Bàn về biện pháp chống bán phá giá đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam - Pdf 11

Bàn về biện pháp chống bán phá giá đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam
Nguyễn Thanh Hưng
Nguyễn Thị Thanh Thuỷ
Trong hai số 18 và 19, Tạp chí Thương mại đã giới thiệu tổng quan về tám nhóm biện pháp phi thuế quan mà các
nước khác có thể áp dụng để cản trở hàng xuất khẩu của ta. Nhằm giúp các doanh nghiệp cũng như các nhà hoạch
định chính sách thương mại có thêm thông tin để đối phó với tình huống hàng xuất khẩu của ta bị nước khác áp dụng
các biện pháp thuộc nhóm bảo vệ thương mại tạm thời, chúng tôi xin giới thiệu tiếp bài viết về thuế chống bán phá giá,
một biện pháp được sử dụng phổ biến nhất trong nhóm này và có nguy cơ áp dụng ngày càng nhiều đối với hàng xuất
khẩu của ta.
Như chúng ta đã thấy các nước luôn luôn dựng lên nhiều biện pháp phi thuế quan để bảo hộ sản xuất trong nước. Mặc
dù những biện pháp này rất đa dạng nhưng có thể chia ra tám nhóm lớn. Trong xu thế tự do hoá thương mại ngày
càng mạnh mẽ, các nước buộc phải cam kết không áp dụng các biện pháp phi thuế thuộc nhóm hạn chế định lượng để
bảo hộ sản xuất trong nước. Nhưng bù lại, các nước ngày càng sử dụng nhiều hơn ba biện pháp hạn chế nhập khẩu
thuộc nhóm bảo vệ thương mại tạm thời, đó là biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ.
Sau khi Vòng đàm phán Uruguay chấm dứt với sự ra đời của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 1995,
các qui định liên quan tới việc áp dụng ba biện pháp này trở nên khá chặt chẽ. Tuy nhiên xu hướng từ năm 1995 đến
nay cho thấy biện pháp chống bán phá giá đã được sử dụng một cách thái quá và dường như đã trở thành một công cụ
bảo hộ quan trọng cho nhiều nước.
Trong vài năm qua hàng xuất khẩu của ta bị các nước khác điều tra chống bán phá giá ngày càng nhiều. Trước khi đề
xuất một số biện pháp khắc phục tình trạng này chúng tôi xin giới thiệu bối cảnh chung của việc áp dụng biện pháp
chống bán phá giá trên thế giới cũng như đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam. Do Hiệp định về Chống bán phá giá
của WTO là nền tảng pháp lý cho mọi cuộc điều tra và áp dụng các biện pháp chống bán phá giá cũng như là cơ sở để
giải quyết tranh chấp liên quan nên chúng tôi sẽ giới thiệu một số nội chung chính của hiệp định. Tiếp đó, chúng tôi
sẽ trình bày thực tiễn áp dụng biện pháp chống bán phá giá tại một số nước nhập khẩu lớn, có truyền thống áp dụng
biện pháp này và có vai trò lớn trong việc xây dựng các qui định liên quan trong WTO. Chúng tôi cũng phân tích và
đánh giá về khó khăn của Việt Nam khi phải đối mặt với biện pháp chống bán phá giá của các đối tác thương mại.
Cuối cùng, để góp phần vào mục tiêu lớn hiện nay của chúng ta là mở rộng thị trường và hỗ trợ xuất khẩu, chúng tôi
xin đề xuất một số giải pháp với mong muốn góp thêm thông tin cho các doanh nghiệp và các nhà hoạch định chính
sách cân nhắc trong hoạt động thực tiễn của mình.
Tình hình áp dụng biện pháp chống bán phá giá trên thế giới từ năm 1995 đến nay
Từ năm 1995 đến cuối năm 2001, trên thế giới đã có tất cả 1845 cuộc điều tra về chống bán phá giá với 1066 lần áp

giá. Achentina và Braxin đã áp dụng thuế chống phá giá 97 lần và 51 lần trong khi chỉ bị áp dụng thuế chống bán phá
giá tương ứng là 7 và 45 lần.
Trung Quốc thì tương đối đặc biệt khi chưa áp dụng thuế chống bán phá giá lần nào nhưng bị áp dụng thuế chống bán
phá giá tới 178 lần. Đây có thể được coi là quốc gia "đi đầu" trong việc bán phá giá hàng hóa sang các nước khác.
Tuy nhiên, các nhà xuất khẩu của Trung Quốc hiện đang phải chịu một bất lợi lớn là nhiều nước phát triển chưa coi
nền kinh tế Trung quốc là kinh tế thị trường, do đó hàng xuất khẩu của nước này hay bị coi là bán phá giá, mặc dù
trên thực tế có thể không phải như vậy.
Tình hình hàng xuất khẩu của Việt Nam bị điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá
Hơn một thập kỷ qua Việt Nam đã đạt được thành tựu ngoạn mục trong việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa. Tuy
nhiên, tình trạng hàng xuất khẩu của ta bị nước nhập khẩu điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá ngày càng tăng.
Trong xu hướng nhiều nước trên thế giới tăng cường sử dụng biện pháp chống bán phá giá như một công cụ bảo hộ
thì có thể dự kiến rằng trong thời gian tới chúng ta sẽ phải đối phó với biện pháp này nhiều hơn khi kim ngạch xuất
khẩu nhiều mặt hàng tăng mạnh.
Theo thông tin chúng tôi có được thì tính đến hết tháng 6 năm 2002 chúng ta đã gặp phải các vụ điều tra chống bán
phá giá như sau:
Năm Nước Mặt hàng Tiến trình điều tra
1 1994 Colombia Gạo Không đánh thuế vì mặc dù có bán phá giá ở mức 9,07% nhưng
không gây tổn hại cho ngành trồng lúa của Colombia.
2 1998 EU Mì chính Đánh thuế chống bán phá giá, mức: 16,8%.
3 1998 EU Giầy dép Không đánh thuế vì thị phần gia tăng nhỏ so với Trung Quốc,
Indonesia và Thái Lan.
4 2000 Ba Lan Bật lửa Đánh thuế chống bán phá giá, mức: 0,09 Euro/chiếc.
5 2001 Canada Tỏi Đánh thuế chống bán phá giá, mức: 1,48 dollar Canada/Kg.
6 2002 Canada Giày không
thấm nước
Bắt đầu điều tra từ 4/2002
7 2002 EU Bật lửa Bắt đầu điều tra từ 6/2002
8 2002 Mỹ Cá da trơn Bắt đầu điều tra từ 7/2002
2
Cho đến hết năm 2001, trong tổng số năm vụ hàng xuất khẩu của Việt Nam bị nước khác điều tra bán phá giá thì ba

thất nghiệp, lương, tác động tiêu cực đến luồng tiền, huy động năng lực, lợi nhuận, tỷ lệ thu hồi vốn đầu tư, đầu tư,
huy động vốn và tốc độ tăng trưởng.
Thuế chống bán phá giá chỉ được áp dụng trên cơ sở qua điều tra khẳng định được lượng hàng nhập khẩu bị bán phá
giá tăng lên đáng kể và gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu.
Thủ tục điều tra chống bán phá giá
Khởi kiện của nguyên đơn: Trừ trường hợp ngoại lệ, các cuộc điều tra về phá giá chỉ được tiến hành dựa trên đơn kiện
của đại diện ngành sản xuất trong nước. Trong đó, các nhà sản xuất ủng hộ việc nộp đơn phải có sản lượng sản xuất
lớn hơn sản lượng của những nhà sản xuất phản đối đơn và sản lượng của những nhà sản xuất ủng hộ đơn phải chiếm
ít nhất 25% tổng sản lượng của ngành đó.
Giới hạn tối thiểu: Cuộc điều tra bán phá giá sẽ bị chấm dứt ngay lập tức nếu cơ quan điều tra xác định được rằng
biên độ phá giá nhỏ hơn 2% giá xuất khẩu hoặc kim ngạch nhập khẩu mặt hàng bị nghi ngờ bán phá giá thấp hơn 3%
tổng kim ngạch nhập khẩu của mặt hàng đó.

3
Thu thập thông tin: Cơ quan điều tra sẽ đề nghị các bên quan tâm đến cuộc điều tra phá giá cung cấp bằng văn bản
mọi bằng chứng liên quan đến cuộc điều tra. Thời hạn trả lời câu hỏi điều tra thông thường là 30 ngày và có thể được
gia hạn thêm nếu cần thiết.
Biện pháp tạm thời
Biện pháp tạm thời có thể được áp dụng dưới các hình thức thuế, đặt cọc khoản tiền tương đương với khoản thuế
chống bán phá giá dự kiến hoặc cho thông quan nhưng bảo lưu quyền đánh thuế và nêu rõ mức thuế nhập khẩu thông
thường, mức thuế chống bán phá giá dự kiến sẽ áp dụng. Biện pháp này chỉ được áp dụng sau khi bắt đầu điều tra ít
nhất là 60 ngày và kéo dài trong không quá 4 tháng (hoặc 6 tháng trong trường hợp cần thiết).
Biện pháp tạm thời chỉ được áp dụng khi cơ quan điều tra tiến hành điều tra theo đúng thủ tục, gửi thông báo và tạo
điều kiện cho các bên quan tâm cung cấp thông tin và trình bày ý kiến. Ngoài ra cơ quan này phải có kết luận sơ bộ
về việc bán phá giá và thiệt hại do việc bán phá giá gây ra cho ngành sản xuất trong nước cũng như đưa ra kết luận
rằng biện pháp tạm thời là cần thiết để ngăn chặn thiệt hại trong quá trình điều tra.
Cam kết giá
Việc điều tra có thể kết thúc nếu nhà xuất khẩu tự nguyện cam kết tăng giá lên hoặc ngừng bán phá giá và được cơ
quan điều tra của nước nhập khẩu nhất trí. Mức giá tăng lên có thể nhỏ hơn biên độ phá giá nếu như mức tăng như
vậy đã đủ để khắc phục thiệt hại cho ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu.

độ phá giá. Còn Hội đồng Thương mại Quốc tế (ITC) là một cơ quan độc lập chịu trách nhiệm điều tra thiệt hại đối
với ngành sản xuất trong nước.
Sau khi DOC kết luận chính thức là có phá giá thì ITC sẽ ra quyết định đánh thuế chống bán phá giá. Hàng năm DOC
sẽ tiến hành rà soát lại biên độ phá giá để điều chỉnh mức thuế chống bán phá giá.
Việc phân chia chức năng điều tra cho hai cơ quan độc lập có ưu điểm là bảo đảm tính khách quan trong việc ra quyết
định đánh thuế chống bán phá giá nhưng lại tốn rất nhiều nhân lực.
Hoa Kỳ qui định mức thuế chống bán phá giá bằng đúng biên độ phá giá và đánh thuế theo nguyên tắc hồi tố, nghĩa là
sau khi áp dụng thuế chống bán phá giá được một năm, nếu giá xuất khẩu tăng lên thì nhà nhập khẩu có thể đề nghị
tính lại biên độ phá giá và sẽ được hoàn lại khoản tiền chênh lệch giữa khoản thuế đã nộp năm trước với biên độ phá
giá vừa tính lại. Đồng thời, mức thuế chống bán phá giá từ năm thứ hai sẽ được giảm xuống bằng biên độ phá giá
mới. Tương tự như vậy, đến năm tiếp theo nhà nhập khẩu cũng có thể được hoàn thuế nếu giá xuất khẩu tiếp tục tăng.
Cách thu thuế và hoàn thuế như vậy đảm bảo nhà nhập khẩu không phải nộp thuế vượt quá biên độ phá giá, nhưng
thực hiện lại phức tạp, mỗi năm có thể áp dụng một mức thuế chống bán phá giá khác nhau.
Việc điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá của Hoa Kỳ thường tập trung vào mặt hàng chính là sắt thép. Trong
số 65 cuộc điều tra chống phá giá từ 1996 đến 1998 có đến 39 cuộc (chiếm 60%) về sản phẩm sắt thép nhưng chỉ chú
trọng vào một số chủng loại thép carbon cán nóng và cán mỏng.
Thực tiễn áp dụng thuế chống bán phá giá ở Canada
Cơ chế chống bán phá giá của Canada cũng tương tự như của Hoa Kỳ. Điều tra phá giá và điều tra thiệt hại do hai cơ
quan độc lập tiến hành. Cục Hải quan và Thuế (CCRA) chịu trách nhiệm điều tra phá giá và tính biên độ phá giá. Tòa
án Thương mại quốc tế của Canada (CITT) là một cơ quan có chức năng gần như một tòa hành chính chịu trách
nhiệm điều tra thiệt hại. Nếu CITT kết luận là việc bán phá giá hàng nhập khẩu gây thiệt hại hoặc sắp gây thiệt hại
cho ngành sản xuất trong nước thì CCRA sẽ quyết định đánh thuế chống bán phá giá.
Canada xác định mức thuế bằng cách so sánh giá trị thông thường “ước tính” dựa trên các dữ liệu của giai đoạn trước
với giá xuất khẩu thực tế, và áp dụng thuế chống bán phá giá theo từng giao dịch. Với cách đánh thuế trên cơ sở từng
giao dịch, người nhập khẩu chỉ trả thuế nếu giá xuất khẩu thấp hơn giá trị thông thường thực tế hoặc ước tính.
Theo luật của Canada, thuế chống bán phá giá có thể được đánh thấp hơn biên độ phá giá nếu như đã đủ để triệt tiêu
thiệt hại nhằm tránh bảo hộ sản xuất trong nước quá mức cần thiết. CITT sẽ xác định mức thuế cần thiết đủ để triệt
tiêu thiệt hại.
Sau khi áp dụng thuế chống bán phá giá được một năm, CCRA sẽ tiến hành rà soát để tính lại giá trị thông thường,
giá xuất khẩu nhằm điều chỉnh lại biên độ phá giá. Các nhà xuất khẩu và nhập khẩu phải cung cấp các thông tin cần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status