Khoá luận tốt nghiệp
Phan Thị Tuyết - Pháp 2 - K38E
LỜI MỞ ĐẦU
Mỹ là một thị trường rộng lớn và dễ tính, có tiềm năng khoa học kỹ
thuật và công nghệ vào loại bậc nhất trên thế giới, hơn nữa, hiện nay những
thị trường truyền thống của Việt Nam như châu Á, châu Âu, Nga... đã có xu
hướng bão hoà với các sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, nên đây là
một thị trường mới mẻ, tiềm năng và t
ương đối ổn định ở châu Mỹ mà các
doanh nghiệp Việt Nam muốn được hướng tới để làm ăn, đồng thời cũng là
đối tác quan trọng có khả năng giúp Việt Nam đạt được mục tiêu hội nhập
kinh tế thế giới của mình. Đặc biệt là sau khi Hiệp định thương mại song
phương được ký kết đã mở ra một viễn cảnh tươi sáng cho nền thương mại
của hai nước.
Trong vài năm gần đây, cá basa và cá tra Việt Nam được nhập khẩu
vào thị trường Mỹ dưới dạng philê đông lạnh đã góp phần đáp ứng nhu cầu
tiêu thụ cá của người dân Mỹ đồng thời thúc đẩy được nghề nuôi loại cá này ở
Việt Nam, tạo công ăn việc làm cho hàng vạn lao động ngư trại và nhà máy
chế biến thuỷ sản. Phát triển buôn bán cá basa, cá tra giữa Việt Nam và Mỹ
là
nhằm mang lại lợi ích cho cả hai quốc gia.
Nhưng thật đáng tiếc, Hiệp hội các chủ trại nuôi cá nheo Mỹ đã sớm lo
lắng cho sự xâm nhập của cá basa và cá tra vào thị trường của họ đến mức
đâm đơn kiện các doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá các sản phẩm này vào
thị trường Mỹ.
Như chúng ta đã biết, xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đang
dần xoá b
ỏ những rào cản thuế quan giữa các thị trường nhưng lại tạo điều
kiện thuận lợi cho chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch phát triển đặc biệt là ở các nước
giầu mạnh. Thương trường Mỹ mở ra những cơ hội đầy triển vọng nhưng nó
lại được điều chỉnh bằng một hệ thống luật pháp và các rào c
suốt 5 năm năm học vừa qua. Đồng thời, con xin cám ơn Bố mẹ
, gia đình và
bạn bè đã luôn ở bên cạnh động viên, giúp đỡ để con có được kết quả như
ngày hôm nay. Đặc biệt em xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến TS Bùi Ngọc
Sơn, người đã trực tiếp hướng dẫn em viết đề tài này.
Xin chân thành cảm ơn.
Chương I: Khái quát chung về Luật Chống bán phá giá của Mỹ
Phan Thị Tuyết - Pháp 2 - K38E
1
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LUẬT CHỐNG
BÁN PHÁ GIÁ CỦA MỸ
I. GIỚI THIỆU CHUNG
Bán phá giá là việc bán hàng hoá của các nhà sản xuất hoặc xuất khẩu
nước ngoài tại một thị trường xuất khẩu, ví dụ như tại Mỹ, với giá thấp hơn
giá bán của những sản phẩm giống hoặc tương tự mà các nhà sản xuất hoặc
xuất khẩu bán tại thị trường trong nước của họ hoặc xuất tới thị trường của
nước thứ ba, ho
ặc với giá bán hàng hoá thấp hơn chi phí sản xuất sản phẩm.
Theo hiệp định về chống bán phá giá của WTO (Tổ chức Thương mại thế
giới) và Luật pháp Hoa Kỳ, thì thuế chống bán phá giá có thể bị áp dụng nếu
có hai điều kiện được thoả mãn: (1) “Thấp hơn giá trị chuẩn” (Less than fair
value - LTFV) hoặc việc bán phá giá phải được xác định là đang tồn tại; và
(2) việc bán hàng hoá với giá “thấ
p hơn giá bán thông thường” phải đang
gây ra hoặc đang đe doạ gây ra thiệt hại vật chất cho ngành công nghiệp sản
xuất sản phẩm tương tự với hàng hoá nhập khẩu của Mỹ.
Nếu hai điều kiện trên được thoả mãn, lệnh thuế chống bán phá giá được ban
hành áp đặt các mức thuế tương đương với khoản được xác định bởi giá trị
chuẩn (được xác
đổi do Hiệp định vòng đàm phán Uruguay yêu cầu, URAA còn bao gồm một
vài thay đổi hơn nữa trong luật chống bán phá giá như sự sửa đổi của các quy
định v
ề chống lại âm mưu bán phá giá. Các quy định chi tiết về các trình tự và
thủ tục được sử dụng trong quá trình điều tra phá giá đã được ban hành sau
đó.
2. Các cơ quan có thẩm quyền thi hành
Vụ quản lý thương mại quốc tế (ITA) thuộc Bộ Thương mại Hoa Kỳ là
“cơ quan nhà nước có thẩm quyền” với chức năng cơ bản là thi hành Luật
chống bán phá giá và chức năng cụ thể là xác định xem hàng hoá được điều
tra có đang được bán phá giá hay không sau khi đã tiến hành điều tra.
Uỷ ban thương mại quốc tế (ITC), một cơ quan liên bang độc lập, sẽ
xác định xem liệ
u ngành công nghiệp Hoa Kỳ sản xuất sản phẩm cùng loại đó
bị thiệt hại hoặc bị đe dọa gây thiệt hại do hàng hoá nhập khẩu gây nên hay
Chương I: Khái quát chung về Luật Chống bán phá giá của Mỹ
Phan Thị Tuyết - Pháp 2 - K38E
3
không. Hai cơ quan này thực thi nhiệm vụ của mình một cách đồng bộ và
thông báo cho nhau về bất cứ quyết định nào. Một quyết định cuối cùng phủ
định việc bán phá giá của một trong hai cơ quan này hoặc quyết định sơ bộ
của Ủy ban Thương mại quốc tế (ITC) là không gây thiệt hại thì vụ việc sẽ
được chấm dứt điều tra. Tất cả các quyết định cầ
n phải được đăng công báo,
trong đó phải đưa ra các đánh giá về dữ kiện và kết luận của pháp luật.
II. NỘI DUNG LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA MỸ
1. Phạm vi điều chỉnh
Luật chống bán phá giá của Mỹ cho phép chính quyền Mỹ thu thuế
nhập khẩu đặc biệt (được gọi là thuế chống bán phá giá) để bù lại phần thiệt
hại do việc nhập khẩu hàng hoá với giá thấp ở mức “không công bằng”. Để áp
phán Uruguay, Chính phủ một nước thành viên WTO có thể nộp đơn khiếu
nại tới Đại diện Thương mại Mỹ yêu cầu họ mở một cuộc điều tra chống bán
phá giá của một sản phẩm nhập khẩu vào thị trường Mỹ từ một nước thức ba.
Việ
c huỷ bỏ lệnh chống bán phá giá hoặc đình chỉ việc điều tra có thể
xảy ra nếu Uỷ ban Thương mại quốc tế Mỹ xác định là việc huỷ bỏ hoặc đình
chỉ sẽ không dẫn đến việc tiếp tục hoặc tái diễn hành động phá giá.
Các bên không đồng ý với đánh giá cuối cùng của Bộ Thương mại và
Uỷ ban Thương mại quốc tế v
ề các vụ chống bán phá giá có thể nộp đơn yêu
cầu xử lại lên Toà án Thương mại quốc tế của Mỹ ở New York. Nếu hàng hoá
từ Canada hoặc Mêhico, các bên có thể yêu cầu ban hội thẩm lưỡng quốc
thuộc NAFTA (North America Free Trade Area - Khu vực mậu dịch tự do
Bắc Mỹ) kiểm tra hoặc có thể kháng cáo lên Toà án Thương mại Quốc tế.
2. Điều kiện để khởi xuất một vụ kiện bán phá giá
Muốn được khởi kiện, nguyên đơn phải là một cá nhân, tổ chức có liên
quan, ví dụ như là nhà sản xuất hay một tổ chức, hiệp hội nằm trong một khu
vực, ngành sản xuất mà có hàng hoá đang phải cạnh tranh với hàng hoá nhập
khẩu. Để có sự ủng hộ của số đông các thành viên trong khu vực, ngành sản
xuất, Luật đòi hỏi nguyên đơn phải có thẩm quyền đại diện, ít nh
ất là phải có
trên 25% tổng số sản phẩm của loại hàng đang cạnh tranh.
3. Các giai đoạn chính của một cuộc điều tra chống bán phá giá tại Mỹ
Trình tự một cuộc điều tra chống bán phá giá tại Mỹ gồm 6 giai đoạn:
Chương I: Khái quát chung về Luật Chống bán phá giá của Mỹ
Phan Thị Tuyết - Pháp 2 - K38E
5
Giai đoạn 1: Khởi sự điều tra để áp đặt thuế chống bán phá giá (thông thường
là 20 ngày sau khi có đơn khiếu nại yêu cầu áp đặt thuế chống phá giá của các
doanh nghiệp hoặc hiệp hội trong nước).
2/ Một tổ chức công đoàn hoặc một nhóm người lao động có chứng nhận hoặc
được công nhận đại diện cho một ngành công nghiệp liên quan đến việc sản
xuất, chế biến hoặc bán buôn hàng hoá tương tự tại Hoa Kỳ.
3/ Hiệp hội kinh doanh hoặc hiệp hội thương mại, đại đa số những thành viên
của nhà sản xuất, chế biến hoặc nhà bán buôn sản phẩm tương t
ự của Hoa Kỳ.
Bộ Thương mại có trách nhiệm tiến hành điều tra khi một đơn kiện
được đệ trình “bởi ngành công nghiệp trong nước hoặc bởi đại diện của nó”
và trong đơn đưa ra những yếu tố cần thiết để yêu cầu áp đặt một mức thuế
chống bán phá giá, cũng như bao gồm tất cả những thông tin hợp lý sẵn có
của người đệ đơ
n. Trước khi URAA ra đời, tập quán Hoa Kỳ thừa nhận đơn
kiện được đệ trình đại diện cho một ngành công nghiệp nội địa trừ khi đại đa
số các công ty trong nước quả quyết phản đối nội dung của đơn kiện.
Bộ Thương mại sẽ xác định mức độ phản đối này chỉ sau khi phản đối được
nêu ra. Theo đúng các quy định hiện hành của Hiệp định ch
ống bán phá giá
WTO và URAA, đơn kiện được xem là được đệ trình “bởi ngành công nghiệp
nội địa hoặc đại diện của ngành công nghiệp” chỉ khi nó được sự ủng hộ bởi
các nhà sản xuất trong nước hoặc nhóm những người lao động được tính toán
là tạo ra:
1/ tối thiểu 25% tổng sản lượng sản phẩm tương tự trong nước; và
2/ hơn 50% tổng sản phẩm tương tự trong nước đượ
c sản xuất bởi các nhà sản
xuất đã bày tỏ ý kiến tán thành hoặc phản đối đơn kiện đó.
Trong trường hợp đơn khiếu kiện không chứng minh được sự ủng hộ
của những nhà sản xuất trong nước hay nhóm những người lao động trong
nước được tính toán là tạo ra hơn 50% tổng sản lượng của sản phẩm tương tự
trong nước, Bộ Thương mạ
i thông thường sẽ tiến hành một cuộc bỏ phiếu
cách Bộ Thương mại Mỹ gửi cho các nhà nhập khẩu và xuất khẩu những mặt
hàng đang được điều tra những bản yêu cầu cung cấp thông tin (Requests for
information - RFI) hoặc bảng câu hỏi. Do cơ cấu kinh doanh đã trở nên phức
tạp hơ
n và những yêu cầu từ các hiệp định liên quan của WTO cũng ngày
càng phức tạp rắc rối, bảng câu hỏi này theo thời gian cũng trở nên chi tiết và
phức tạp hơn. Bảng câu hỏi thông thường phải được trả lời trong thời hạn 30
Chương I: Khái quát chung về Luật Chống bán phá giá của Mỹ
Phan Thị Tuyết - Pháp 2 - K38E
8
ngày, tuy nhiên trong những trường hợp nhất định, thời hạn trả lời có thể
được gia hạn thêm một thời gian ngắn.
Bộ Thương mại Mỹ thường chỉ kiểm tra doanh số bán hàng chiếm
khoảng từ 60% đến 85% trong tổng kim ngạch xuất khẩu vào Hoa Kỳ từ một
nước đối tượng cụ thể. Do vậy, những nhà sản xuất hoặc người xuất khẩu nhỏ
có thể sẽ không nhận được bảng câu hỏi.
Nếu việc trả lời bảng câu hỏi không đầy đủ, thoả đáng, thì bên trả lời sẽ
được nhanh chóng thông báo về sự không đầy đủ, thoả đáng này, đồng thời
được tạo cơ hội để sửa chữa hoặc giải thích sự không đầy đủ này. Bộ Thương
mại có thể sẽ phải xem xét đến các thông tin phản hồi
được đệ trình trong thời
gian gia hạn nếu bên trả lời đã “cố gắng hết khả năng của mình” để cung cấp
các thông tin được yêu cầu.
Cũng như Bộ Thương mại, ITC sử dụng bảng câu hỏi như những
phương thức cơ bản trong việc thu thập thông tin. Bảng câu hỏi được gửi đến
cho các nhà sản xuất, nhập khẩu, tiêu dùng và xuất khẩu trong nước. Bảng
câu hỏi nói chung sẽ xem xét tới một khoảng thời gian 3 năm và yêu cầu
những thông tin liên quan đến đủ các loại chỉ số kinh tế khác nhau như chỉ số
sản xuất, năng lực tiêu dùng, vận tải, xuất khẩu, bán hàng, lao động, chi phí
vốn và chỉ số giá cả.
Phần E hỏi về các giá trị gia tăng cho mặt hàng sau khi đã nh
ập vào lãnh
thổ Hoa Kỳ như lắp ráp, đóng gói,…nếu có trước khi chuyển qua cho các bạn
hàng không liên kết. Phần này thường được thẩm định sau khi nghiên cứu
phần A để biết về mô hình hoạt động của công ty xuất khẩu.
Theo một điều khoản do URAA bổ sung năm 1994, Bộ Thương mại và
ITC phải tạo cho các hiệp hội người tiêu dùng và các hiệp hội ngành cơ hội đệ
trình các thông tin liên quan phục vụ cho công việ
c xem xét. Cả Bộ Thương
mại lẫn ITC cũng phải tính đến những khó khăn mà các bên, đặc biệt là các
doanh nghiệp nhỏ và các doanh nghiệp của các quốc gia đang phát triển gặp
phải trong quá trình cung cấp các thông tin theo yêu cầu. Hai cơ quan có thẩm
quyền sẽ cung cấp sự hỗ trợ như vậy, nếu xét thấy có thể, để tránh tạo ra các
gánh nặng vô lý cho bên trả lời.
Chương I: Khái quát chung về Luật Chống bán phá giá của Mỹ
Phan Thị Tuyết - Pháp 2 - K38E
10
5.2. Các dữ kiện thực tế sẵn có (Những thông tin tốt nhất sẵn có)
Nếu một bên được hỏi không có khả năng hoặc không sẵn sàng cung
cấp những thông tin do Bộ Thương mại và ITC yêu cầu trong thời hạn quy
định và theo hình thức được yêu cầu, thì các cơ quan này có thể dựa trên các
“dữ kiện thực tế sẵn có”, kể cả những lý lẽ viện dẫn trong đơn khiếu kiện và
những nhận định trước đó để đưa ra quyết định. Nếu bên được hỏ
i từ chối hợp
tác, nhìn chung Bộ Thương mại sẽ đưa ra kết luận bất lợi và áp đặt mức thuế
suất cao nhất có thể.
Bộ Thương mại và ITC có thể sẽ xem xét đến những hoàn cảnh cụ thể
của doanh nghiệp khi cung cấp những thông tin được yêu cầu, bao gồm
(nhưng không giới hạn): quy mô, hệ thống kế toán, năng lực máy tính của
doanh nghiệp cũng như s
hữu độc quyền cần bảo mật phải được gửi đến đồng thời
cùng với bản đệ trình. Nếu được chấp nhận là thông tin thuộc sở hữu độc
quyền, tài liệu được định rõ như vậy có thể được trao cho những cá nhân cụ
thể nhất định theo một trình tự bảo mật hành chính (APO).
Các luật sư hoặc những đại diện khác nhau của bên có quyền và l
ợi ích
liên quan có thể tiếp cận được các bản đệ trình thuộc sở hữu độc quyền của
các bị đơn nếu họ chứng minh được nhu cầu tiếp cận thông tin thích đáng của
mình và có thể bảo mật thoả đáng hiện trạng của sở hữu độc quyền trong tài
liệu. Hành vi vi phạm các trình tự bảo mật hành chính có thể dẫn đến các hình
phạt hoặc thậm chí dẫn
đến việc khai trừ hành nghề luật sư trước những cơ
quan được nói ở trên.
Những thông báo về các quyết định bắt đầu và đình chỉ, các quyết định
sơ bộ và cuối cùng, và về những lần xem xét lại (kể cả những dữ kiện thực tế
sẵn có và những kết luận chứng minh cho các quyết định trên) phải được công
bố công khai trên Công báo liên bang.
5.5. Sản phẩm tương tự và các Quyết định về phạm vi
Các vấn đề đôi khi phát sinh chẳng hạn như liệu một sản phẩm cá biệt
nào đó có thuộc phạm vi điều tra chống bán phá giá hay không. Trong những
trường hợp như vậy Bộ Thương mại có thể ban hành “những quyết định về
Chương I: Khái quát chung về Luật Chống bán phá giá của Mỹ
Phan Thị Tuyết - Pháp 2 - K38E
12
phạm vi” mà những quyết định này sẽ làm rõ phạm vi của một lệnh về một
hàng hoá cụ thể.
Những quy định trên nhằm đảm bảo chắc chắn hàng hoá nhập khẩu có
thể so sánh được với hàng hoá cùng loại được sản xuất tại Hoa Kỳ hoặc “hàng
hóa tương tự”. Một “sản phẩm tương tự” được xác định bởi Luật thuế năm
1930 là “một sản ph
phẩm và giá cả nếu thích hợp. Không có yếu tố đơn lẻ nào có tính chất quyết
định và các yếu tố khác cũng cần phải được xem xét.
6. Xác định việc bán phá giá
Bộ Thương mại xác định biên độ bán phá giá bằng việc so sánh giá cả
của các sản phẩm đối tượng được bán tại Hoa Kỳ (giá xuất khẩu) với “giá trị
chuẩn” của hàng hoá đó. “Giá trị chuẩn” được xác định là giá, mà tại một thời
điểm tương ứng hợp lý với thời điểm bán hàng hoá với giá đó, được sử dụng
để xác định giá xuất khẩu hoặc giá xu
ất khẩu xây dựng, hoặc là giá “tại một
thời điểm mà sản phẩm nước ngoài được bán đầu tiên cho một người mua
không có quan hệ chi phối để tiêu thụ tại nước xuất khẩu, với số lượng thương
mại thường xuyên và trong quá trình buôn bán trao đổi thông thường và trong
phạm vi có thể thực hiện được, cùng một mức độ thương mại với giá xuất
khẩu hoặc giá xuất khẩu c
ấu thành”.
Để xác định ngày bán của hàng hoá đang được xem xét hoặc sản phẩm
tương tự của nước ngoài, thông thường Bộ Thương mại sẽ sử dụng ngày của
hoá đơn, do được ghi chép trong sổ sách của người xuất khẩu hoặc nhà sản
xuất. Tuy nhiên, một ngày khác có thể sẽ được sử dụng nếu Bộ Thương mại
cảm thấy nó phản ánh đúng hơn ngày được ấn đị
nh trong các điều khoản quan
trọng của hợp đồng, bao gồm cả giá và số lượng. Việc xác định ngày bán
hàng chính xác của hàng hoá có ảnh hưởng lớn đến việc chuyển đổi ngoại tệ
và sự so sánh giá cả đặc biệt là trong trường hợp lạm phát lớn hay các thị
trường có giá cả thất thường.
Với những cuộc điều tra áp dụng cho nền kinh tế thị trường, Bộ
Th
ương mại thường xem xét thông tin giá cả trong 4 quý tài chính gần nhất
tính từ tháng trước tháng mà đơn kiện được đệ trình (có nghĩa là thời gian
điều tra). Tuy nhiên, Bộ Thương mại cũng có thể xem xét bất cứ giai đoạn bổ
được hỗ trợ về thuế do được miễn, miễn giảm hoặc
được hoàn thuế;
Các khoản chiết khấu và giảm giá được hưởng do trả bằng tiền mặt hoặc
mua số lượng lớn hoặc thanh toán sớm hoặc quan hệ lâu dài. Bộ Thương mại
Chương I: Khái quát chung về Luật Chống bán phá giá của Mỹ
Phan Thị Tuyết - Pháp 2 - K38E
15
sẽ trừ đi những khoản chiết khấu, giảm giá như vậy nếu chúng được cấp và
được thực hiện ở nước xuất khẩu.
Những điều chỉnh giá trị chuẩn được thực hiện trong trường hợp có
sự chênh lệch về giá cả mà nguyên nhân của sự chênh lệch về giá là do:
- Sự chênh lệch về số lượng hàng hoá bán ra: số lượng hàng hoá bán ra
tại thị
trường trong nước và tại thị trường Hoa Kỳ khác nhau có thể sẽ dẫn
đến sự chênh lệch về giá cả. Bộ Thương mại sẽ đưa ra sự điều chỉnh về số
lượng nếu bị đơn có thể chứng minh được rằng những chênh lệch về số lượng
hàng hoá bán ra có thể ít nhất một phần tạo ra sự_chênh lệch vW giá.
- Sự khác biệt vật chấ
t của sản phẩm bán ra tạiíthị trường trong nước và
dành cho mục đích xuất khẩu. Bộ Thương mại sẽ xem xét giảm trừ vì sự khác
nhau về chất lượng vật chất của hàng hoá dựa trên sự khác nhau trong những
chi phí biến động của sản xuất. Bộ Thương mại sẽ không xem xét đến sự khác
nhau trong chi phí sản xuất khi hàng hoá được so sánh giống hệt mhau về
c™c đặc tính vật lý.
- Sự khác nhau v
ề điều ki³n bán hàng. NhữngíƯiều chỉnh sẽ được tính
đến cho những khác biệt về cácùchi phí bán hàng giữa việc bán hàng ở thị
trường trong nước và bán hàng xuất khẩu. Đối với các chi phí bán hàng liên
quan trực tiếp, Bộ Thương mại sẽ thực hiện những điều chỉnh trong phạm vi
các chi phí mà nhà sản xuất phải trả (hoặc phải chịu) thay mặt cho người nhập
nếu một sản phẩm được bán theo hai cấp bán hàng tại thị trường trong nước
(bán cho nhà phân phối và rồi tới người tiêu dùng cuối cùng) và tất cả hàng
bán tại Hoa Kỳ là bán cho người tiêu dùng cuối cùng, thì chỉ có việc bán hàng
trên thị trường trong nước tới người tiêu dùng cuối cùng mới được xem xét
cho mục đích so sánh này. Nếu không có cấp bán hàng tương đương tại thị
trường nội địa, sự sửa đổi giá trị chuẩn th
ường được tính toán dựa trên tỷ lệ
phần trăm (%) chênh lệch giữa các giá bình quân gia quyền tại mỗi cấp trong
hai cấp bán hàng được sử dụng.
Để yêu cầu một sự điều chỉnh, các nhà sản xuất nước ngoài phải chứng
minh hai hiệu quả của các hoạt động bán hàng khác nhau và một trường hợp
Chương I: Khái quát chung về Luật Chống bán phá giá của Mỹ
Phan Thị Tuyết - Pháp 2 - K38E
17
mẫu của những chênh lệch giá phù hợp khi bán cùng một hàng hoá cho các
cấp độ bán hàng khác nhau ở thị trường nước ngoài.
Để xác định hành vi bán phá giá từ một nước có nền kinh tế phi thị
trường, thông thường Bộ Thương mại sẽ tính giá trị chuẩn bằng cách định giá
các yếu tố sản xuất của các nhà sản xuất ở các nước kinh tế phi thị trường
trong điều kiện một nước có nề
n kinh tế thị trường gần giống nhất với nước
kinh tế phi thị trường đó.
6.1.2. Trường hợp bán hàng thấp hơn chi phí sản xuất trong tiến
trình thương mại thông thường
Bộ Thương mại sẽ loại trừ việc bán hàng với giá thấp hơn chi phí sản
xuất trên mỗi đơn vị sản phẩm khỏi sự tính toán giá trị chuẩn, khi việc bán
hàng được thực hiện v
ới số lượng đáng kể và không cho phép bù đắp mọi chi
phí trong một khoảng thời gian hợp lý. Việc bán hàng như vậy bị loại trừ vì
chúng bị coi như trái với “tiến trình thương mại thông thường”. Cụm từ
Dựa trên những lý lẽ do bên khiếu kiện đưa ra, Bộ Thương mại sẽ tiến
hành điều tra để xác định xem giá bán hàng hoá đó tại thị trường trong nước
có thấp hơn chi phí sản xuất hay không nế
u như họ có cơ sở hợp lý để tin
tưởng hoặc nghi ngờ hàng hoá đó đã được bán với giá thấp hơn chi phí sản
xuất. Các tính toán chi phí sản xuất được dựa trên sổ sách của chính các nhà
sản xuất hoặc nhà xuất khẩu nếu như các sổ sách ấy được thực hiện phù hợp
với các nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng răi tại nước của nhà xuất
khẩu hoặc nhà sản xuất (GAAP).
Những điều chỉnh đặc biệt tới chi phí sản xuất sẽ được thực hiện và có
tính đến các chi phí liên quan tới các hoạt động khởi đầu trong những trường
hợp liên quan đến các phương tiện sản xuất mới hoặc các sản phẩm mới đòi
hỏi phải có sự đầu tư bổ sung lớn.
Ngoài việc bán hàng hoá thấp hơn chi phí sả
n xuất, thì các hình thức
bán hàng khác cũng có thể bị loại trừ khỏi việc tính toán giá trị chuẩn vì Bộ
Thương mại cho rằng chúng trái với tiến trình thương mại thông thường. Ví
dụ như: việc bán hàng mẫu, hàng kém chất lượng, hàng đã ngừng sản xuất,
bán thử nghiệm và bán với số lượng rất nhỏ.
Chương I: Khái quát chung về Luật Chống bán phá giá của Mỹ
Phan Thị Tuyết - Pháp 2 - K38E
19
6.1.3. Tính khả thi ở thị trường trong nước hoặc doanh số bán hàng
trong nước của nước thứ ba
Giá trị chuẩn được căn cứ vào việc bán hàng tương tự ở thị trường nội
địa của nhà sản xuất hoặc nhà xuất khẩu nếu doanh số bán hàng được coi như
là đủ để có thể đưa ra một sự so sánh “khả thi” với giá xuất khẩu và việc bán
hàng là phù hợp với “tiế
n trình thương mại thông thường”. Để được coi là khả
thi, doanh số bán hàng trong nước phải tương đương ít nhất 5% doanh số bán
có những kiểm soát hết sức nhậy cảm của Chính phủ đối v
ới việc định giá tại
một thị trường nước ngoài mà giá cả tại thị trường đó không thể được xem là
tạo cạnh tranh; và (3) có những loại nhu cầu khác nhau giữa thị trường Hoa
Kỳ và một thị trường nước ngoài.
Hơn nữa, theo những trình bày dưới đây, việc bán hàng cho người có
quan hệ chi phối có thể không được sử dụng cho việc tính toán giá trị chuẩn
trong những hoàn cảnh nhất đị
nh. Nếu cả hai việc bán hàng trong nước và bán
hàng trong nước của thị trường nước thứ ba đều bị coi là không thích đáng,
thì giá trị xây dựng sẽ được sử dụng.
6.1.4. Giá trị cấu thành
Khi việc bán hàng trong nước của nước thứ ba không thể được sử dụng
trong việc hình thành giá trị chuẩn bởi vì việc bán hàng đó không phù hợp với
tiến trình thương mại thông thường hoặc không thoả mãn về mặt số l
ượng để
cho phép có được sự so sánh điển hình, thì giá cả hàng hoá bán cho Hoa Kỳ
được so sánh với giá trị cấu thành. Giá trị cấu thành này được tính toán bằng
tổng các chi phí quản lý, bán hàng, chi phí chung, và các khoản lợi nhuận hợp
lý.
Đối với việc tính toán lợi nhuận, Luật trước khi có vòng đàm phán
Uruguay đã yêu cầu Bộ Thương mại phải cộng vào một mức cao hơn lợi
nhuận thực tế hoặc 8% của tổng chi phí cho sản xu
ất và các chi phí chung.
Các chi phí bán hàng, quản lý và chi phí chung (SGA) đã được tính toán tối
thiểu bằng 10% chi phí sản xuất, hoặc 10% các chi phí thực tế, tuỳ vào chi phí
Chương I: Khái quát chung về Luật Chống bán phá giá của Mỹ
Phan Thị Tuyết - Pháp 2 - K38E
21
nào cao hơn. Để tính toán giá trị cấu thành, hiện nay Bộ Thương mại sử dụng
22
6.2.1. Những điều chỉnh
Để tính toán chính xác giá xuất khẩu xưởng, giá ban đầu (đơn giá tổng)
bán cho khách hàng không có quan hệ chi phối hoặc liên kết đầu tiên tại thị
trường Hoa Kỳ sẽ bị khấu trừ đi bất kỳ khoản nào nếu có dưới đây:
- Chi phí vận chuyển phát sinh trong quá trình vận chuyển hàng hoá từ
nhà máy tới nơi bán hàng (các chi phí này bao gồm cước vận chuyển nội địa
ở nước ngoài, thuê kho ở nướ
c ngoài, cước vận chuyển nội địa ở Hoa Kỳ,
cước vận chuyển và bảo hiểm đường biển, đường hàng không quốc tế, phí
môi giới ở Mỹ, khi mà những chi phí này đã bao gồm trong giá);
- Bao bì đóng gói đặc biệt để xuất khẩu;
- Thuế nhập khẩu và các loại thuế khác do nước xuất khẩu áp dụng mà
những khoản thuế này đã được giảm trừ hoặc không thu do hoạt độ
ng xuất
khẩu;
- Thuế trợ cấp (chống trợ cấp) do chính quyền Hoa Kỳ áp đặt để bù đắp lại
thiệt hại do chính sách trợ cấp của một Chính phủ nước ngoài gây ra; hoặc
- Các khoản chiết khấu và giảm giá (Bộ Thương mại sẽ trừ những khoản này
nếu chúng được cấp và thực hiện tại thị trường trong nước).
6.2.2. Phương pháp lấy m
ẫu hàng hoá và Tính bình quân
Hiệp định đàm phán Uruguay cho phép Bộ Thương mại được sử dụng
các phương pháp lấy mẫu thống kê hợp lệ và phương pháp tính bình quân để
xác định giá xuất khẩu, giá xuất khẩu xây dựng hoặc giá trị chuẩn nếu có
được một doanh số bán hàng đáng kể hoặc một số lượng hoặc nhiều loại sản
phẩm đáng kể. Bộ Thương mại được tùy ý trong việ
c lựa chọn để sử dụng
những mẫu và các số trung bình nhưng phải tham khảo ý kiến của các nhà sản
xuất và xuất khẩu. Hơn nữa, nếu việc xác định các biên độ bán phá giá bình
ớn hơn chi phí sản xuất ra đầu vào và Bộ Thương mại cũng yêu cầu bên bị
kiện phải báo cáo các chi phí sản xuất thực tế của nhà cung cấp. Những điều
chỉnh yêu cầu có thể cũng không được phép khi mà giá chuyển nhượng thấp
hơn giá trị trường.
Các bên bị coi là có quan hệ chi phối hoặc liên kết nếu:
- Một bên kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp đối vớ
i bên kia;