Cơ sở khoa học áp dụng thuế chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu ở Việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 60

BỘ THƯƠNG MẠI
Vụ CSTM Đa biên
ĐỀ TÀI CẤP BỘ
Mã số: 2001-78-030
Cơ sở khoa học áp dụng thuế
chống bán phá giá đối với hàng
nhập khẩu ở Việt nam trong bối
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Cơ quan chủ trì: Vụ CSTM Đa biên . Bộ Thương mại
Chủ nhiệm Đề tài: Th.s Nguyễn Thanh Hưng
Hà nội, 8/2002
LỜI NÓI ĐẦU
Từ khi thực hiện chính sách .mở cửa. vào năm 1986 đến nay nhiều thay đổi to lớn về
chính sách thương mại đã diễn ra. Nhiều văn bản pháp lý quan trọng liên quan tới thương mại
đã được ban hành như Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Luật Đầu tư nước ngoài, Luật
Thương mại, Nghị định số 57/NĐ-CP, Quyết định số 46/QĐ-TTg, v.v. Kinh tế Việt Nam phát
triển khá nhanh và ổn định. Đồng thời chính sách thương mại đã khá tự do, nhiều hàng rào phi
thuế quan đối với hàng nhập khẩu được giảm đáng kể.
Về quan hệ kinh tế đối ngoại, từ năm 1995 đến nay Việt Nam đã tích cực tham gia quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế. Việt Nam tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á
(ASEAN) và Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) năm 1995, Diễn đàn Hợp tác á - Âu
(ASEM) năm 1996, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu á - Thái bình dương (APEC) năm 1998.
Tháng 7/2000, Hiệp định Thương mại song phương giữa Việt Nam và Hoa kỳ đã được ký kết
và bắt đầu có hiệu lực từ 11/12/2001. Hiện nay Việt Nam đang tích cực đàm phán gia nhập Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO) và đang tiến hành xây dựng chính sách thương mại phù
hợp với qui định của WTO.
Cùng với việc thực hiện đường lối chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, trong hơn một
thập kỷ qua Việt Nam đã đạt được thành tựu khá ngoạn mục trong việc đẩy mạnh xuất khẩu
hàng hóa. Trong khi một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam ngày càng có uy tín trên thị
trường thế giới, đã xuất hiện một số trường hợp hàng xuất khẩu của ta bị nước nhập khẩu điều
tra và áp dụng thuế chống bán phá giá.

thiệt hại cho lợi ích tổng thể toàn xã hội trong trường hợp lợi ích đem lại cho nhà sản xuất
không đủ bù đắp cho thiệt hại của người tiêu dùng mặt hàng bị đánh thuế chống bán phá giá.
Chương I cũng giới thiệu các điều kiện áp dụng thuế chống bán phá giá trong thương
mại quốc tế và thủ tục điều tra phá giá theo qui định của Hiệp định Chống bán phá giá của
WTO. Nguyên tắc đánh thuế chống bán phá giá rất đơn giản: giá trị thuế không được vượt quá
mức chênh lệch giữa giá trị thông thường (giá bán sản phẩm tương tự ở thị trường nước xuất
khẩu) và giá xuất khẩu. Nhưng trên thực tế để so sánh được hai giá trị này một cách chính xác
và công bằng thì cần phải qui định thủ tục điều tra và cách tính rất chi tiết. Ngoài ra để áp
dụng được thuế chống bán phá giá cần phảI có qui định chặt chẽ về cách đánh thuế, truy thu
thuế, hoàn thuế và khiếu nại. Hiệp định Chống bán phá giá của WTO đưa ra qui định về tất cả
các thủ tục đó và tất cả các nước thành viên WTO đều phải ban hành luật quốc gia về chống
bán phá giá phù hợp với Hiệp định này.
Chương II giới thiệu tổng quan về tình hình áp dụng thuế chống bán phá giá trên thế
giới. Mặc dù thuế chống bán phá giá bắt đầu được áp dụng ở các nước phát triển như Hoa kỳ,
Canada nhưng ngày càng được áp dụng rộng rãi ở các nước đang phát triển như Braxin, ấn độ,
Malaysia, v.v. Thực tiễn áp dụng loại thuế này ở một số nước thành viên WTO như Hoa kỳ,
Canada, EU và Thái lan cho thấy nguyên tắc điều tra phá giá của các nước này về cơ bản đều
phù hợp với qui định của WTO. Tuy nhiên, tổ chức bộ máy điều tra phá giá và cách thu thuế
chống bán phá giá ở các nước này có một số khác biệt. Việc nghiên cứu những khác biệt này
rất có ích cho việc triển khai áp dụng thuế chống bán phá giá ở nước ta.
Chương III phân tích quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khả năng áp dụng thuế
chống bán phá giá của Việt Nam. Việc mở cửa thị trường dẫn đến nhu cầu bảo hộ sản xuất
trong nước bằng các công cụ mới ngày càng tăng, đặc biệt là công cụ thuế chống bán phá giá.
Nhưng áp dụng thuế chống bán phá giá là một vấn đề rất phức tạp. Để có thể triển khai áp
dụng được thuế chống bán phá giá trước hết cần phải ban hành văn bản quy phạm pháp luật về
loại thuế này, sau đó cần tổ chức các cơ quan thực thi chống phá giá và đào tạo nguồn nhân
lực.
Sau khi nghiên cứu cơ sở khoa học và một số mô hình áp dụng thuế chống bán phá giá
điển hình ở một số nước trên thế giới, căn cứ vào điều kiện thực tế của Việt Nam, đề tài đưa
ra kiến nghị về việc áp dụng thuế chống bán phá giá ở Việt Nam, bao gồm những vấn đề sau:

bằng: giá nội địa là giá nào? Là giá bán buôn hay bán lẻ? Giá xuất khẩu là giá nào?
v.v...
- Thuế chống bán phá giá: là một sắc thuế mà nước nhập khẩu đánh vào một mặt hàng
nhập khẩu được bán phá giá với mục đích ngăn cản sự tiếp diễn của việc bán phá giá
đó để tránh gây thiệt hại cho ngành sản xuất mặt hàng tương tự ở trong nước.
2. ý nghĩa kinh tế của việc bán phá giá
Tác động của việc bán phá giá được đánh giá một cách đơn giản theo hình dưới đây.
Trước khi có việc hàng của nước khác được bán vào thị trường một nước với giá thấp hơn giá
hiện hành, cung và cầu mặt hàng đó cân bằng ở điểm E, với giá P1 và lượng tiêu thụ Q1, hoàn
toàn là hàng sản xuất trong nước. Tuy nhiên, khi có nguồn hàng nước ngoài bán với giá thấp
hơn là P2, lượng tiêu thụ tăng lên Q2, trong đó lượng hàng sản xuất trong nước giảm xuống
chỉ còn Q’2, lượng hàng nhập khẩu là Q2-Q’2.
Từ hình này cho thấy thặng dư của người tiêu dùng tăng thêm một lượng bằng diện
tích hình thang ABDE, trong khi đó thặng dư của nhà sản xuất trong nước giảm một lượng
bằng diên tích hình thang ABCE. Như vậy có thể thấy tác động của việc bán phá giá là: gây
thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa nhưng lại mang lại lợi ích cho người tiêu dùng. Về tổng
thể, toàn xã hội được lợi bằng diện tích tam giác CDE.
Xuất phát từ thành kiến cố hữu, việc "bán phá giá" thường được coi là có tác động tiêu
cực, thường vì lý do làm giảm lợi nhuận của những người bán hàng khác hoặc gây thiệt hại
cho các nhà sản xuất cùng một mặt hàng của nước nhập khẩu, cho nên người ta thường tìm
biện pháp để chống lại hành động này. Tuy nhiên, cần phải có sự phân tích thấu đáo bản chất
của mọi trường hợp bán phá giá để xem có phải tất cả mọi hành động bán phá giá đều có hại
hay không để từ đó có biện pháp đối phó thích ứng.
Có thể hình dung các trường hợp bán phá giá sau đây:
Thứ nhất, giá xuất khẩu thấp hơn giá thị trường nội địa nước xuất khẩu nhưng vẫn cao hơn
chi phí sản xuất;
Thứ hai, giá xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất và tất nhiên là thấp hơn giá thị trường
trong nước. Trong trường hợp này còn có thể xảy ra một số tình huống khác
nhau, tuỳ thuộc vào định nghĩa chi phí sản xuất: chi phí bình quân hay chi phí
"chi phí lề".

thâm nhập một thị trường. Khi nhu cầu của thị trường bị giảm, kéo theo giá thị trường giảm,
và các hãng theo đó cũng phải giảm giá bán. Nếu giá bán thấp hơn chi phí bình quân, hãng
đó sẽ bị lỗ. Tuy nhiên, khi một phần chi phí là cố định không phụ thuộc vào lượng sản xuất,
mức độ lỗ sẽ phụ thuộc vào lượng hàng bán ra và vào mức chi phí lề. Nếu giá bán vẫn cao hơn
chi phí lề, hãng vẫn tiếp tục bán với hy vọng sau một thời gian ngắn thị trường sẽ phục hồi,
hoặc chỉ để giảm thiệt hại trước khi rút lui khỏi thị trường đó. Đây là sự phản ứng rất bình
thường của các hãng đối với sự thay đổi của thị trường, kể cả các hãng nước ngoài và hãng
nội địa.Trong trường hợp này, việc áp dụng một biện pháp chống hàng nhập khẩu là bất hợp
lý vì như vậy sẽ đối xử không công bằng giữa hãng nội địa và hãng nước ngoài. Tuy nhiên,
một nước vẫn có thể áp dụng các chính sách hỗ trợ cho các hãng nội địa giảm nhẹ thiệt hại
dưới hình thức các biện pháp tự vệ. Cũng có những trường hợp các hãng bán với giá thấp
hơn chi phí lề. Trong các trường hợp này không thể xem xét hành động của các hãng với mục
tiêu là nhằm tối đa hoá lợi nhuận mà vì các mục tiêu khác.
- Chiếm lĩnh thị trường. Một hãng nước ngoài, với mục tiêu thiết lập vị thế độc quyền ở
thị trường nội địa, thực hiện chính sách bán sản phẩm của mình với giá thấp hơn chi
phí lề cho đến khi đẩy hết các đối thủ cạnh tranh khác ra khỏi thị trường mặt hàng đó.
Sau khi chiếm được thị trường, hãng đó lại nâng giá để khai thác lợi thế độc quyền của
mình. Ngoài tác động làm cho các nhà sản xuất trong nước bị phá sản, hành động này
còn làm giảm lợi ích của toàn xã hội như trong trường hợp độc quyền khác, và do vậy
cần có biện pháp ngăn cản.
- Cạnh tranh giành thị phần. Một trong những biện pháp marketing các hãng có thể sử
dụng để cạnh tranh nhằm tăng thị phần trên một thị trường là bán với giá thấp hơn chi
phí lề trong một thời gian ngắn với hy vọng lượng hàng bán tăng trong tương lai với
giá bình thường sẽ bù đắp phần lỗ.
- Tóm lại, có rất nhiều trường hợp các hãng nước ngoài có thể xuất khẩu hàng của mình
sang thị trường nước khác với giá thấp hơn giá nội địa và thậm chí thấp hơn cả chi phí
sản xuất, nhưng không phải tất cả mọi trường hợp đều có thể gán cho cái tên "bán phá
giá" để áp dụng các biện pháp ngăn cản. Trong nhiều trường hợp làm như vậy chỉ tạo
ra một sự bảo hộ không cần thiết cho ngành sản xuất trong nước, làm giảm lợi ích của
người tiêu dùng cũng như của toàn xã hội.

định chặt chẽ và chi tiết hơn nhiều so với Điều VI của GATT.
Theo Hiệp định này, nước nhập khẩu chỉ được áp dụng các biện pháp chống bán phá
giá khi:
- Hàng nhập khẩu bị bán phá giá;
- Gây thiệt hại về vật chất cho ngành sản xuất trong nước; và
- Cuộc điều tra phá giá được tiến hành theo đúng thủ tục.
Hiệp định Chống bán phá giá của WTO qui định rất chi tiết nguyên tắc xác định phá
giá, cách tính biên độ phá giá và thủ tục điều tra phá giá như sau:
1. Xác định việc bán phá giá
a. Định nghĩa phá giá
Một sản phẩm được coi là bị bán phá giá khi:
- giá xuất khẩu sản phẩm đó thấp hơn giá có thể so sánh được trong điều kiện thương
mại thông thường ("giá trị thông thường")
- của sản phẩm tương tự khi tiêu thụ ở thị trường nước xuất khẩu WTO không đề cập
đến trường hợp bán phá giá sản phẩm tương tự trong thị trường nội địa của một nước.
Sản phẩm tương tự (SPTT): là sản phẩm giống hệt hoặc có các đặc tính gần giống với
sản phẩm là đối tượng điều tra.
Điều kiện thương mại thông thường: không có định nghĩa. Ví dụ: khi giá bán tại thị
trường nội địa nước xuất khẩu thấp hơn giá thành sản xuất thì có thể coi như là không nằm
trong điều kiện thương mại thông thường.
b. Nguyên tắc xác định phá giá:
- Biên độ phá giá (BĐPG) = giá trị thông thường (GTTT) - giá xuất khẩu (GXK) BĐPG >
0 ê có phá giá
- BĐPG có thể tính bằng trị giá tuyệt đối hoặc theo phần trăm theo công thức:
- BĐPG = (GTTT-GXK)/GXK
c. Tính biên độ phá giá
c Cách tính GTTT:
Trường hợp không có giá nội địa của SPTT ở nước xuất khẩu do:
- SPTT không được bán nước xuất khẩu trong điều kiện thương mại thông thường; hoặc
- có bán ở nước xuất khẩu nhưng trong điều kiện đặc biệt; hoặc

- và những yếu tố khác ảnh hưởng đến việc so sánh hai giá
Ví dụ: khi lấy giá bán SPTT cho một người mua độc lập ở nước nhập khẩu làm GXK+ thì
GXK sẽ được xác định bằng cách điều chỉnh như sau:
GXK = (GXK+) - (lợi nhuận) - (các loại thuế + chi phí phát sinh từ khâu nhập khẩu đến khâu
bán hàng)
Cách so sánh:
- Trung bình GTTT so với trung bình GXK; hoặc
- GTTT (từng giao dịch) so với GXK (từng giao dịch); hoặc
- Trung bình GTTT so với GXK (từng giao dịch)
(cách này chỉ được áp dụng khi GXK+ chênh lệch đáng kể giữa những người mua, các vùng
hoặc giữa các khoảng thời gian khác nhau)
Trường hợp SPTT được xuất khẩu sang nước nhập khẩu qua một nước trung gian (nước xuất
khẩu):
- Giá SPTT ở nước xuất khẩu (nước trung gian ) so với giá bán SPTT từ nước xuất khẩu
sang nước nhập khẩu.
Nếu SPTT chỉ đơn thuần được chở từ nước sản xuất qua nước xuất khẩu thì:
- Giá ở nước xuất xứ so với giá bán SPTT từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu.
2. Xác định thiệt hại
2 Định nghĩa thiệt hại:
- Thiệt hại về vật chất đối với một ngành sản xuất trong nước (thiệt hại hiện tại); hoặc
- Nguy cơ gây thiệt hại về vật chất đối với một ngành sản xuất trong nước (thiệt hại tương lai);
hoặc
- Làm trì trệ sự phát triển một ngành sản xuất trong nước (không có qui định cụ thể)
Như vậy, để xác định thiệt hại cần xem xét các nhân tố sau:
(i) Khối lượng hàng nhập khẩu bị bán phá giá: có tăng một cách đáng kể không?
(ii) Tác động của hàng nhập khẩu đó lên giá SPTT: Giá của hàng nhập khẩu đó:
- có rẻ hơn giá SPTT sản xuất ở nước nhập khẩu nhiều không?
- có làm sụt giá hoặc kìm giá SPTT ở thị trường nước nhập khẩu không?
Khi sản phẩm thuộc diện điều tra được nhập khẩu từ nhiều nước: đánh giá gộp tác động nếu
BĐPG >= 2% GXK và khối lượng hàng nhập khẩu từ mỗi nước >= 3% khối lượng nhập khẩu

Ngành sản xuất trong nước là toàn bộ các nhà sản xuất trong nước sản xuất ra SPTT hoặc
một số nhà sản xuất có sản lượng chiếm đa số tổng sản lượng trong nước Có thể xuất hiện một
số trường hợp đặc thù dẫn tới việc xác định cụ thể ngành sản xuất trong nước sau:
- Nhà sản xuất và nhà xuất khẩu/nhập khẩu có liên quan với nhau: ngành sản xuất trong nước
là các nhà sản xuất còn lại.
- Lãnh thổ nước nhập khẩu bị chia thành nhiều thị trường riêng: các nhà sản xuất ở mỗi thị
trường có thể coi là một ngành sản xuất riêng nếu:
+ bán toàn bộ hoặc phần lớn sản phẩm liên quan ra thị trường đó; và
+ nhu cầu của thị trường đó đối với SPTT nhập khẩu từ nước khác là không đáng kể.
4. Nộp đơn yêu cầu tiến hành điều tra chống phá giá
Việc điều tra nhằm xác định sự tồn tại, mức độ và tác động của một sản phẩm bị bán phá giá
sẽ được tiến hành khi:
- có đơn bằng văn bản của ngành sản xuất trong nước hoặc đại diện cho ngành sản xuất trong
nước đề nghị điều tra phá giá; hoặc
- không có đơn bằng văn bản của ngành sản xuất trong nước hoặc đại diện cho ngành sản xuất
trong nước nhưng cơ quan điều tra có đầy đủ bằng chứng về việc bán phá giá, thiệt hại và mối
liên hệ giữa hai yếu tố này. Đơn đề nghị điều tra phá giá phải bao gồm những thông tin sau:
- Tên người nộp đơn, số lượng và giá trị của sản phẩm tương tự do người nộp đơn sản xuất
trong nước. Nếu đơn được nộp đại diện cho ngành sản xuất trong nước thì đơn phải nêu danh
sách tất cả các nhà sản xuất sản phẩm tương tự trong nước và số lượng,
giá trị của các sản phẩm tương tự do các nhà sản xuất này sản xuất;
- Mô tả sản phẩm đang nghi ngờ bị bán phá giá, xuất xứ hàng hóa, tên nhà xuất khẩu hoặc nhà
sản xuất nước ngoài;
- Giá sản phẩm liên quan khi tiêu thụ ở thị trường trong nước sản xuất hoặc nước xuất khẩu,
hoặc giá mà sản phẩm liên quan được bán cho người mua độc lập đầu tiên ở nước nhập khẩu;
- Số lượng nhập khẩu của sản phẩm đang bị nghi ngờ phá giá, ảnh hưởng của việc nhập khẩu
này lên giá sản phẩm tương tự ở thị trường nước nhập khẩu và ảnh hưởng đối với ngành sản
xuất trong nước. Cơ quan điều tra sẽ xác minh tính chính xác và đầy đủ của các bằng chứng
nêu trong đơn để xác định xem đã có đủ lý do hợp lệ để tiến hành điều tra chưa. Cơ quan điều
tra sẽ không tiến hành điều tra phá giá trừ khi xác định được rằng đơn xin điều tra được nộp

điều kiện được sự đồng ý của các công ty liên quan và thông báo cho đại diện chính phủ nước
này và nước này không phản đối.
Cơ quan điều tra sẽ tính biên độ phá giá riêng cho từng nhà xuất khẩu hoặc nhà sản xuất sản
phẩm đang bị điều tra. Trường hợp không tính được biên độ phá giá riêng do số nhà xuất
khẩu, nhà sản xuất, nhà nhập khẩu hoặc loại sản phẩm liên quan quá lớn thì cơ quan điều tra
có thể giới hạn diện điều tra tới một số nhà sản xuất, xuất khẩu hay nhập khẩu hoặc giới hạn ở
một số loại sản phẩm nhất định bằng cách sử dụng mẫu thống kê, hoặc giới hạn ở tỷ lệ phần
trăm lớn nhất của khối lượng hàng xuất khẩu từ nước liên quan.
Việc chọn các nhà sản xuất, nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu hoặc loại sản phẩm để điều tra giới
hạn sẽ được tiến hành trên cơ sở tham khảo ý kiến và có sự đồng ý của các nhà sản xuất, nhà
xuất khẩu, nhà nhập khẩu có liên quan.
Trong trường hợp cơ quan điều tra giới hạn diện điều tra như nêu trên, họ vẫn có thể tính biên
độ phá giá riêng cho các nhà xuất khẩu hoặc nhà sản xuất mà ban đầu không được đưa vào
diện điều tra nhưng đã cung cấp thông tin đúng thời hạn.
Cơ quan điều tra sẽ tạo điều kiện cho người tiêu dùng sản phẩm đang điều tra hoặc tổ chức đại
diện người tiêu dùng cung cấp thông tin liên quan đến cuộc điều tra nếu sản phẩm được bán lẻ
rộng rãi.
6. áp dụng biện pháp tạm thời
Biện pháp tạm thời có thể được áp dụng dưới các hình thức:
- Thuế; hoặc
- Đặt cọc khoản tiền tương đương với khoản thuế chống bán phá giá dự kiến; hoặc
- Cho thông quan nhưng bảo lưu quyền đánh thuế và nêu rõ mức thuế nhập khẩu
thông thường và mức thuế chống bán phá giá dự kiến sẽ áp dụng.
Trên thực tế, biện pháp tạm thời hay được áp dụng nhất là đặt cọc. Điều kiện áp dụng biện
pháp tạm thời:
i) cơ quan điều tra tiến hành điều tra theo đúng thủ tục, gửi thông báo và tạo điều kiện cho các
bên quan tâm cung cấp thông tin và trình bày ý kiến;
ii) có kết luận sơ bộ về việc xảy ra bán phá giá và dẫn đến thiệt hại cho ngành sản xuất trong
nước; và
iii) cơ quan điều tra kết luận rằng biện pháp tạm thời là cần thiết để ngăn chặn thiệt hại trong

nhỏ hơn biên độ phá giá sẽ do cơ quan điều tra của nước nhập khẩu quyết định. Đối với một
sản phẩm bị bán phá giá, cơ quan chức năng sẽ xác định biên độ phá giá riêng cho từng nhà
xuất khẩu/sản xuất. Thuế chống bán phá giá sẽ được áp dụng cho từng trường hợp, trên cơ
sở không phân biệt đối xử giữa hàng nhập khẩu từ tất cả các nguồn được coi là gây thiệt hại,
trừ trường hợp đã cam kết giá.
Trị giá thuế chống bán phá giá áp dụng sẽ không được vượt quá biên độ phá giá.
Có 2 hình thức thu thuế chống bán phá giá:
Kiểu tính thuế hồi tố (kiểu của Hoa Kỳ): việc tính mức thuế được căn cứ vào số liệu của thời
điểm trước khi điều tra (6 tháng - 1 năm). Sau khi điều tra, cơ quan chức năng bắt đầu áp dụng
một mức thuế chống bán phá giá. Sau khi áp dụng được một thời gian, nếu nhà nhập khẩu yêu
cầu đánh giá lại mức thuế (do giá xuất khẩu tăng lên) thì cơ quan chức năng sẽ tiến hành xác
định lại số tiền thuế phải nộp trong vòng tháng, chậm nhất là 18 tháng ngay sau khi nhận được
yêu cầu. Sau đó mức thuế mới sẽ được áp dụng. Việc hoàn thuế sẽ được thực hiện trong
vòng 90 ngày sau khi xác định lại mức thuế cuối cùng phải nộp.
Kiểu tính thuế ấn định (kiểu của EU): cơ quan điều tra lấy số liệu của thời điểm trước khi
điều tra để tính biên độ phá giá và ấn định biên độ này cho cả quá trình áp dụng thuế chống
bán phá giá. Sau khi áp dụng được một thời gian, nếu nhà nhập khẩu đề nghị hoàn thuế với
phần trị giá cao hơn biên độ phá giá (do giá xuất khẩu tăng) thì cơ quan chức năng sẽ tiến
hành xem xét việc hoàn thuế trong vòng 12 tháng, chậm nhất là 18 tháng ngay sau khi nhận
được đề nghị hoàn thuế kèm theo đầy đủ bằng chứng. Việc hoàn thuế sẽ được thực hiện trong
vòng 90 ngày kể từ khi ra quyết định hoàn thuế.
Thu thuế với hàng nhập khẩu từ các nhà xuất khẩu không điều tra:
Trường hợp số nhà xuất khẩu/sản xuất sản phẩm bán phá giá quá lớn, không tính riêng biên độ
phá giá được thì cơ quan chức năng sẽ giới hạn việc điều tra ở một số nhà xuất khẩu/sản
xuất nhất định trên cơ sở trao đổi với các nhà xuất khẩu/sản xuất liên quan.
Mức thuế đối với hàng nhập khẩu từ các nhà xuất khẩu không điều tra không được vượt
quá bình quân gia quyền BĐPG của các nhà xuất khẩu có điều tra. Sau mỗi đợt rà soát, hàng
nhập khẩu thuộc diện không điều tra sẽ được hoàn lại khoản thuế bằng:
Bình quân gia quyền BĐPG (cũ) - bình quân gia quyền BĐPG (mới)
Khi có yêu cầu từ các nhà xuất khẩu không điều tra, cơ quan chức năng sẽ tính lại mức thuế

được đánh từ ngày ra kết luận điều tra cuối cùng và phải hoàn lại số tiền đặt cọc đã thu khi áp
dụng biện pháp tạm thời.
3) Nếu kết luận cuối cùng là không đánh thuế chống bán phá giá thì khoản tiền đặt cọc khi áp
dụng biện pháp tạm thời sẽ được hoàn trả.
10. Rà soát
Sau khi áp dụng thuế chống bán phá giá một thời gian, cơ quan chức năng sẽ tự tiến hành rà
soát việc tiếp tục đánh thuế hoặc theo đề nghị của bất kỳ bên liên quan nào về vấn đề:
- có cần tiếp tục đánh thuế không; hoặc
- nếu ngừng đánh thuế hoặc thay đổi mức thuế thì có dẫn đến thiệt hại không.Cơ quan chức
năng sẽ quyết định ngừng đánh thuế nếu, sau khi rà soát, xác định được rằng không cần thiết
tiếp tục đánh thuế nữa.
Về nguyên tắc, thuế chống bán phá giá chỉ được áp dụng tối đa trong 5 năm. Trước khi hết
thời hạn trên, cơ quan chức năng sẽ tự tiến hành rà soát hoặc theo đề nghị của đại diện ngành
sản xuất trong nước. Nếu như sau khi rà soát (thường trong vòng 12 tháng), cơ quan chức
năng xác định được là việc ngừng đánh thuế có thể dẫn đến thiệt hại thì có thể tiếp tục đánh
thuế.
11. Thông báo công khai và giải thích các kết luận
Khi cơ quan điều tra thấy rằng đã có đầy đủ bằng chứng để tiến hành điều tra phá giá thì họ sẽ
gửi thông báo cho nước hoặc các nước có sản phẩm bị điều tra và các bên có quan tâm khác.
Thông báo này gồm những thông tin sau:
- tên (các) nước xuất khẩu sản phẩm liên quan;
- ngày bắt đầu điều tra;
- căn cứ về hành vi phá giá ở trong đơn xin điều tra;
- tóm tắt các yếu tố được coi là cơ sở xác định thiệt hại;
- địa chỉ liên hệ để liên lạc với đại diện của các bên;
- thời hạn đưa ra quan điểm cho các bên.
Cơ quan điều tra phải gửi thông báo trong các trường hợp sau:
- kết luận sơ bộ hay kết luận cuối cùng về việc có xảy ra phá giá hay không;
- nhà xuất khẩu chấp nhận cam kết giá và khi chấm dứt cam kết giá;
- áp dụng biện pháp tạm thời ;

14. Thành viên đang phát triển
Các thành viên phát triển của WTO sẽ lưu ý đến tình hình riêng của thành viên đang phát triển
khi xem xét áp dụng thuế chống bán phá giá.
15. ủy ban chống bán phá giá
ủy ban chống bán phá giá bao gồm đại diện các thành viên WTO được thành lập nhằm thực
hiện các nghĩa vụ qui định trong Hiệp định này và tạo điều kiện cho các thành viên trao đổi
với nhau về các vấn đề liên quan đến việc thực hiện Hiệp định Chống bán phá giá. ủy ban này
họp ít nhất 2 lần mỗi năm, Ban Thư ký WTO sẽ thực hiện chức năng thư ký cho ủy ban này.
Các thành viên WTO phải thông báo cho ủy ban chống bán phá giá:
- ngay lập tức khi họ áp dụng các biện pháp chống bán phá giá tạm thời hay lâu dài;
- nửa năm một lần (theo mẫu qui định) về các biện pháp chống bán phá giá mà họ áp dụng
trong vòng 6 tháng trước đấy. Các thành viên có thể tham khảo thông báo này tại Ban Thư ký
WTO;
- cơ quan nào ở nước mình có thẩm quyền điều tra phá giá, luật qui định thủ tục điều tra phá
giá của nước mình.
16. Trao đổi và giải quyết tranh chấp
Các qui định trong Biên bản về Giải quyết Tranh chấp (DSU) của WTO sẽ được áp dụng cho
việc trao đổi và giải quyết tranh chấp liên quan đến Hiệp định chống bán phá giá của WTO,
trừ khi có qui định khác đi.
17. Điều khoản cuối cùng
Các thành viên WTO chỉ được áp dụng biện pháp đối phó với hàng xuất khẩu bị bán phá giá
từ các nước thành viên khác theo qui định của GATT 1994 và được diễn giải bởi Hiệp định
này. Các Thành viên cũng phải đảm bảo luật, các qui định và các thủ tục hành chính về chống
bán phá giá của mình phù hợp với Hiệp định này.
III. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Ngày nay, cùng với quá trình phát triển kinh tế là việc gia tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các
nền kinh tế. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, tự do hoá thương mại và liên kết kinh tế đang là trào
lưu nổi bật thì hội nhập kinh tế quốc tế không những ngày càng trở thành một xu thế khách
quan mà còn đóng vai trò là một công cụ hữu hiệu để phát triển nhanh và bền vững nếu được
nắm bắt và vận dụng một cách tích cực. Xu hướng chung hiện nay của các quốc gia và các tổ

11/12/2001 có hiệu lực đã đánh dấu mốc quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
của nước ta.
Hiện nay, Việt Nam đang tích cực chuẩn bị đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO). Kể từ khi chính thức nộp đơn xin gia nhập WTO ngày 4/1/1995, ta đã chủ động và
khẩn trương tiến hành những bước đi cần thiết để triển khai quá trình đàm phán gia nhập Tổ
chức này. Cho tới nay, Ban Công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO đã tổ chức thành công
5 phiên họp với nội dung chính là làm rõ cơ chế, chính sách kinh tế-thương mại, cơ bản kết
thúc giai đoạn minh bạch hóa để bắt đầu bước sang giai đoạn mới quan trọng - đàm phán thực
chất về mở cửa thị trường.
Cắt giảm thuế quan là một trong những nội dung quan trọng nhất của mở cửa thị trường hàng
hóa. Tuy nhiên, việc mở cửa thị trường thông qua các cam kết giảm thuế sẽ không có ý nghĩa
nếu như các hàng rào phi thuế quan vẫn được áp dụng. Một mặt hàng được cam kết giảm thuế
từ 100% xuống thậm chí 0% vẫn không thể kinh doanh được nếu áp đặt một lệnh cấm nhập
khẩu. Chính vì thế, loại bỏ hàng rào phi thuế quan luôn là yêu cầu đồng hành với cắt giảm
thuế quan trong mọi hình thức đàm phán mở cửa thị trường hàng hoá một cách thực chất.
1. Cam kết trong ASEAN
Hiệp định CEPT quy định rằng các biện pháp hạn chế định lượng (cấm, hạn ngạch, giấy phép
nhập khẩu) phải được dỡ bỏ ngay khi thuế suất của một mặt hàng thuộc diện CEPT được giảm
xuống thấp hơn hoặc bằng 20%. Các hàng rào phi thuế khác sẽ phải loại bỏ dần trong vòng 5
năm tiếp theo, nhưng không muộn hơn 1/1/2006.
2. Cam kết trong APEC
APEC yêu cầu các thành viên phải tuân thủ nghiêm túc những quy định của WTO, giảm dần
các biện pháp phi thuế quan và đảm bảo rằng các biện pháp phi thuế quan phải luôn được
công bố rõ ràng.
3. Cam kết với IMF/World Bank
Việt nam đã cam kết xoá bỏ hàng rào phi thuế đối với 17 mặt hàng. Các hàng rào phi thuế
phải xóa bỏ gồm: hạn chế định lượng nhập khẩu và đầu mối nhập khẩu. Từ đầu năm 2000, ta
đã chủ động thuế hóa và bãi bỏ hạn chế định lượng nhập khẩu đối với 7 nhóm hàng trong
danh mục trên (ban hành kèm theo Quyết định 242/1999/QĐ-TTg ngày 30/12/1999 của Thủ
tướng Chính phủ), bao gồm xút lỏng, hàng tiêu dùng bằngsành sứ và thủy tinh, bao bì nhựa

chắc chắn hơn về thị trường xuất khẩu.
Chương II: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TRÊN THẾ
GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
I. tổng quan về Tình hình áp dụng thuế chống bán phá giá trên thế giới
1. Tổng quan
Năm 1995, vòng đàm phán Uruguay kết thúc với sự ra đời của WTO và một số các hiệp định
liên quan đến thương mại quốc tế, trong đó có Hiệp định về chống bán phá giá của WTO. Đây
chính là cơ sở pháp luật quốc tế mà các nước thành viên WTO phải tuân theo khi thực thi và
áp dụng các biện pháp chống bán phá giá. WTO đã thành lập một Uỷ ban về chống bán phá
giá (Anti-dumping Committee) để kiểm soát việc điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá
của các nước thành viên, kịp thời cung cấp những thông tin cần thiết cho các nước thành viên.
Các nước chưa là thành viên WTO cũng được khuyến nghị nên thực hiện theo quy định của
WTO, trong đó có quy định liên quan đến chống bán phá giá. Kể từ khi WTO ra đời, tính đến
thời điểm cuối năm 2001, trên thế giới đã có tất cả 2132 cuộc điều tra về chống bán phá giá và
có tất cả là 1066 lần áp dụng thuế chống bán phá giá (chiếm 50% tổng số cuộc điều tra). Điều
này thể hiện, không phải tất cả các cuộc điều tra về chống bán phá giá đều có kết luận dẫn đến
việc áp dụng thuế chống bán phá giá. Các loại mặt hàng chịu thuế chống bán phá giá thường là
các sản phẩm dệt may, giầy dép, sắt thép, kim loại và một số sản phẩm công nghiệp cơ khí,
v.v.
Trên thực tế, các nước áp dụng thuế chống bán phá giá thường bị nước xuất khẩu hàng hoá là
đối tượng chịu thuế chống bán phá giá khởi kiện đến WTO, cụ thể là Cơ quan Giải quyết tranh
chấp. Các vụ việc giải quyết tranh chấp về việc chống bán phá giá luôn là vấn đề phức tạp và
gây nhiều tranh cãi. Đôi khi, kết quả thường dẫn đến các hành vi trả đũa trong thương mại,
gây ra rất nhiều mâu thuẫn, ảnh hưởng xấu đến tình hình thương mại chung trên thế giới. Vì
vậy, các quốc gia thường rất thận trọng khi quyết định việc áp dụng thuế chống bán phá giá
đối với hàng hoá nhập khẩu bị bán phá giá vào nước mình. Trong thực tiễn áp dụng thuế
chống bán phá giá trên thế giới, đã có nhiều nước áp dụng biện pháp này trước khi WTO ra
đời. Căn cứ thống kê từ năm 1990, việc áp dụng thuế chống bán phá giá hiện nay luôn thể
hiện sự tiến bộ và xu hướng phát triển của các nước đang phát triển so với các nước phát triển.
Điều này được thể hiện bằng biểu đồ dưới đây:

Trung Quốc thì tương đối đặc biệt khi chưa áp dụng thuế chống bán phá giá lần nào nhưng bị
áp dụng thuế chống bán phá giá tới 178 lần. Đây có thể được coi là quốc gia "đi đầu" trong
việc bán phá giá hàng hóa sang các nước khác. Tất nhiên, một lý do quan trọng gây bất lợi cho
các nhà xuất khẩu của Trung quốc là nhiều nước phát triển chưa coi nền kinh tế Trung quốc là
kinh tế thị trường, do đó dễ dẫn tới kết luận là hàng xuất khẩu bị bán phá giá, mặc dù trên thực
tế có thể không phải như vậy.
II. Thực tiễn áp dụng thuế chống bán phá giá của Hoa kỳ
1. Văn bản pháp quy về chống bán phá giá của Hoa Kỳ
Chính sách chống phá giá của Hoa Kỳ được thể hiện thông qua Luật chống bán phá giá năm
1921. Kho bạc Nhà nước Hoa Kỳ lúc đó được giao nhiệm vụ điều tra các hành vi bán phá giá
và ấn định mức thuế chống bán phá giá. Tuy nhiên, nhiệm vụ này đã được chuyển giao cho Bộ
Thương mại Hoa Kỳ đảm nhận sau khi Nghị viện Hoa kỳ thông qua một đạo luật mới về thực
thi hiệp định thương mại (Trade Agreement Act), trong đó có quy định liên quan đến việc điều
tra, áp dụng thuế chống phá giá vào năm 1979.
Sau khi WTO ra đời trên cơ sở kết quả đàm phán của vòng Uruguay vào năm 1995, các quy
định của Hoa Kỳ về chống bán phá giá phải tuân thủ theo Hiệp định về chống bán phá giá của
WTO. Trên cơ sở đó, Hoa Kỳ đã ban hành Quy định về chống bán phá giá và chống trợ cấp
vào năm 1997, trong đó hướng dẫn tiến trình thực hiện về điều tra và áp dụng thuế chống bán
phá giá.
2. Điều tra để áp dụng thuế chống bán phá giá
Hoa Kỳ quy định việc áp dụng thuế chống bán phá giá phải dựa vào kết quả của quá trình điều
tra xem việc bán phá giá hàng nhập khẩu vào Hoa Kỳ có gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại về
vật chất cho ngành sản xuất trong nước hay không. Không thể tùy tiện áp dụng thuế chống bán
phá giá khi chưa có điều tra và việc áp dụng thuế chống bán phá giá của Hoa Kỳ phải tuân thủ
quy định của WTO.
a. Cơ sở tiến hành điều tra
Việc tiến hành điều tra chống phá giá thường bắt đầu trên cơ sở tổ chức hoặc cá nhân đại diện
cho ngành sản xuất mặt hàng liên quan trong nước nộp đơn đề nghị điều tra phá đối với một
mặt hàng nhập khẩu. Đơn này được coi là hợp lệ nếu sản lượng của các nhà sản xuất ủng hộ
đơn chiếm ít nhất 25% tổng sản lượng của toàn ngành sản xuất mặt hàng liên quan trong nước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status