có thể sử dụng sai mục đích. Mặt khác, tài sản
luôn thuộc quyền sở hữu của người cho thuê nên rủi ro mất vốn không lớn.
- Người thuê có thể tiếp cận với công nghệ hiện đại
Các công ty cho thuê tài chính chuyên môn hoá trong lĩnh vực của họ nên
thường am hiểu kĩ về thị trường tài sản và thường được phép xuất nhập khẩu
trực tiếp. Nhờ đó người thuê có thể tiếp cận với nhà sản xuất và những sản phẩm
tiên tiến, hiện đại; tạo ra khả năng đổi mới công nghệ nhanh chóng với chi phí
Trang 15 / 57
thấp - đây là điều đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt hiện nay
- cùng với những dịch vụ đào tạo, hướng dẫn, bảo trì… kèm theo của nhà cung
cấp. Mặt khác, mối quan hệ kinh doanh cùng với những kinh nghiệm về thị
trường tài sản của công ty cho thuê tài chính cho phép người thuê có thể bán tài
sản cũ, tài sản không sử dụng để đổi mới công nghệ.
c) Về phía người cho thuê
- Cho thuê tài chính có mức độ rủi ro thấp hơn cho vay
Trong suốt thời hạn thuê, người cho thuê vẫn nắm quyền sở hữu tài sản
thuê nên họ có thể nhanh chóng chiếm hữu lại tài sản nếu người thuê không tuân
thủ hợp đồng. Như vậy, có thể coi tất cả các hợp đồng cho thuê tài chính đều có

tài chính đầu tư, công ty tài chính tư vấn vẫn được phép thực hiện hoạt động
CTTC như là một nghiệp vụ phụ bên cạnh hoạt động kinh doanh chính. Doanh
thu từ hoạt động CTTC tăng đáng kể qua các năm. cụ thể chỉ sau khi thành lập 1
năm thì doanh số CTTC là 13,2 triệu USD (năm 1981) thì đến năm năm 1987
con số này gần 1 tỷ USD. Như vậy chỉ sau 6 năm đưa vào vận hành hoạt động
CTTC doanh số CTTC đã đạt 3 tỷ USD.
Trong nghiệp vụ CTTC, các công ty CTTC ở Trung Quốc thực hiện tài trợ
toàn bộ giá trị của tài sản thuê trong đó bên thuê được quyền chọn những tài sản
cho thuê cho đến hết thời hạn hợp đồng và được trích khấu hao tài sản thuê.
Điều đặc biệt là hoạt động CTTC chịu sự chi phối bởi kế hoạch và chính
sách của Nhà nước. Ngay cả nguồn vốn đưa ra và lịch thanh toán nợ đều dựa
trên kế hoạch nhà nước. Và để tránh việc đầu tư vào những máy móc thiết bị lạc
hậu, lỗi thời và không phục vụ cho sự tăng trưởng kinh tế của đất nước, Chính
phủ quy định thiết bị cho thuê phải được đưa vào danh mục quản lý của Nhà
nước hoặc kế hoạch của địa phương và là đối tượng phải được sự chấp thuận của
Nhà nước hoặc các cơ quan quản lý. Đồng thời Chính phủ quy định tất cả các
công ty CTTC phải tìm một nhà cung cấp thích hợp, nắm được giá cả cung ứng
thiết bị cũng như chất lượng, công nghệ và các đặc tính kỹ thuật khác của các
máy móc thiết bị đó. Thậm chí, công ty CTTC còn phối hợp với bên cung ứng để
huấn luyện cho bên thuê cách sử dụng và vận hành tài sản.
Ngoài ra, Chính phủ thực hiện cải tổ, sắp xếp lại toàn diện nền kinh tế,
khuyến khích đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực tài chính dưới hình thức các công
Trang 17 / 57
ty CTTC liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài nhằm tận dụng nguồn vốn, kỹ
thuật và kinh nghiệm quản lý tiên tiến.
Mặt khác, bằng việc tạo dựng được môi trường pháp lý thuận lợi và ban
hành chính sách khuyến khích sự phát triển của loại hình dịch vụ này thích hợp
như: Các công ty CTTC được miễn thuế thu nhập DN trong hai năm đầu và sau
năm thứ ba nếu có lợi nhuận mới phải nộp thuế, quy định thuế suất thuế lợi tức
ưu đãi đối với dịch vụ CTTC và một loạt các văn bản khác đã làm cho thị trường

móc trong nước chiếm 59,1% với số tiền 5,4 tỷ USD. Điều này đã nói CTTC đã
đóng góp vào sự phát triển của ngành sản xuất máy móc trong nước.
Tiêu chuẩn xử lý kế toán trong CTTC được Chính phủ ban hành vào ngày
01/01/1985 và được sửa đổi vào tháng 3/1993, trường hợp giá trị hiện tại của phí
cho thuê áp dụng là trên 90% giá chính thức thì có khả năng khấu hao thiết bị
trong thời gian thuê. Một trong những nhân tố giúp hoạt động CTTC tại Hàn
Quốc thoát ra khó khăn quản lý bằng việc tăng cường tiêu chuẩn kế toán. Ngày
18/03/2005, Uỷ ban tiêu chuẩn kế toán- Viện nghiên cứu kế toán Hàn Quốc công
bố và thông qua bản tiêu chuẩn kế toán doanh nghiệp và tiêu chuẩn này cũng áp
dụng đối với bản hợp đồng cho thuê. Như vậy, có thể khẳng định hoạt động
CTTC ở Hàn Quốc phát triển nhanh là do những nguyên nhân sau:
Thứ nhất, có sự tham gia của Chính phủ trong việc có định hướng về cơ cấu
tài sản cho thuê, áp dụng chính sách tiền tệ chặt chẽ, hạn chế tín dụng ngân hàng
đối với các tập đoàn kinh tế lớn nên những quy định thông thoáng của CTTC
giúp ngành này trở nên hấp dẫn.
Thứ hai, thực hiện khuyến khích đầu tư và ưu đã thuế. Chính phủ chủ động
hỗ trợ ngành công nghiệp này phát triển bằng những chính sách thuế, hạch toán
khấu hao tài sản và quy định nhiều quyền có lợi cho bên cho thuê.
Thứ ba, có hệ thống pháp lý điều chỉnh hoạt động CTTC và được cụ thể
hoá thành luật. Đồng thời quy định rõ ràng việc xử lý kế toán nghiệp vụ kế toán
CTTC.
Thứ tư, khuyến khích phát triển các DNNVV cùng với nền kinh tế phát
triển như vũ bão kéo theo nhu cầu lớn về vốn cho việc đầu tư, đổi mới máy móc
thiết bị, công nghệ sản xuất.
Thứ năm, khuyến khích sự tham gia của các nhà đầu tư của người nước
ngoài.
Trang 19 / 57
3. Malaysia
Ở Malaysia, hoạt động CTTC cũng được thành lập năm 1974 và phát triển
nhanh chóng vào cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ trước. Tuy

chứng khoán không thanh toán được tiền lãi hoặc vốn gốc hoặc cả hai. Tương tự,
rủi ro tín dụng trong hoạt động cho thuê tài chính là khả năng xảy ra tổn thất
( trực tiếp hoặc gián tiếp) xuất phát từ việc bên thuê không thực hiện nghĩa vụ trả
nợ đúng như cam kết trong hợp đồng cho thuê tài chính hoặc mất khả năng thanh
toán.
b) Tác hại của rủi ro tín dụng
- Làm tăng chi phí, giảm lợi nhuận, ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng vốn.
- Làm tăng rủi ro thanh khoản.
- Làm giảm uy tín.
- Làm tăng rủi ro mất vốn.
c) Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng trong hoạt động cho thuê
tài chính.
- Nguyên nhân từ phía khách hàng:
 Đối với khách hàng cá nhân:
 Khách hàng bị suy giảm năng lực hành vi dân sự.
 Khách hàng bị suy giảm năng lực tài chính.
 Do khách hàng kính doanh nhỏ lẻ.
 Do hoàn cảnh gia đình không thuận lợi.
 Đối với khách hàng doanh nghiệp:
 Do năng lực tài chính của doanh nghiệp yếu kém.
 Do giá trị của tài sản thuê suy giảm quá nhanh.
 Do biến động của thị trường đầu vào và đầu ra.
- Nguyên nhân từ phía Công ty cho thuê tài chính.
 Do Công ty CTTC định kỳ hạn nợ chưa chính xác.
 Do Công ty CTTC cho thuê vượt quá khả năng quản lý của khách hàng.
Do Công ty CTTC thu thập thông tin không đầy đủ và chính xác về khách hàng
thuê, dự án thuê và tình hình thị trường.
 Do Công ty CTTC thiếu kiểm tra, giám sát trước, trong và sau giải ngân.
Do có những hạn chế trong quy trình nghiệp vụ của Công ty CTTC.
 Do sự hạn chế về năng lực và đạo đức của cán bộ.

là:
- Sự mất mát và hư hỏng tài sản: Mặc dù hợp đồng thuê tài chính có điều
khoản quy định: Bên đi thuê có trách nhiệm bảo quản và chịu trách nhiệm về
những rủi ro liên quan đến mất mát và hư hỏng tài sản. Khi rủi ro này xảy ra sẽ
ảnh hưởng đến sản xuất và tất yếu làm giảm khả năng thanh toán của người đi
thuê.
Trang 22 / 57
- Tài sản thuê không có khả năng luân chuyển khi người đi thuê trả lại: Sau
khi kết thúc hợp đồng cho thuê tài chính, bên đi thuê có thể trả lại tài sản và
người cho thuê có thể bán hoặc cho thuê tiếp. Tuy nhiên, nếu thị trường không
chấp nhận tài sản này hoặc chấp nhận với mức giá thấp hơn mức tối thiểu cần
phải thu hồi thì bên cho thuê phải gánh chịu rủi ro.
Trang 23 / 57
PHẦN II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ
TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH
VIÊN CHO THUÊ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG Á
CHÂU.
2.1. Lịch sử hình thành của ACB Leasing.
Công ty TNHH một thành viên cho thuê tài chính Ngân hàng Á Châu
( dưới đây được gọi là Công ty) là một tổ chức tín dụng phi ngân hàng trực thuộc
Ngân hàng Á Châu, do Ngân hàng Á Châu làm chủ sở hữu và chịu trách nhiệm
về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của Công ty trong phạm vi số vốn
điều lệ của Công ty.
− Tên đầy đủ tiếng việt: Công ty TNHH một thành viên cho thuê tài
chính Ngân hàng Á Châu.
− Tên viết tắt bằng tiếng Việt: Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Á
Châu.
− Tên đầy đủ bằng tiếng Anh: Asia Commercial Bank Leasing Company
Limited.
− Tên viết tắt bằng tiếng Anh: ACBL.Co.,Ltd.

− Ban kiểm soát;
− Tổng giám đốc và các Phó tổng giám đốc;
− Kế toán trưởng;
Cơ cấu tổ chức của các đơn vị trực thuộc do Tổng giám đốc tham mưu trình
Hội đồng quản trị Công ty quyết định phù hợp với nhu cầu thực tế và quy định
của pháp luật.
− Hội đồng quản trị Công ty gồm 3 thành viên, bao gồm Chủ tịch, Phó chủ
tịch và Ủy viên Hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị công ty gồm 2 thành viên
chuyên trách và 1 thành viên kiêm nhiệm.
− Ban kiểm soát là cơ quan kiểm tra hoạt động tài chính của Công ty; giám
sát việc chấp hành chế độ hạch toán, hoạt động của hệ thống kiểm tra, kiểm soát
nội bộ của Công ty. Số lượng thành viên Ban Kiểm Soát gồm 3 thành viên, bao
gồm 2 thành viên chuyên trách và một thành viên kiêm nhiệm.
Trang 25 / 57
HỘI ĐỒNG
QUẢN TRỊ
BAN TỔNG
GIÁM ĐỐC
BAN KIỂM SOÁT
KIỂM SOÁT NỘI BỘ
TRỢ LÝ
BAN TÍN DỤNG
KINH DOANH
HỖ TRỢ
VẬN HÀNH
Phòng
kinh
doanh 1
Phòng
kinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status