Luận văn
Pháp luật chống bán phá giá
hàng hóa nhập khẩu và cơ
chế thực thi tại Việt Nam 1
LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu
Khi cạnh tranh trong thương mại trở thành vấn đề toàn cầu thì pháp luật điều tiết
cạnh tranh cũng không còn là vấn đề nội bộ của các quốc gia. Vì thế, các chế định về
phòng vệ thương mại đã trở thành nội dung quan trọng trong khuôn khổ pháp luật về
thương mại quốc tế của Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Trong đó, chế định pháp
luật về chống bán phá giá luôn có vị trí quan trọng và được các nước áp dụng khá phổ
biến để bảo vệ các ngành sản xuất trong nước trước áp lực cạnh tranh từ hàng hóa
nhập khẩu bán phá giá. Tại Việt Nam, pháp luật về chống bán phá giá đã có những
bước phát triển nhất định với việc ban hành Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa
nhập khẩu vào Việt Nam năm 2004. Lần đầu tiên các quy định về bán phá giá và
chống bán phá giá được ghi nhận trong một văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao là
Pháp lệnh.
Tuy nhiên, do vấn đề chống bán phá giá còn mới trong khoa học pháp lý và việc
nghiên cứu kinh nghiệm của các nước, việc tiếp nhận pháp luật của WTO vào pháp
luật nội địa còn nhiều hạn chế nên các quy định trong Pháp lệnh chống bán phá giá
còn nhiều điểm chưa hợp lý, các quy định còn đơn giản và mang tính nguyên tắc,
nhiều nội dung quan trọng chưa được quy định hoặc chưa được giải quyết triệt để. Sự
và định hướng cho sự phát triển của lĩnh vực pháp luật này trong tương lai là cần thiết
không chỉ nhằm bảo đảm sự tương thích mà còn đảm bảo khả năng thực thi của pháp
luật trên thực tế.
Nghiên cứu về bản chất pháp lý của hành vi bán phá giá hàng hóa nhập khẩu và
chống bán phá giá tại Việt Nam đặt ra nhiều vấn đề phức tạp cả về lý luận và thực tiễn
do chúng ta tiếp cận lĩnh vực pháp luật này trong bối cảnh đặc biệt. Các quy định trong
Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam năm 2004 được xây
dựng từ kết quả tiếp thu một cách đơn giản và chưa đầy đủ pháp luật WTO cũng như
pháp luật các nước nên các vấn đề lý luận về vấn đề này vẫn còn bỏ ngỏ trong khoa
học pháp lý.
Từ những lý do trên tác giả đã lựa chọn đề tài “Pháp luật chống bán phá giá
hàng hóa nhập khẩu và cơ chế thực thi tại Việt Nam” làm đề tài luận án. Việc
nghiên cứu cơ sở lý luận và các vấn đề đặt ra từ thực tiễn pháp luật chống bán phá giá
không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có giá trị thực tiễn sâu sắc.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích chính của luận án là nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề lý
luận để làm rõ bản chất pháp lý và kinh tế của bán phá giá hàng hóa nhập khẩu; nghiên
cứu các quy định của pháp luật chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam
nhằm đưa ra những đánh giá có cơ sở khoa học và thực tiễn về thực trạng pháp luật;
3
luận án phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật nhằm lý giải về
tình trạng pháp luật đã không được áp dụng trong thời gian có hiệu lực vừa qua và dự
báo những khó khăn cần giải quyết khi tổ chức thực thi pháp luật. Thông qua luận án,
tác giả mong muốn góp phần hoàn thiện một bước lý luận, các quy định của pháp luật
và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực áp dụng pháp luật chống bán phá
già hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam. Theo đó, đề tài có các nhiệm vụ sau:
1. Nghiên cứu các cơ sở kinh tế - pháp lý về bán phá giá, phân tích bản chất của
hiện tượng bán phá giá và tác động nhiều mặt của nó đến sự phát triển thị trường của
quốc gia nhập khẩu, đồng thời nghiên cứu về nhu cầu điều chỉnh của pháp luật chống
Về cơ chế thực thi pháp luật chống bán phá giá tại Việt Nam, do giới hạn về
dung lượng của Luận án nên tác giả chỉ tập trung phân tích hệ thống và mối quan hệ
về thẩm quyền giữa các cơ quan điều tra, xử lý vụ việc chống bán phá giá theo pháp
luật hiện hành. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những đánh giá về tính hợp lý, hiệu quả
và đề xuất phương hướng hoàn thiện bộ máy thực thi pháp luật.
4. Tình hình nghiên cứu
Bán phá giá và áp dụng các biện pháp chống bán phá giá là đề tài đã được một số
nhà khoa học nghiên cứu. Đã có một số sách và một số đề tài chuyên khảo về vấn đề
này, như “Bán phá giá và biện pháp chống bán phá giá hàng nhập khẩu” của tác giả
Đoàn Văn Trường do Nhà xuất bản thống kê xuất bản năm 1998; Đề tài nghiên cứu
khoa học cấp bộ của Vụ chính sách đa biên – Bộ thương mại “ cơ sở khoa học áp dụng
thuế chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập
kinh tế quốc tế” được nghiệm thu năm 2000; đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ do
VCAD chủ trì “ Các giải pháp ứng phó của Việt Nam đối với việc chống bán phá giá
trong thương mại quốc tế” đã được nghiệm thu năm 2005. Ngoài ra, trong quá trình
soạn thảo Pháp lệnh chống bán phá giá, Bộ thương mại tổ chức nhiều cuộc hội thảo về
vấn đề này, như cuộc hội thảo về pháp luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ và EU vào
cuối năm 2003; hội thảo về nâng cao năng lực chống bán phá giá cho Việt Nam trong
quá trình hội nhập kinh tế thế giới do Quỹ xây dựng năng lực quản lý quốc gia có hiệu
quả Việt Nam- Australia năm 2005; Hội thảo về Pháp luật và thực tiễn chống bán phá
giá tại Liên minh Châu Âu do Nhà pháp luật Việt – Pháp tổ chức tại Hà Nội và Thành
phố Hồ Chí Minh vào năm 2004….
Bên cạnh các sách chuyên khảo và các đề tài khoa học, còn có một số bài viết
của các nhà luật học cũng như kinh tế về phá giá trong thương mại quốc tế như: Tác
giả Lê Xuân Trường Trường và Nguyễn Đình Chiến với bài viết “Để áp dụng thành
công thuế đối kháng, thuế chống bán phá giá ở Việt Nam” đăng trên Tạp chí Tài chính
số 4 năm 2003; “Bàn về chống phá giá trong nền kinh tế thị trường” của tác giả Đoàn
Văn Trường đăng trên Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 227 tháng 4 năm 1997; “Góp ý
dự thảo Pháp lệnh chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu vào Việt Nam” của Vũ
Thái Hà đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 9 năm 2003; “Bán phá giá trong
các đàm phán WTO của các tác giả Lindsey Brink và Dan Ikensoon đăng trên tạp chí
phân tích chính sách thương mại của Viện Casto số 21 năm 2002; Luật chống bán phá
giá mới trong quá trình đàm phán của M. Koulen được công bố năm 1995; Hệ thống
thương mại thế giới của John H.Jackson được dịch sang tiếng Việt do Nhà xuất bản
Thanh niên xuất bản năm 2001….
Các công trình nghiên cứu trên của các tác giả đã tiếp cận vấn đề pháp luật chống
bán phá giá ở nhiều góc độ khác nhau và là những tài liệu quí báu cho chúng tôi trong
6
quá trình nghiên cứu đề tài của mình. Tuy nhiên, đề tài mà chúng tôi lựa chọn chỉ tập
trung nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về bán phá giá và chống bán
phá giá. Cho đến nay, vấn đề chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam nói
chung và pháp luật về vấn đề này nói riêng là mảng đề tài chưa được nghiên cứu ở bậc
nghiên cứu sinh tại Việt Nam.
Đề tài mà tác giả nghiên cứu là sự phát triển một bước của luận văn cao học của
mình. Ở luận văn cao học tác giả tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản của
pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá. Luận án được nghiên cứu một cách có hệ
thống và toàn diện cơ sở kinh tế và pháp lý để xác định bản chất của hiện tượng bán
phá giá; nghiên cứu tổng thể và sâu về các chế định cụ thể trong pháp luật chống bán
phá giá làm cơ sở đánh giá về sự tương thích của pháp luật Việt Nam với pháp luật
WTO, đánh giá khả năng áp dụng của pháp luật trong thực tiễn và đưa ra những đề
xuất nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án được trình bày trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin về Nhà
nước và Pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế và hội nhập
kinh tế quốc tế. Nội dung của luận án được nêu và phân tích dựa trên cơ sở các văn
bản pháp luật của Nhà nước, các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật và các tài liệu
pháp lý.
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử. Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp như: tổng hợp, phân
Nam.
Chương 4: Các cơ quan thực thi pháp luật và một số đề xuất hoàn thiện pháp
luật chống bán phá giá tại Việt Nam.
- Kết luận
- Danh mục tài liệu tham khảo. 8
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BÁN PHÁ GIÁ HÀNG HÓA
NHẬP KHẨU VÀ PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ HÀNG HÓA NHẬP
KHẨU TẠI VIỆT NAM
1.1. KHÁI NIỆM VỀ BÁN PHÁ GIÁ HÀNG HÓA NHẬP KHẨU
1.1.1. Các quan niệm về bán phá giá hàng hóa nhập khẩu
Có nhiều cách hiểu khác nhau về bán phá giá, dưới góc độ học thuật, bán phá
giá hàng hóa nhập khẩu được hiểu ngắn gọn là bán hàng ra nước ngoài với giá thấp
hơn giá bán tại thị trường nội địa. Ví dụ Từ điển kinh tế học hiện đại cho rằng bán
phá giá (dumping) được hiểu là việc bán một hàng hoá ở nước ngoài với mức giá
thấp hơn so với mức giá ở thị trường trong nước [57, tr 282]; Theo Từ điển chính
sách thương mại: phá giá được hiểu là thực tiễn bán hàng của một công ty với giá
bán ra nước ngoài thấp hơn giá bán tại thị trường trong nước (giá nội địa của
nước xuất khẩu) [35, tr 82]; cuốn Black’s Law dictionary định nghĩa phá giá là
hành vi bán hàng hoá ra nước ngoài với giá thấp hơn giá bán tại thị trường nội địa
[93, tr 518]. Theo cách hiểu này, bán phá giá hàng hóa nhập khẩu là sự phân biệt
giá của cùng loại sản phẩm tiêu thụ trên thị trường nước xuất khẩu và tiêu thụ trên
thị trường nước nhập khẩu. Do đó, để xác định việc bán phá giá, người ta phải tính
toán được giá xuất khẩu và giá bán trên thị trường xuất khẩu của hàng hóa (còn gọi
là giá nội địa).
Dưới góc độ pháp lý, khái niệm pháp lý về bán phá giá lần đầu tiên được ghi
nhận trong đạo luật thuế hải quan Canađa được thông qua ngày 10 tháng 8 năm
toán phức tạp và mềm dẻo. Những thay đổi trong khái niệm pháp lý về bán phá giá
đã giải quyết được trường hợp không thể xác định được giá bán trên thị trường nội
địa của hàng hóa bị điều tra do chúng được sản xuất chỉ để xuất khẩu hoặc giá bán
hàng hóa trên thị trường nội địa không bình thường do thấp hơn chi phí sản xuất
hoặc là giá bán độc quyền…
Kết quả so sánh hai chỉ số giá trên chưa phản ánh ưu thế cạnh tranh của hàng
hóa nhập khẩu so với hàng hóa nội địa của nước nhập khẩu mà chỉ cho thấy hiện
tượng phân biệt giá của sản phẩm nhập khẩu. Muốn xác định ưu thế cạnh tranh về
giá của hàng hóa nhập khẩu, cần tiến hành so sánh giữa giá xuất khẩu của hàng hóa
nhập khẩu và giá bán của hàng hóa cạnh tranh nội địa. Kết quả so sánh có thể là
2
:
Thứ nhất, giá xuất khẩu của hàng hóa nhập khẩu vào thấp hơn giá thông
thường trên thị trường xuất khẩu nhưng vẫn cao hơn giá của sản phẩm cạnh tranh
nội địa. Trong tình huống này, hiện tượng bán phá giá vẫn tồn tại song hàng hóa
nội địa đang có lợi thế cạnh tranh về giá so với hàng hóa nhập khẩu. Do đó, việc
hàng hóa nhập khẩu bán phá giá không thể gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại
cho ngành sản xuất trong nước.
Thứ hai, giá xuất khẩu của hàng hóa nhập khẩu thấp hơn giá bán của sản
phẩm cạnh tranh nội địa nên có lợi thế cạnh tranh về giá. Khi đó, các DN nội địa
sản xuất sản phẩm cạnh tranh bị đẩy vào tình trạng hoặc phải hạ giá bán để giữ
khách hàng hoặc mất thị phần với giá bán hiện tại. Trong tình huống này, có hai giả
định được đặt ra:
2
Các tình huống này được đặt ra trong điều kiện hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa cạnh tranh nội địa chỉ cạnh
tranh về giá, các điều kiện cạnh tranh khác là giống nhau và không thay đổi.
10
- Giả định hàng hóa nhập khẩu không bán phá giá (giá xuất khẩu không thấp
bán hàng hóa, dịch vụ với mức giá không theo đúng giá trị thông thường của sản
phẩm.
11
- Mục đích của hành vi là chiếm lĩnh thị trường, hạn chế cạnh tranh đúng pháp
luật, gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân kinh doanh khác, lợi ích
của Nhà nước. Do đó, nếu chưa xác định được mục đích của hành vi thì chưa thể kết
luận DN đã bán phá giá hàng hóa, dịch vụ.
Khoản 1 và 2 Điều 1 Pháp lệnh giá quy định: Pháp lệnh này quy định quản lý
nhà nước về giá và hoạt động về giá của tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất kinh
doanh; và Pháp lệnh này áp dụng áp dụng đối với tổ chức, cá nhân trong nước và
nước ngoài hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam [81, k1, 2 Đ 1]. Căn cứ vào
quy định này, tác giả cho rằng cần phải làm rõ một số vấn đề liên quan đến việc áp
dụng quy định về bán phá giá trong Pháp lệnh giá. (1) Văn bản này chỉ giới hạn đối
tượng áp dụng là tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất kinh doanh tại Việt Nam mà
không phân biệt về nguồn gốc của hàng hóa, dịch vụ, nên quy định về bán phá giá có
thể áp dụng đối với sản phẩm nội địa (được sản xuất và tiêu thụ tại Việt Nam) và sản
phẩm nhập khẩu. Tuy nhiên, đối với hàng hóa nhập khẩu, các quy định về bán phá giá
chỉ điều chỉnh hành vi tiêu thụ hàng hóa đó trên thị trường Việt Nam mà không áp
dụng đối với việc nhập khẩu chúng. (2) Với hàng hóa nhập khẩu, Pháp lệnh giá được
áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh chúng tại Việt Nam đã
có hành vi bán hàng với mức giá quá thấp so với giá thông thường. Do đó, việc bán
phá giá hàng hóa vào Việt Nam của các doanh nghiệp nước ngoài sẽ không chịu sự
điều chỉnh của Pháp lệnh giá năm 2004. Chỉ khi hàng hóa được lưu thông trên thị
trường Việt Nam và người kinh doanh chúng có hành vi bán hàng hóa quá thấp so với
giá thông thường thì các quy định về bán phá giá được áp dụng để xử lý người thực
hiện hành vi. (3) Theo Pháp lệnh giá, việc chống bán phá giá là một trong những nội
dung của hoạt động quản lý nhà nước về giá, tuy nhiên, có thể thấy rằng các quy định
về chống bán phá giá trong văn bản này chủ yếu nhằm thực hiện chức năng quản lý
cạnh tranh bằng cách ngăn chặn và xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh về giá trên thị
cung ứng dịch vụ với mức giá thấp hơn giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh
tranh của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh
tranh. Trong lý thuyết cạnh tranh và pháp luật cạnh tranh, có hai vấn đề cần lưu ý đối
với hành vi này là (1) hành vi định giá hủy diệt chỉ áp dụng đối với các doanh nghiệp
thống lĩnh hoặc doanh nghiệp độc quyền. Bởi lẽ, các doanh nghiệp chỉ có thể loại bỏ
đối thủ cạnh tranh, gây ra hậu quả hạn chế cạnh tranh trên thị trường bằng việc bán
hàng hóa, dịch vụ dưới giá thành khi chúng khả năng chi phối thị trường bằng vị trí
thống lĩnh hoặc độc quyền. (2) Cơ sở để xác định hành vi là giá bán và giá thành toàn
bộ của sản phẩm. Vì vậy, khái niệm bán phá giá trong Pháp lệnh giá không phù hợp
với các nguyên lý căn bản của pháp luật cạnh tranh cả về chủ thể áp dụng và căn cứ
xác định hành vi.
Thứ ba, việc sử dụng mục đích chiếm đoạt thị trường, gây hạn chế cạnh tranh
trên thị trường, gây thiệt hại cho các tổ chức cá nhân khác, gây thiệt hại cho Nhà nước
là căn cứ xác định hành vi cho thấy các nhà làm luật đã đánh đồng bán phá giá với
13
hành vi định giá hủy diệt đã được quy định trong pháp luật cạnh tranh. Quan niệm này
cho thấy sự khác biệt về cơ sở để xác định hành vi bán phá giá trong thương mại nội
địa và thương mại quốc tế. Trong thương mại quốc tế, người thực hiện hành vi bán phá
giá hàng hóa nhập khẩu là DN xuất khẩu nước ngoài. Việc truy tìm mục đích thực sự
của chủ thể bên ngoài lãnh thổ của quốc gia nhập khẩu không thể thực hiện được. Vì
vậy, chính sách và pháp luật thương mại quốc tế không sử dụng mục đích làm căn cứ
để xác định hiện tượng bán phá giá mà sử dụng thiệt hại vật chất do bán phá giá gây ra
làm cơ sở để quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập
khẩu.
Từ những nghiên cứu về hoàn cảnh xây dựng Pháp lệnh giá, chúng tôi cho rằng
các hạn chế trong những quy định về bán phá giá trong văn bản này có thể được lý giải
từ các nguyên nhân sau:
- Việt Nam biết đến pháp luật chống bán phá giá khi các hàng hóa có xuất xứ từ
Việt Nam bị kiện bán phá giá tại các nước khác. Tính đến tháng 9 năm 2009, tổng số
kinh tế tri thức… mà chưa có những quan tâm thích đáng mang tính chỉ đạo cho việc
sử dụng các công cụ bảo hộ được pháp luật quốc tế thừa nhận trong thương mại quốc
tế. Vì thế, cho dù vẫn là nước nhập siêu, song các chủ trương phát triển ngoại thương
chưa dành nhiều sự quan tâm đến các tác động của dòng hàng hóa nhập khẩu, đến sự
phát triển của thị trường và của các ngành kinh tế nội địa. Tình trạng này đã có tác
động không nhỏ đến thái độ chủ động hay thụ động của DN, của các cơ quan Nhà
nước và của các nhà khoa học về khả năng áp dụng pháp luật chống bán phá giá nói
riêng và pháp luật về bảo hộ thương mại nói chung. Trong 15 năm đầu xây dựng kinh
tế thị trường, chế định về phòng vệ thương mại chưa được đầu tư nghiên cứu và xây
dựng tại Việt Nam. Quy định về bán phá giá trong Luật thương mại năm 1997 và Pháp
lệnh giá chỉ là những quy định đơn lẻ trong pháp luật thương mại và chế định về quản
lý giá mà chưa trở thành một chế định pháp luật riêng biệt. Với chủ trương và tình
trạng pháp luật như trên, việc nghiên cứu không đầy đủ và toàn diện về bán phá giá là
tất yếu.
- Điều kiện xây dựng thị trường của Việt Nam là một trong những yếu tố làm
hạn chế khả năng tiếp cận các chuẩn mực luật pháp và kinh doanh quốc tế. Chúng ta
xây dựng thị trường và thực hiện chủ trương hội nhập kinh tế từ những thành tựu và
thất bại của mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Thị trường được xây dựng trong
bối cảnh những phương thức, con người quản lý của cơ chế kế hoạch hóa, thói quen và
lối mòn trong nhận thức về vai trò chỉ huy kinh tế của nhà nước vẫn còn tồn tại.
Những yếu kém trong nhận thức và sự bảo thủ trong tư duy không chỉ xâm hại đến sự
tự do của thị trường, làm cho những thay đổi trong các chính sách vĩ mô trở thành
tuyên ngôn không có giá trị thực tế mà còn cản trở quá trình tiếp thu, vận dụng những
nguyên lý và luật pháp của thương mại quốc tế vào phát triển đất nước. Quy định về
bán phá giá trong Pháp lệnh giá là kết quả của sự nóng vội cần có pháp luật về bán phá
giá trong khi còn hạn chế trong nhận thức về vấn đề này.
15
Quan niệm thứ hai về bán phá giá được các nhà làm luật ghi nhận trong Pháp
lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam năm 2004. Theo đó, hàng
PLVN hiện nay phản ánh quá trình nhận thức của các nhà làm luật về chống bán
phá giá. Trong giai đoạn đầu, nhà làm luật chưa tiếp nhận một cách nghiêm túc các
16
nguyên lý của thương mại quốc tế và các chuẩn mực pháp lý quốc tế về vấn đề này,
chưa xác định một cách chính xác ranh giới và mối quan hệ giữa các lĩnh vực pháp
luật như pháp luật cạnh tranh, pháp luật quản lý giá, pháp luật chống bán phá giá.
Vì vậy, quan niệm về bán phá giá được ghi nhận trong Pháp lệnh giá còn sơ khai và
không có giá trị thực thi. Trong giai đoạn thứ hai, khi vấn đề chống bán phá giá
được nghiên cứu nghiêm túc và nhu cầu xây dựng chế định pháp luật về vấn đề này
này đang là yêu cầu cần thiết phục vụ cho công tác đàm phán và tham gia tổ chức
thương mại thế giới thì nhà làm luật Việt Nam đã tiếp nhận khá đầy đủ những
nguyên lý của pháp luật chống bán phá giá để xây dựng nên Pháp lệnh chống bán
phá giá hàng hóa nhập khẩu. Khái niệm bán phá giá được ghi nhận trong văn bản
pháp luật này không phản ánh nhận thức riêng có của nhà làm luật Việt Nam mà là
kết quả của quá trình tiếp nhận pháp luật WTO vào pháp luật nội địa.
Quá trình tiếp nhận pháp luật chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu có những
đặc thù và có những ảnh hưởng nhất định đến nhận thức của Việt Nam về khái
niệm bán phá giá và pháp luật chống bán phá giá. Những ảnh hưởng đó bao gồm:
Thứ nhất, nhà làm luật Việt Nam đã tiếp thu một cách thụ động khái niệm bán
phá giá đã được ghi nhận trong pháp luật WTO. Qua hơn một thế kỷ phát triển (tính từ
năm 1904)
3
, pháp luật chống bán phá giá đã trở thành khung pháp lý cho thương mại
toàn cầu bằng Điều VI của GATT 1947 và ADA. Với nguyên tắc luật quốc gia của các
nước thành viên phải phù hợp với các hiệp định của WTO, khái niệm bán phá giá được
ghi nhận trong ADA đã trở thành chuẩn mực pháp lý cho pháp luật của các nước thành
viên WTO. Do đó, kinh nghiệm cho thấy, các đạo luật về chống bán phá giá của các
nước thường lặp lại tất cả các nguyên tắc của Hiệp định chống bán phá giá, thậm chí
lấy lại nguyên văn Hiệp định trong trường hợp nhiều nước chỉ mới ban hành luật này
cứ pháp lý của hiện tượng bán phá.
Thứ hai, trình độ phát triển khác nhau giữa các nước gây ra những hạn chế và
khó khăn trong nhận thức về tự do hoá thương mại nói chung và bán phá giá nói riêng.
Trong quá trình phát triển của pháp luật chống bán phá giá của WTO, có hai vấn đề
được đặt ra:
(1) Ảnh hưởng của pháp luật chống bán phá giá của các nước phát triển (đặc biệt
là Hoa Kỳ) đến pháp luật chống bán phá giá của WTO. Với ưu thế về vốn, trình độ
công nghệ, thị trường, các nước tư bản phát triển và các tập đoàn tư bản xuyên quốc
gia đang chi phối toàn cầu hóa [90, tr 82]. Các lực lượng này luôn có xu hướng áp đặt
những chuẩn mực cho tự do thương mại và thiết lập các biện pháp pháp lý và kinh tế
để bảo vệ nó. Mặc dù khung khổ pháp lý của các tổ chức thương mại quốc tế là kết
quả đàm phán giữa các nước thành viên, song thực tế cho thấy, sự ảnh hưởng từ pháp
luật của các nước phát triển đến pháp luật thương mại quốc tế là khá lớn. Trong đó,
khái niệm bán phá giá được ghi nhận trong ADA chỉ là sự lặp lại quan niệm về bán
phá giá đã được các nước phát triển ghi nhận trong pháp luật của họ trước đó. Nói
cách khác, pháp luật của WTO (trong đó có khái niệm bán phá giá) được xây dựng từ
những nguyên lý thương mại - pháp lý của các nước phát triển. Với kinh nghiệm của
mình, các quốc gia phát triển luôn tạo ra những khoảng trống tinh vi trong khái niệm
18
trên bằng việc đưa ra những căn cứ pháp lý có tính định tính và luôn có ngoại lệ như
giá trị thông thường, điều kiện thương mại thông thường, giá có thể so sánh được…
với mục đích có thể sử dụng linh hoạt trong các tranh chấp quốc tế. Các khoảng trống
này thường bị lạm dụng để bảo hộ ngành sản xuất trong nước trước áp lực cạnh tranh
từ hàng hóa nhập khẩu (ngay cả khi ưu thế cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu có được
từ lợi thế so sánh). Để có thể phát hiện và khai thác triệt để những khoảng trống pháp
lý nhằm bảo hộ nền kinh tế trong nước, các cơ quan có thẩm quyền và những người
thực thi pháp luật cần am hiểu sâu sắc pháp luật và dày dạn kinh nghiệm trong việc
điều tra và xử lý vụ việc. Các nước tham gia vào WTO khi khung pháp luật về chống
bán phá giá đã ổn định như Việt Nam thường bị buộc phải tiếp nhận những nguyên tắc
hiện tượng bán phá giá.
2. Phá giá với tư cách là một vấn đề thương mại tồn tại trong một thời gian dài,
nhưng phá giá chỉ trở thành vấn đề trong chính sách thương mại quốc tế sau chiến
tranh thế giới lần thứ nhất và đặc biệt trong thời kỳ đại khủng hoảng của những năm
30 [35, tr 69]. Chống bán phá giá đã trở thành một nội dung trong khung pháp lý quốc
tế bằng sự ghi nhận của Điều VI GATT 1947 và sự ra đời của ADA năm 1994. Hiện
nay, trong khoa học pháp lý không có những mâu thuẫn hay xung đột về khái niệm
bán phá giá. Pháp luật của WTO đã trở thành chuẩn mực chung cho pháp luật của các
nước và là căn cứ pháp lý cơ bản cho các nghiên cứu trong khoa học pháp lý về vấn đề
này. Sự khác biệt trong pháp luật của các nước chủ yếu là cách thức tính toán những
yếu tố cấu thành nên hiện tượng bán phá giá.
3. Khái niệm bán phá giá đã khẳng định những quan niệm đánh đồng bán phá giá
với hiện tượng bán hàng hóa thấp hơn chi phí sản xuất là sai và cũng là cơ sở để phân
biệt bán phá giá với việc chính phủ của các quốc gia trợ cấp xuất khẩu trái với thông lệ
chung. Tác động của việc bán phá giá và của trợ cấp xuất khẩu tới thị trường nhập
khẩu có thể là giống nhau song bán phá giá được giả thiết là hành vi của DN nước
ngoài phân biệt đối xử về giá và các doanh nghiệp này sử dụng chính nguồn lực của
mình để trợ giá. Ngược lại, trợ cấp được giả thiết là việc chính phủ trực tiếp hoặc gián
tiếp thanh toán các khoản trợ giá xuất khẩu cho các DN.
4. Tại Việt Nam, các nhà làm luật có những thay đổi trong quan niệm về bán phá
giá. Những thay đổi đó được phản ánh qua sự ra đời của hai văn bản pháp luật là Pháp
lệnh giá được ban hành năm 2002 và Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu
vào Việt Nam được ban hành năm 2004. Khái niệm bán phá giá trong Pháp lệnh chống
bán phá giá hàng hóa nhập khẩu được đánh giá là hoàn chỉnh và phù hợp với pháp luật
WTO.
1.1.2. Tác động của bán phá giá hàng hóa nhập khẩu đối với thị trường nhập khẩu
Tác động của hiện tượng bán phá giá được nhìn nhận cả góc độ tích cực và
tiêu cực bằng việc phân tích ảnh hưởng của nó đối với lợi ích của người tiêu dùng,
nhà sản xuất có liên quan và các DN kinh doanh sản phẩm cạnh tranh nội địa.
rằng trước khi có hiện tượng bán phá giá của hàng hóa nhập khẩu, các DN này đang
có vị trí độc quyền.
Trong dài hạn, quyền lợi của người tiêu dùng có thể bị xâm hại nếu DN nước
ngoài bán phá giá hàng hóa để thực hiện chiến lược chiến đoạt thị trường bằng cách
định giá hủy diệt ngành sản xuất trong nước. Mặc dù bán phá giá đem lại lợi ích
21
cho người tiêu dùng ở hiện tại, song khi đã chiếm đoạt được thị trường nhập khẩu,
giá của hàng hóa nhập khẩu sẽ tăng vọt trong tương lai để các DN lấy lại những gì
đã mất từ việc phá giá. Người tiêu dùng lại trở thành nạn nhân của mức giá độc
quyền do các DN nước ngoài ấn định. Sự suy đoán về khả năng giá tăng trong
tương lai hoặc sản lượng hàng hóa nhập khẩu sẽ giảm để chi phối cung cầu là một
trong những căn cứ để kết luận về bản chất hạn chế cạnh tranh của hành vi bán phá
giá có mục đích cướp đoạt thị trường [60, tr 59 - 60].
Tác động của bán phá giá đối với các DN có liên quan tại nước nhập khẩu.
Các DN có liên quan được xác định là những DN của nước nhập khẩu hoạt động ở
ngành sản xuất khác có sử dụng hàng hóa nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất. Khi
hàng hóa nhập khẩu bán phá giá, các DN nói trên có được nguồn nguyên liệu rẻ để
sản xuất, kinh doanh, từ đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng cho ngành sản xuất mà
họ hoạt động.
Tác động của bán phá giá đến ngành sản xuất nội địa kinh doanh sản phẩm
cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu (gọi tắt là ngành sản xuất nội địa hoặc DN sản
xuất nội địa). Tác động tiêu cực của bán phá giá hàng hóa nhập khẩu chủ yếu được
chứng minh bằng những thiệt hại mà ngành sản xuất nội địa phải gánh chịu. Các
DN sản xuất nội địa và người lao động trong các DN này là nạn nhân thực tế và
trực tiếp của việc hàng hóa nhập khẩu bán phá giá. Nếu mức phá giá làm giá cạnh
tranh của sản phẩm nhập khẩu thấp hơn chi phí sản xuất của hàng hóa nội địa, DN
nội địa sẽ bị đẩy vào tình trạng cạnh tranh không lối thoát, hoặc chịu lỗ để chạy đua
theo mức giá phá giá, hoặc mất khách hàng. Trong trường hợp mức phá giá làm giá
cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu thấp hơn giá bán hiện tại nhưng không thấp hơn
sự thay đổi. Vào thời sơ khai, các nhà kinh tế đã cảnh báo với các nhà lập pháp
rằng việc hàng hóa nhập khẩu bán phá giá là nguy hại bởi chúng cản trở việc hình
thành ngành sản xuất nội địa hoặc tiêu diệt đối thủ. Trong cuốn sách Hệ thống
thương mại thế giới, tác giả John H. Jackson đã trích dẫn những ghi nhận của nhà
kinh tế học người Canađa Jacob Viner về những tuyên bố của Alexander Hamilton
trong các cuộc tranh luận tại Mỹ vào năm 1791, cảnh báo về các thủ pháp của các
đối thủ cạnh tranh bán hạ giá tại các nước khác nhằm vô hiệu hóa những nỗ lực
đầu tiên để đưa (một DN)… vào một lãnh vực mới bằng những hy sinh tạm thời,
được đền bù, có thể bằng những khoản bồi thường rất lớn của chính phủ nước
đó… [44, tr 347]. Do đó, đã có quan điểm cho rằng việc bán phá giá hàng hóa nhập
khẩu là không lành mạnh bởi nó là hành vi định giá hủy diệt (Predatory pricing).
Hiện nay, bán phá giá lại được nhìn nhận là hành vi phân biệt giá quốc tế và chỉ bị
xử lý nếu gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất của nước nhập
khẩu [35, tr 198]. Sự thay đổi trên đã dẫn đến những thay đổi trong cấu thành pháp
lý của khái niệm bán phá giá. Nhiều nguyên lý trong kinh tế học đã được sử dụng
để xác định bản chất pháp lý và cấu thành pháp lý của việc bán phá giá bao gồm lý
thuyết về hành vi định giá hủy diệt (còn gọi là định giá cướp đoạt), các nguyên lý
23
của thương mại tự do và lý thuyết về hành vi phân biệt giá. Các lý thuyết này được
sử dụng để lý giải cơ chế hình thành việc bán phá giá, đặt ra cơ sở pháp lý - kinh tế
để áp dụng các biện pháp chống bán phá giá và xác định giới hạn của việc xử lý các
hành vi bán phá giá trong thương mại quốc tế.
1.2.1. Bán phá giá được hình thành trong môi trường của thương mại tự do
Quá trình toàn cầu hoá kinh tế với sự ra đời của nhiều tổ chức kinh tế quốc tế
và hình thành nên nhiều vùng thị trường khu vực và quốc tế rộng lớn thông qua
việc xoá bỏ các rào cản thuế quan và phi thuế quan. Quan hệ thương mại quốc tế
được biểu hiện thông qua sự dịch chuyển các giá trị thương mại dưới hình thức
hàng hoá hoặc dịch vụ giữa thị trường của các nước với nhau dựa trên quy chế Tối
huệ quốc (MFN) và quy chế Đãi ngộ quốc gia (NT). Hai quy chế này đảm bảo cho
Như vậy, bản chất cạnh tranh không lành mạnh của hành vi bán phá giá được
nhìn nhận dưới góc độ của lý thuyết về tự do hóa thương mại là sự lạm dụng tự do
để xâm hại đến thương mại tự do bằng cách tranh giành thị trường của các đối thủ
cạnh tranh, cụ thể là các DN cạnh tranh nội địa. Sự suy giảm của ngành sản xuất
nội địa ở hiện tại hoặc tương lai do bán phá giá gây ra là bằng chứng chứng minh
rằng quốc gia nhập khẩu đã bị cản trở khả năng phát triển lợi thế so sánh. Việc áp
dụng các biện pháp chống bán phá giá được đặt ra nhằm bảo vệ thương mại tự do,
bảo vệ lợi thế so sánh của quốc gia nhập khẩu đang bị đe dọa bởi hành vi bán phá
giá hàng hóa nhập khẩu.
Với tư cách là hiện tượng xảy ra trong giao thương quốc tế, hành vi bán phá
giá và các lý thuyết về nó chịu ảnh hưởng từ những đặc thù của thương mại quốc
tế. Những ảnh hưởng này được phân tích dưới hai góc độ.
Thứ nhất, thương mại quốc tế có hai đặc điểm quan trọng tạo nên sự khác biệt
với thương mại trong nước của bất cứ quốc gia nào. Trước hết, mỗi nước đều có
đơn vị tiền tệ riêng của mình. Nhà sản xuất ở bất cứ nước nào đều muốn được trả
tiền cho hàng hóa, dịch vụ mình sản xuất ra bằng tiền của nước đó và người mua
cũng muốn sử dụng tiền tệ của nước mình để trả cho hàng hóa và dịch vụ mà họ
muốn sử dụng. Sau nữa, chủ nghĩa dân tộc và các mục tiêu chính trị luôn được đưa
vào trong các mối quan hệ giữa các quốc gia [34, tr 425-426]. Hai đặc điểm trên
của thương mại quốc tế đã làm phát sinh những tranh luận về bản chất bất chính
của hành vi bán phá giá. Ngoài những quan điểm truyền thống cho rằng bán phá giá
là sự lạm dụng tự do thương mại để thực hiện mục đích chiếm đoạt thị trường, còn
có quan điểm cho rằng phá giá xuất phát từ sự khác biệt giữa chính sách pháp lý và
kinh tế quốc dân giữa hai thị trường quốc gia. Quan điểm này được đưa ra từ Nhà
kinh tế học Gabrielle Marceau và được trích dẫn trong cuốn Từ điển chính sách
thương mại quốc tế của tác giả Walter Goode [35, tr 83]. Bà cho rằng những khác
biệt quốc gia là điều bình thường và hợp lý trừ phi các nước có thỏa thuận về tiêu
chuẩn quốc tế. Những khác biệt trong chính sách kinh tế quốc dân đã ảnh hưởng