Pháp luật chống bán phá giá và thực hiện áp dụng tại Việt Nam
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang ngày càng quốc tế hóa sâu sắc,
các quốc gia ngày càng tham gia tích cực và không thể đứng ra ngoài cuộc của
quá trình này nền kinh tế các nước ngày càng lệ thuộc vào nhau và trong bối
cảnh đó sự lớn mạnh, bền vững kinh tế thế giới có thể đạt được nếu tạo ra được
tính công bằng trong quan hệ thương mại quốc tế.
Với việc thực hiện đường lối chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam
đã thực hiện và đạt được những thành tựu to lớn trong việc đẩy mạnh xuất khẩu
hàng hoá, trong đó có những mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam ngày càng có uy
tín trên thị trường thế giới đã xuất hiện một số trường hợp hàng xuất khẩu của
nước ta bị nước nhập khẩu điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá để tạo ra
hàng rào bảo hộ, ngăn cản hàng hoá của ta không cho xuất khẩu vào thị trường
của nước họ. Việt Nam tham khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) năm
1995, Hiệp định Thương mại song phương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ năm 2000.
Ngày 07 tháng 11 năm 2006 Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150
của WTO tổ chức thương mại lớn nhất toàn cầu. Xuất phát tự trên cho thấy Việt
Nam đã chủ động hội nhập sẵn sàng tham gia giao lưu kinh tế với các nước trên
thế giới và sẵn sàng áp dung thực thi các cam kết quốc tế nói chung và các cam
kết về thương mại hàng hóa nói riêng.
Ở Việt Nam việc tiếp cận với các quan hệ thương mại quốc tế đã có từ
lâu, song việc làm quen thích ứng với các quy luật thị trường lại là điều mới mẻ.
Hiện nay, các quan hệ ngoại thương ngày càng quan trọng và đa dạng, các chiến
lược xuất khẩu của ta thường bị các rào cản thương mại đặc biệt là các vụ kiện
bán phá giá ngày càng tăng, khi mà hiện nó gây ra những thiệt hại vô cùng to
lớn cho nền kinh tế đất nước các cơ chế giải quyết thì lại không hữu hiệu chủ
yếu là bằng thủ tục tư pháp và phía thiệt hại luôn là chúng ta, các cơ chế song
phương chưa phát triển trong khi đó việc đàm phán ra nhập các cơ chế đa
phương thì lại chậm và việc mình chưa đủ điều kiện để ra nhập khiến cho những
SVTH: Hà Văn Chinh - Lớp: Luật K31C 1
SVTH: Hà Văn Chinh - Lớp: Luật K31C 2
Pháp luật chống bán phá giá và thực hiện áp dụng tại Việt Nam
kiện đó để kiện lại bên vi phạm các điệu kiện đó, hay nói đúng hơn là chúng ta
dùng cam kết đó bảo vệ mình và dùng nó để đòi lại quyền lợi cho mình. Nâng cao
và tuyên truyền pháp luật chống bán phá giá vào các doanh nghiệp, cá nhân để khi
thực hiện các hoạt động kinh tế đặc biệt là kinh tế xuất nhập khẩu để tránh những
thiệt hại kinh tế khi bị kiện bán pháp giá. Muốn các cơ quan chức năng tích cực
hoàn thiện pháp luật chống bán phá giá theo xu thế chung của thế giới để bảo vệ
quyền lợi của các bên, tích cực đàm phán gia nhập các tổ chức thương mại quốc tế
đa phương để bảo vệ một cách có hiệu quả quyền lợi của các bên.
3. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài “Pháp luật chống bán phá giá và thực tiễn áp dụng
tại Việt Nam”. Tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp phân tích
Phương pháp tổng hợp
Phương pháp so sánh, đối chiếu
Phương pháp thống kê
4. Cơ cấu của đề tài
Đề tài có kết cấu ba phần gồm: Phần mở đầu; Phần nội dung; Phần kết
luận. Trong đó phần nội dung gồm 2 chương.
Chương 1: Pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá gồm 6 nội dung lớn:
Khái niệm; Đặc điểm của bán phá giá và chống bán phá giá; Ý nghĩa, vai trò của
việc chống bán phá giá; Tác động của việc chống bán phá giá; Một số cách thức
chống bán phá giá; Các quy định pháp luật về chống bán phá giá.
Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về chống bán
phá giá tại Việt Nam gồm 3 nội dung lớn: Thực trạng bán phá giá và chống bán
phá giá tại Việt Nam; Nguyên nhân của việc chống bán phá giá; Các giải pháp lý
luận và thực tiễn để chống bán phá giá vào Việt Nam.
SVTH: Hà Văn Chinh - Lớp: Luật K31C 3
Pháp luật chống bán phá giá và thực hiện áp dụng tại Việt Nam
tìm cách thức nhất định nhằm chống bán phá giá và việc hình thành các cam kết
đa phương là hướng ưu tiên lừa chọn trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới
ngày nay.
1.2 Đặc điểm của bán phá giá và chống bán phá giá
Đặc điểm của bán phá giá: Phải là hàng hóa lưu thông trên thị trường và
bán với giá thấp hơn giá thị trường của nước nhập khẩu hoặc một nước thứ ba
nào đó, bán phá giá phải làm phương hại đến nền sản xuất của nước nhập khẩu
làm cho các nghành sản xuất bi bán phá giá phải đình trệ sản xuất, bán phá giá
phải kéo theo việc giảm giá của mặt hàng cùng chủng loại sản xuất trong nước
hoặc vùng lãnh thổ đó giảm theo, giá bán tại nước nhập khẩu phải không đúng
với giá chi phi sản xuất thực của mặt hàng đó tại nước xuất khẩu hoặc một nước
thứ ba nào đó, việc bán hàng đó làm phương hại đến các quy luật của nền kinh
tế thị trường.
Đặc điểm của chống bán phá giá: Là cách thức do cơ có thẩm quyền đặt
ra nhằm chống lại các hành vi bán phá giá, chống bán phá giá phải dựa trên các
căn cứ khoa học pháp lý rõ ràng khi áp dụng các biện phá chống bán phá giá vào
một mặt hàng nào đó, chống bán phá giá phải phù hợp với các quy tắc và thông
lệ quốc tế, chống bán phá giá phải vừa mang tính răn đe và thúc đẩy sự phát
triển của các quan hệ kinh tế lành mạnh, chống bán phá giá không làm mất đi
tính lưu thông một mặt hàng trên thị trường, chống bán phá giá phải góp phần
thúc đẩy sản xuất trong nước, chống bán phá giá phải là tổng hợp của nhiều biện
pháp nhất định nhằm phản ánh một cách trung thực nhất của hiện tượng vi phạm
pháp luật về chống bán phá giá.
1.3 Ý nghĩa, vai trò của việc chống bán phá giá
Chống bán phá giá có ý nghĩa kinh tế, xã hội hết sức to lớn đối với đất
nước trong thời kỳ hội nhập, từ việc chống bán phá giá cho thấy sức bảo về nền
sản xuất trong nước thể hiện sự quan tâm của nhà nước đối với các thành phần
kinh doanh cũng như nhu cầu việc làm của người lao động, chống bán phá giá là
SVTH: Hà Văn Chinh - Lớp: Luật K31C 5
Pháp luật chống bán phá giá và thực hiện áp dụng tại Việt Nam
Pháp luật chống bán phá giá và thực hiện áp dụng tại Việt Nam
Bán phá giá gây thiệt hại về vật chất cho ngành sản xuất sản phẩm tương
tự trong nước. Thiệt hại về vật chất được xét trên một loạt các yếu tố và chỉ số
kinh tế như: Sự suy giảm thực tế hoặc tiềm ẩn của doanh thu, lợi nhuận, sản
lượng, thị phần, năng suất, việc làm, tiền lương, tăng trưởng.Bán phá giá gây tác
động đến sự phát triển ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu
trong tương lai. Sản xuất của các nước nhập hàng bán phá giá có thể bị đình đốn,
không cạnh tranh được với hàng nhập khẩu, mất thị trường và phá sản.
Xuất phát từ thành kiến cố hữu việc bán phá giá thường được coi là có tác
động tiêu cực, thường vì lý do giảm lợi nhuận của người bán hàng khác gây thiệt
hại cho các nhà sản xuất cùng một mặc hàng của nước nhập khẩu, cho nên người
ta thường tìm biện pháp để chống lại hành động này. Tuy nhiên, cần có sự phân
tích thấu đáo bản chất của mọi trường hợp bán phá giá để xem có phải tất cả mọi
hành động bán phá giá đều có hại hay không để có biện pháp đối phó thích ứng.
Cuối cùng, hành vi phá giá bóp méo những nguyên lý cơ bản của thị trường
nước nhập khẩu (cạnh tranh tự do và lành mạnh).
1.4.2 Tác động của việc chống bán phá giá
Xuất phát từ các tác động của việc bán phá giá việc chống bán phá giá gây
ra những tác động tích cực nhất định cho nước nhập khẩu. Tác động tích cực về
tránh sự gây ra thiệt hại cho các nghành sản xuất trong nước hiện tại và trong
tương lại, góp phần vào quá trình phát triển kinh tế thị trường, việc chống bán
phá giá chủ yếu bảo vệ lợi ích kinh tế song việc chống bán phá giá thành công
được lại là sự tổng hợp rất nhiều biện pháp mang tính quyền lực pháp lý nhà
nước, việc chống bán phá giá có tác động dến sản xuất, sự lành mạnh trong kinh
doanh cũng như tác động đến các thành phần chủ thể tham gia làm cho họ thêm
mặn mà trong kinh doanh, sự tác động của chống bán phá giá đến việc tạo nên
những kinh nghiệm trong quản lý nhà nước về chống bán phá giá giúp các quy
luật của thị trường thêm phát triển tốt hơn.
SVTH: Hà Văn Chinh - Lớp: Luật K31C 7
Pháp luật chống bán phá giá và thực hiện áp dụng tại Việt Nam
Pháp luật chống bán phá giá và thực hiện áp dụng tại Việt Nam
Trong trường hợp này, việc áp dụng một biện pháp chống hàng nhập khẩu
là bất hợp lý và như vậy sẽ đối sử không bằng giữa mặt hàng nội địa và mặt
hàng nước ngoài. Tuy nhiên, một nước vẫn có thể áp dụng các chính sách hỗ trợ
cho các mặt hàng nội địa giảm nhẹ thiệt hại dưới hình thức tự vệ.
1.5.2 Một số cách thức chống bán phá giá
Trong quan hệ kinh tế ngày nay, việc phát triển nền kinh tế hàng hóa là
chủ yếu và ngày càng đa dạng về chủng loại cũng như chất lượng sản phẩm. Các
hình thức kinh doanh cũng phát triển mạnh mẽ đặc biệt là xuất khẩu hàng hóa và
việc này sẽ không tránh khỏi việc bán phá giá vào một quốc gia hay vùng lãnh
thổ, trong tình thế đó các chủ thể bị thiệt hại nhất định sẽ tìm cách để ngăn cản
hành vi bán phá giá đó và trên thế giới cũng như Việt Nam hiện nay vẫn đang áp
dụng một số biện pháp sau để chống bán phá giá:
Áp dụng thuế chống bán phá giá: Đây là biện pháp thường áp dụng phổ
biến nhất. Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì Thuế chống bán phá giá là
thuế nhập khẩu bổ sung được áp dụng trong trường hợp hàng hóa bị bán phá giá
nhập khẩu vào Việt Nam gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành
sản xuất trong nước. Cũng như vậy, việc quy định thuế chống bán phá giá là chế
tài chủ yếu áp dụng cho các mặt hàng được xem là bán phá giá và thường thì
mức thuế rất cao có thể lên đến 100% và đây là một thiệt hại to lớn cho bên
xuất khẩu.
Cam kết về các biện pháp loại trừ chống bán phá giá: Đây là biện pháp
thường áp dụng trong khi gia nhập các tổ chức đa phương về thương mại, và các
chủ thể chủ yếu là cá nhân, tổ chức hay là chính phủ của một nước nào đó. Việc
áp dụng các cam kết này chưa thật sự được thực hiện tại Việt Nam vì chúng ta
chưa đủ các điều kiện cần thiết để đáp ứng các yêu cầu đó, các cam kết này
mang tính tự nguyện thực thi cũng như phải chấp nhận các chế tài khi vi phạm
vào đó, việc cam kết này sẽ thực hiện khi các nước cùng nằm trong một tổ chức
thương mại, việc cam kết này chỉ có hiệu lực đối với nước đã cam kết mà không
áp dụng đối với các nước không tham gia. Thường thì các biện pháp loại trừ
giá có thể so sánh được trong điều kiện thương mại thông thường ("giá trị thông
SVTH: Hà Văn Chinh - Lớp: Luật K31C 10