Tài liệu Luận văn tốt nghiệp "Hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Cổ phần Xây Lắp Hải Long" - Pdf 84

Luận văn tốt nghiệp
Hiệu quả sử dụng vốn của Công ty
Cổ phần Xây Lắp Hải Long
1
LỜI NÓI ĐẦU
Vốn là một trong những vấn đề nóng bỏng hiện nay đối với các doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường nói chung, đối với doanh nghiệp Nhà
nước nói riêng. Bởi vậy nhiệm vụ của doanh nghiệp là phải tổ chức huy động
và sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất trên cơ sở nguyên tắc tài chính, tín
dụng và chấp hành pháp luật. Việc thường xuyên tiến hành biến động vốn và
nguồn vốn sẽ giúp cho các nhà nước quản lý doanh nghiệp và các cơ quan chủ
quản cấp trên thấy được thực trạng cũng như các nguyên nhân và mức độ ảnh
hưởng của từng nhân tố tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Nhận thức được yêu cầu đòi hỏi đó sau một thời gian thực tập tốt nghiệp
tại Công ty Cổ phần Xây Lắp Hải Long với sự giúp đỡ của giáo viên hướng
dẫn - cùng sự giúp đỡ của cán bộ công nhân viên trong công ty tôi đã nghiên
cứu và hoàn thiện chuyên đề thực tập của mình với đề tài: "Hiệu quả sử dụng
vốn của Công ty Cổ phần Xây Lắp Hải Long" với mục tiêu vận dụng những
kiến thức đã học vào thực tiễn để phân tích hiệu quả sử dụng vốn của công ty
từ đó đưa ra một số ý kiến nhằm hoàn thiện nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
của công ty trong thời gian tới.
Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong đề tài gồm:
Chương 1: Thực trạng quản lý và sử dụng vốn ở Công ty Cổ phần Xây
Lắp Hải Long.
Chương 2: Một số nhận xét và ý kiến nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn ở Công ty Xây Lắp Hải Long
2
CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN
Ở CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY LẮP HẢI LONG
1.1. Khái quát về tình hình công ty.
1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty:

cấp là 32 người công nhân kỹ thuật cso tay nghề từ Bậc 4 trở lên là 61 người
và 162 lao động phổ thông... Là công ty xây lắp cho nên đặc điểm sản xuất
kinh doanh mang tính chất riêng biệt đòi hỏi công ty phải có một mô hình tổ
chức sản xuất phù hợp để đạt hiệu quả cao tránh tổn thất. Mô hình quản lý của
công ty có kết cấu như sau:
* Tổ chức bộ máy quản lý.
+ Giám đốc: Là người đại diện pháp nhân của công ty chịu trách nhiệm
trước đại hội cổ đông về kết quả hoạt đoọng kinh doanh thực hiện nghĩa vụ
đối với nhà nước bảo toàn và phát triển vốn cũng như đảm bảo đời sống cho
công nhân viên.
Giúp việc trực tiếp cho giám đốc trong công tác quản lý boa gồm 2 phó
giám đốc và kế toán trưởng.
+ Phó giám đốc: Là người giúp giám đốc điều hành một hoặc một số
lĩnh vực hoạt động của công ty theo sự phân công của một số lĩnh vực hoạtd
động của công ty theo sự phân công của giám đốc và chịu trách nhiệm trước
giám đốc về nhiệm vụ được phân công thực hiện.
+ Kế toán trưởng: Có chức năng tham mưu giúp giám đốc tổ chức triển
khai, thực hiện toàn bộ công tác tài chính kế toán, thông tin kinh tế và hạch
4
toán kinh tế ở toàn công ty theo điều lệ của công ty. Đảm nhận việc tổ chức
triển khai thực hiện công tác tài chính phục vụ sản xuất kinh doanh đem lại
hiệu quả cao nhất.
+ Phòng kế hoạch tiếp thị: Tham mưu cho giám đốc tổ chức triển khai,
chỉ đạo về mặt kế hoạch và tiếp thị kinh tế. Thường xuyên quan hệ với các cơ
quan hữu quan khách hàng trong và ngoài nước để nắm bắt kịp thời các dự án
báo cáo lãnh đạo công ty. Theo lời giá cả và lập giá trào hàng.... Tham gia
Xây dựng kế hoạch đầu tư sản xuất kinh doanh ngắn hạn và dài hạn của công
ty, giao kế hoạch và nhiệm vụ sản xuất kinh doanh cho các đội.
+ Phòng tổ chức lao động và hành chính: Tham mưu cho Đảng uỷ và
giám đốc tổ chức triển khai và chỉ đạo về mặt tổ chức lao động thanh tra, bảo

danh
Phó giám đốc kỹ
thuất thi công
Phòng tài chính
kế toán
Phòng kỹ thuật
thi công
Phòng tổ chức
tổng hợp
Đội xây dựng số 5 Đội dịch vụ khác
Tổ
SX
Tổ
SX
doanh thành hai bộ phận: Vốn cố định và vốn lưu động. Cơ cấu vốn của công
ty Cổ phần Xây lắp Hải Long trong 3 năm được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1: Cơ cấu vốn của Công ty cổ phần Xây lắp Hải Long
Đơn vị: 1000 đồng
Năm 1998 1999 2000
Số tiền Tỷ lệ % Số tiền Tỷ lệ % Số tiền Tỷ lệ %
Tổng
vốn
7543215 100 9757976 100 9402556 100
VCĐ 3023281 40,07 2693887 27,61 2865187 30,48
VLĐ 4519934 59,93 7064089 72,39 6537369 69,52
Nguồn: Trích báo cáo kết quả kinh doanh các năm 1998; 1999; 2000
Qua bảng số liệu trên cho thấy trong 3 năm gần đây tỷ trọng vốn lưu
động của công ty chiếm ≈ 705 tổng số vốn kinh doanh còn cố định chỉ chiếm
≈ 30%. Kết cấu này được giải thích là hợp lý bởi vì sản phẩm của ngành xây
lắp chính là các công trình và hạng mục công trình nên cần sử dụng tỷ trọng

phải thu
1657011 36,66 3172048 44,91 4963271 75,92
Nguồn: trích báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty trong 3 năm 1998;
1999; 2000.
Cơ cấu giá trị tài sản lưu động trên đây phản ánh tình hình chung của hầu
hết các công ty Xây lắp đó là bộ phận khoản phải thu và khoản dự trữ thường
chiếm tỷ lệ cao trong tổng số còn lưu động. Về các khoản phải thu thì các
công ty Xây lắp nói chung và công ty Cổ phần Xây Lắp Hải Long nói riêng
khó điều chỉnh được vì đây là những khoản bên A (chủ trương trình ) phải trả
thì đã được quy định rõ từng thời hạn trong bảng hợp đồng Xây lắp lồi. Đây
chính là tình trạng công ty bị chiếm dụng vốn tạm thời một cách hợp pháp
trong thời hạn của hợp đồng Xây lắp. Tuy nhiên đối với những khoản dự trữ
chúng ta lại có thể điều chỉnh được để có một cơ cấu vốn thật hợp lý. Nếu như
trong thời kỳ bao cấp kế hoạch hoá tập trung và thời kỳ đầu khi mới áp dụng
8
cơ chế kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước đo vật tư khan
hiếm phải để các khoản dự trữ chiếm tỷ lệ cao đảm bảo cho sản xuất được
liên tục là phù hợp thì xu hướng này hiện nay cần thay đổi. Như chúng ta đã
biết nền kinh tế Việt Nam sau khi áp dụng cơ chế kinh tế thị trường tự do
cạnh tranh và chính sách kinh tế mở với nhiều thanh phần kinh tế cũng tồ tại
đã có những thay đổi đáng kể. Riêng về mặt vật tư cho Xây lắp có thể nói trên
thị trường có rất nhiều loại, nhiều hãng sản xuất khác nhau với số lượng va
chất lượng đa dạng điều đó cũng có nghĩa là vật tư cho ngành xây lắp không
còn khan hiếm. Chính vì vậy công ty có thể giảm bớt tỷ trọng của khoản dự
trữ trong doanh nghiệp để có thể có thêm vốn đầu tư vào các bộ phận khác
cũng như mở rộng phạm vi kinh doanh... Công ty cổ phần Xây lắp Hải Long
đã áp dụng đổi mới hướng này một cách rất tốt biểu hiện bằng việc giảm từ
4709% khoản dự trữ trong tổng giá trị tài sản lưu động năm 1999 xuốngcòn
16,08% năm 2000 và điều này cần phát huy tốt trong những năm tới. Tuy
nhiên, để áp dụng tốt cần nghiên cứu kỹ sự biến động của thị trường vật tư

là vay nợ ngân hàng và nợ nhà cung cấp trong thời hạn cho phép. Chúng ta dễ
thấy phần lớn số vốn thu hút từ các nguồn đều được bổ xung cho tài sản lưu
động của công ty nhất định là phần tỷ trọng về các khoản phải thu. Trong thời
gian tới để có hướng đi mới huy động được vốn nhiều hơn có thể đáp ứng
được các nhu cầu của khách hàng về chất lượng công trình, hạng mục công
trình, mở rộng sản xuất, nâng cao công nghệ thi công... Công ty nên trú trọng
việc quản lý và sử dụng vốn. Số vốn này phải được phân bổ cho hợp lý để có
thể thu hồi vốn trả nợ thanh toán các khoản chi phí sử dug vốn; nộp nghĩa vụ
cho nhà nước đầy đủ mà vẫn thu được lợi nhuận cho doanh nghiệp tăng lợi
tức cho cổ động thì mới là sử dụng vốn có hiệu quả.
1.2.2. Tình hình thanh toán của công ty.
Ta xem xét tình hình thanh toán của công ty đối với nhà nước. Để thực
hiện quyền bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị
trường, Công ty Cổ phần Xây lắp Hải Long cũng như các doanh nghiệp nhà
nước. Theo quy định 22/HĐBT ra năm 1991 khoản thu sử dụng vốn ngân
sách được hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh nhưng theo nghị định
59/CP của chính phủ ra năm 1996 Công ty phải trích lợi nhuận thuế để nộp
10
thu sử dụng vốn ngân sách cho nhà nước. Ngoài khoản đó công ty phải nộp
đầy đủ các khoản như mọi doanh nghiẹp. Thể hiện ở bảng sau:
Bảng 4: Tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước.
Đơn vị: 1000 đồng

m
Chỉ tiêu
1998 1999 2000
Tổng nộp cho nhà
nước
406894 635968 588563
Thu sử dụng vốn

Công ty Cổ phần Xây lắp Hải Long.
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là chỉ tiêu tổng hợp nhất đánh giá
hiệu quả sử dụng sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp. Công ty Cổ
phần Xây lắp Hải Long đã đạt được những kết quả như sau:
Bảng 5: Một số kết quả hoạt động kinh doanh của công ty
Đơn vị: 1.000.000 đồng

m
Chỉ tiêu
1998 1999 2000
Tổng doanh thu 9473,67 13292,94 13298
Doanh thu
thuần
9162,31 12843,62 11954,08
Lợi nhuận 304,36 499,32 487,23
Vốn lưu động 4519,93 7064,54 6537,36
Nguồn: Tính báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
các năm: 1998; 1999; 2000.
1.2.3.2. Hiệu quả sử dụng vốn cố định của công ty.
Đối với một doanh nghiệp trong ngành xây lắp thì tài sản cố định ảnh
hưởng rất lớn đến kết quả kinh doanh. Vì nó chính là các máy móc sản xuất;
thi công quyết định cho chất lượng hiệu quả kinh tế của các công trình, hạng
mục công trình.
12
Đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định một cách chính xác là một
trong những việc làm quan trọng để tìm ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng chung. Thực tế công ty đã dùng các chỉ tiêu sau;
+ Chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng tài sản cố định.
+ Chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận của tài sản cố định.
+ Hệ số đảm nhiệm của tài sản cố định.

Doanh thu năm 1997 tăng so với năm 1998 là 3819,27 triệu (tức là tăng
40,3%) trong khi đó vốn cố định giảm 329,4 triệu (tức là giảm 10,9 %) như
vậy có thể nói năm 1999 công ty sử dụng tài sản cố định có hiệu quả cao hơn
năm 1998 vì mức tăng doanh thu và lợi nhuận đều cao trong khi tài sản cố
định giảm.
Đến năm 2000 tuy doanh thu tăng 5,06 triệu (0,03%) so với năm 1999 và
đã tăng 171,3 triệu (6,3%) nhưng lợi nhuận lại giảm 12,09 triệu (2,4%). Điều
này cho thấy sự cạnh tranh gay gắt của sản phẩm Xây lắp trên thị trường.
Trong thời gian tới công ty cần có những điều chỉnh mới để có thể sản xuất
kinh doanh tốt hơn khẳng định vị trí của mình trên thị trường.
Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn cố định nói lên rằng: Trong năm 1998
một đồng vốn cố định tạo ra 3,13 đồng doanh thu năm 99 là 4,93 đồng và năm
200 là 4,64 đồng. Số liệu này cho thấy vốn cố định được sử dụng tương đối
hiệu quả. Điều này càng được thể hiện qua hệ số đảm nhiệm của vốn cố định:
Năm 1998 để tạo ra một đồng doanh thu phải cần 0,3191 đồng vốn cố định
nhưng con số đã giảm xuống 0,1165 đồng (tức là 36,51%) trong năm 1999.
Đối với năm 2000 tuy hệ số đảm nhiệm tài sản cố định và hiệu suất sử dụng
vốn cố định có giảm chút ít so với năm 1999 nhưng vẫn lớn hơn trước đó hiệu
quả sử dụng vốn cố định được thể hiện cụ thể qua kết quả cuối cùng của hoạt
động kinh doanh đó là lợi nhuận.
Năm 1998 một đồng vốn cố định mang lại cho công ty 0,0321 đồng lợi
nhuận và mức lợi nhuận đã tăng lên 0,0054 (tức là tăng 16,8%) trong năm
1999. Có nghĩa là một đồng vốn cố định công ty tạo ra 0,0375 đồng lợi
nhuận. Cũng như các chỉ tiêu khác tỷ suất lợi nhuận tài sản cố định của công
ty năm 2000 đã giảm ít nhiều năm 1999 tuy vẫn lớn hơn những năm trước. Cụ
thể giảm 0,0009 đồng tức giảm 2,4% so với năm 1999.
Để hiểu rõ về hiệu quả sử dụng vốn cố định ta tìm hiểu chi tiết các chỉ
tiêu:
14
- Hiệu suất vốn cố định.

* ∆HS
VCĐ
/99
= 1,2633
+ 0,5376 = 1,8009
Vậy năm 1999 hiệu suất sử dụng vốn cố định tăng là do hai bộ phận sau
ảnh hưởng: Tăng doanh thu trong khi giảm tài sản cố định.
* ∆HS
VCĐ
(DT) năm 2000 = -
= - = 0,0019
* ∆HS
VCĐ
(VCĐ)
2000
= -
= - = - 0,2951.
* ∆HS
VCĐ/2000
= 0,0019 + 0,2951 = - 0,2932
Chỉ số này phản ánh sự giảm hiệu quả sử dụng vốn cố định của năm
2000 so với năm 1999 vì tài sản cố định tăng trong khi doanh thu hầu như giữ
nguyên (tăng rất nhỏ chỉ là 0,03%).
15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status