Thực thi pháp luật chống bán phá giá tại thị trường Việt Nam - Pdf 27

Tiểu luận môn Luật kinh doanh quốc tế

Họ tên: Vũ Lê Vân
Lớp : Anh 3 – QTKD – K43

LỜI NÓI ĐẦU
Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế tạo ra những thách thức to lớn cho
các quốc gia khi phải đối mặt với việc cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị
trường thế giới. Luật chống bán phá giá được các quốc gia sử dụng như một
rào cản nhằm bảo hộ cho nền sản xuất trong nước hoặc như một vũ khí đắc
lực để trả đũa thương mại. Với một loạt những vụ kiện hàng xuất khẩu Việt
Nam bán phá giá, giờ đây vấn đề chống bán phá giá đã trở thành một điểm
nóng được nhà nước ta cũng như dư luận đặc biệt quan tâm. Nhưng nước ta
không thể chỉ chú tâm đối phó với các vụ kiện hàng xuất khẩu Việt Nam bán
phá giá trong khi hàng hoá nội địa đang bị đe doạ bởi việc thâm nhập của
những hàng hoá nhập khẩu bán với giá quá thấp so với giá hàng nội địa.
Năm 2004, uy ban thường vụ Quốc Hội đã ban hành Pháp lệnh chống
bán phá giá hàng nhập khẩu và một số văn bản luật liên quan khác để điều
chỉnh các hành vi bán phá giá tại thị trường nội địa. Đây là một bước ngoặt
quan trọng trong việc quản lý giá cả của nước ta, giúp bảo hộ nền sản xuất nội
địa trước sự cạnh tranh không lành mạnh của nước khác bằng việc bán phá
giá hàng hoá. Bài tiểu luận của em viết về tình hình: “Thực thi pháp luật
chống bán phá giá tại thị trường Việt Nam” với những nội dung chính như
sau:
Phần I: Tổng quan về bán phá giá và thuế chống bán phá giá
Phần II: Quá trình của một vụ kiện bán phá giá
Phần III: Thực trạng của Việt Nam - những khó khăn trong việc chống
bán phá giá hàng xuất khẩu
Phần IV: Kiến nghị và giải pháp về vấn đề chống bán phá giá tại thị
trường Việt Nam
Phần I và phần II sẽ viết theo hướng tập trung tổng hợp nội dung của Pháp

Việt Nam (sau gọi tắt là Pháp lệnh) định nghĩa “hàng hoá có xuất xứ từ nước
hoặc vùng lãnh thổ bị coi là bán phá giá khi nhập khẩu vào Việt Nam nếu
hàng hoá đó được bán thấp hơn với giá thông thường...”.
Điều 2.1, hiệp định chống bán phá giá của WTO quy định “một sản
phẩm bị coi là bán phá giá (tức là được đưa vào lưu thông thương mại của
một nước khác với giá thấp hơn trị giá thông thường của sản phẩm đó) nếu
như giá xuất khẩu của sản phẩm từ một nước này sang một nước khác thấp
hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại
nước xuất khẩu theo điều kiện thương mại thông thường.”
Các định nghĩa đều hàm chứa nội dung rằng hiện tượng “bán phá giá”
xảy ra khi hàng hoá xuất khẩu bán sang một nước khác với giá bán thấp hơn
tại thị trường nội địa của nước xuất khẩu. Hay nói cách khác, các định nghĩa
chỉ ra cách nhận diện hiện tượng bán phá giá – so sánh giá xuất khẩu với một
mức giá được chọn làm giá “chuẩn”.
II. Các trường hợp bán phá giá :
Căn cứ vào loại giá được đem ra so sánh, ta có các trường hợp bán phá
giá sau:
- Giá xuất khẩu thấp hơn giá hàng hoá tương tự ở thị trường nội địa
- Giá xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất
- Giá xuất khẩu sang nước tiến hành điều tra chống bán phá giá thấp hơn giá
xuất khẩu hàng hoá đó sang một nước khác
Tiểu luận môn Luật kinh doanh quốc tế

Họ tên: Vũ Lê Vân
Lớp : Anh 3 – QTKD – K43

- Trong trường hợp hàng nhập khẩu từ một nước có nền kinh tế phi thị
trường thì nước nhập khẩu có thể lấy giá của một nước thứ ba để so sánh
khi xác định xem có bán phá giá hay không.
Tuỳ tính chất của hàng hoá cũng như tính chất thị trường nước xuất

- Trên góc độ vi mô: khi đối mặt với hiện tượng bán phá giá, doanh nghiệp
sẽ bị mất thị trường và mất lợi nhuận. Đây thực sự là mối lo ngại không chỉ
của các nước phát triển mà của cả các nước đang phát triển, vì lợi thế so sánh
của các nước luôn thay đổi và cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt hơn trên
thị trường quốc tế. Chính vì lẽ đó, các doanh nghiệp sản xuất nội địa đều
muốn chính phủ bảo vệ họ trước hiện tượng bán phá giá.
Nhìn chung, các chuyên gia kinh tế đều nhìn nhận rằng bán phá giá là
hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong quan hệ kinh doanh quốc tế. Mặc
dù người tiêu dùng sẽ được hưởng lợi vì được mua hàng hoá với mức giá rẻ
hơn mức giá thông thường nhưng bán phá giá có thể gây thiệt hại nghiêm
trọng cho ngành sản xuất hàng hoá tượng tự của nước nhập khẩu. Chính vì
vậy, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều tìm mọi cách, mà trước tiên là
bằng việc thoả thuận thông qua các điều ước quốc tế và xây dựng pháp luật
quốc gia, để chống lại hành vi bán phá giá, nhằm bảo vệ thị trường và nền sản
xuất trong nước của mình.
V. Khái niệm và vai trò của thuế chống bán phá giá:
1. Khái niệm:
Theo điều 2 của pháp lệnh chống bán phá giá của Việt Nam, “thuế
chống bán phá giá là thuế nhập khẩu bổ sung được áp dụng trong trường hợp
hàng hoá bị bán phá giá nhập khẩu vào Việt Nam gây ra hoặc đe doạ gây ra
thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước.”
Như vậy, thuế chống bán phá giá là một sắc thuế mà nước nhập khẩu
đánh vào một mặt hàng nhập khẩu được bán phá giá với mục đích ngăn cản
sự tiếp diễn của việc bán phá giá đó để tránh gây thiệt hại cho ngành sản xuất
mặt hàng tương tự ở trong nước.
2. Vai trò của thuế chống bán phá giá:
Tiểu luận môn Luật kinh doanh quốc tế

Họ tên: Vũ Lê Vân
Lớp : Anh 3 – QTKD – K43


Họ tên: Vũ Lê Vân
Lớp : Anh 3 – QTKD – K43

a. Nguyên tắc xác định phá giá:
Biên độ phá giá(BĐPG) = giá trị thông thường(GTTT) – giá xuất
khẩu(GXK)
Nếu biên độ phá giá lớn hơn 0 thì có phá giá xảy ra. Biên độ phá giá có
thể tính bằng giá trị tuỵệt đối hoặc theo phần trăm theo công thức:
BĐPG = (GTTT – GXK)/ GXK
b. Cách tính giá thông thường:
Theo Pháp lệnh, “giá thông thường của hànghoá nhập khẩu vào Việt
Nam là giá có thể so sánh được của hàng hoá tương tự đang được bán trên thị
trường nội địa của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu theo các điều kiện
thương mại thông thường.” (điều 3.2)
Hàng hoá tương tự là hàng hoá có tất cả các đặc tính giống với hàng
hoá bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống phá giá hoặc hàng hoá có nhiều đặc
tính cơ bản giống với hàng hoá bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá
giá (điều 2.6 của Pháp lệnh). Khi đó,
GTTT = Giá nội địa của hàng hoá tương tự (HHTT)
Tuy nhiên, có những trường hợp mà ở đó không thể xác định được giá nội
địa của HHTT để so sánh, bao gồm:
- HHTT không được bán tại nước xuất khẩu trong điều kiện thương mại
thông thường hoặc
- Có bán ở nước xuất khẩu nhưng trong điều kiện đặc biệt; hoặc
- số lượng bán ra không đáng kể (< 5% số lượng HHTT bán ở nước nhập
khẩu)
Khi đó, giá trị thông thường được tính theo công thức:
GTTT = giá xuất khẩu HHTT sang nước thứ ba; hoặc
GTTT = giá thành sản xuất + chi phí (hành chính, bán hàng, quản lý

- Trung bình GTTT so với GXK (từng giao dịch) (cách này chỉ được áp dụng
khi GXK chênh lệch đáng kể giữa những người mua, các vùng hoặc giữa các
khoảng thời gian khác nhau)
Tiểu luận môn Luật kinh doanh quốc tế

Họ tên: Vũ Lê Vân
Lớp : Anh 3 – QTKD – K43

Trường hợp HHTT được xuất khẩu sang nước nhập khẩu qua một nước
trung gian (nước xuất khẩu) thì so sánh giá HHTT ở nước xuất khẩu (nước
trung gian) với giá bán HHTT từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu.
Nếu HHTT chỉ đơn thuần được chở từ nước sản xuất qua nước xuất
khẩu thì so sánh giá ở nước xuất xứ với giá bán HHTT từ nước xuất khẩu
sang nước nhập khẩu.
2. Xác định thiệt hại đối với ngành sản xuất trong nước:
Ngành sản xuất trong nước là toàn bộ các nhà sản xuất trong nước sản
xuất ra HHTT hoăc một số nhà sản xuất có sản lượng chiếm đa số tổng sản
lượng trong nước. Ngành sản xuất trong nước xét đến ở đây sẽ không bao
gồm những nhà sản xuất có liên quan đến nhà nhập khẩu đang bị điều tra về
việc bán phá giá.
Các loại thiệt hại bao gồm:
- Thiệt hại về vật chất đối với một ngàng sản xuất trong nước (thiệt hại
hiện tại); hoặc
- Nguy cơ gây thiệt hại về vật chất đối với một ngành sản xuất trong nước
(thiệt hại tương lại); hoặc
- Làm trì trệ sự phát triển một ngành sản xuất trong nước (không có qui
định cụ thể )
Như vậy, để xác định thiệt hại cần xem xét các nhân tố sau:
(i) Khối lượng hàng nhập khẩu bị bán phá giá: có tăng một cách đáng kể
không?

Các biện pháp chống bán phá giá chỉ có thể được áp dụng nếu có mối
quan hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu bán phá giá và thiệt hại đáng kể mà
ngành sản xuất trong nước phải gánh chịu, đe doạ gây ra thiệt hại đáng kể và
cản trở sự thành lập của ngành sản xuất trong nước.

II. Quá trình từ khi bắt đầu điều tra đến khi có kết luận sơ bộ:
1. Tham vấn với các bộ ngành và các bên liên quan
Tiểu luận môn Luật kinh doanh quốc tế

Họ tên: Vũ Lê Vân
Lớp : Anh 3 – QTKD – K43

Trước khi dành các nguồn lực đáng kể để thu thập thông tin nhằm nộp
hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá, thông thường, đại diện
các ngành sản xuất trong nước tham vấn với Bộ liên quan giúp quyết địh rõ
ràng có lý do để đưa ra yêu cầu hay không.
2. Hồ sơ yêu cầu áp dụng các biện pháp chống bán phá giá
Điều 8.1 của Pháp lệnh quy định rõ rằng chỉ các tổ chức đại diện cho
ngành sản xuất trong nước mới có thể nộp hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp
chống bán phá giá. Các tổ chức, cá nhân được coi là đại diện cho ngành sản
xuất trong nước nếu:
- Khối lượng, số lượng hoặc giá trị hàng hoá do người nộp hồ sơ đại diện
chiếm ít nhất 25% tổng khối lượng, số lượng hoặc giá trị tương tự của ngành
sản xuất trong nước
- Khối lượng, số lượng hoặc giá trị của hàng hoá của các nhà sản xuất
trong nước (bao gồm của cả người nộp hồ sơ) ủng hộ việc nộp hồ sơ phải
lớn hơn khối lượng, số lượng hoặc giá trị hàng hoá tượng tự của các nhà sản
xuất trong nước phản đối yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá.
Hồ sơ yêu cầu điều tra chống bán phá giá phải dưới dạng văn bản (điều
IX Pháp lệnh). Nội dung hồ sơ được quy định trong điều 9.1 của Pháp lệnh và

4. Cơ quan điều tra chấp nhận hồ sơ, thông báo cho người xuất khẩu và
Chính phủ nước ngoài
Sau khi cơ quan điều tra nhận được đầy đủ hồ sơ theo quy định tại điều
IX của pháp lệnh, và trước khi Bộ trưởng thương mại ra quyết định điều tra,
Chính phủ và nhà xuất khẩu nước ngoài phải được thông báo trước. Hơn nữa,
pháp luật về chống bán phá giá của Việt Nam cũng được cung cấp (điều 10.3
Pháp lệnh).
5. Xem xét /đánh giá hồ sơ yêu cầu
Trong vòng 45 ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ yêu cầu, cơ
quan điều tra phải xem xét và đánh giá hồ sơ:
- tư cách bên yêu cầu (liệu có đáp ứng điều kiện quy định tại điều 8.1 của
Pháp lệnh?)
Tiểu luận môn Luật kinh doanh quốc tế

Họ tên: Vũ Lê Vân
Lớp : Anh 3 – QTKD – K43

- Thông tin chứng minh có bán phá giá gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại
đáng kể cho ngành sản xuất trong nước.
Khi cơ quan điều tra kết thúc xem xét và đánh giá hồ sơ yêu cầu, cơ
quan này sẽ đề nghị lên Bộ trưởng thương mại xem xét quyết định (khoản 1
điều XIX Nghị định).
6. Quyết định tiến hành điều tra chống bán phá giá
Sau khi xem xét đề nghị của cơ quan điều tra, Bộ trưởng thương mại sẽ
có 60 ngày để ra quyết định có tiến hành điều tra chống bán phá giá hay
không (khoản 4 điều X Pháp lệnh)
Trong trường hợp đặc biệt, Bộ trưởng thương mại có thể được gia hạn
thời gian nhưng không quá 90 ngày để ra quyết định (khoản 4 điều X Pháp
lệnh)
7. Chính phủ công bố công khải việc tiến hành điều tra và cơ sở pháp lý

hạn thêm 30 ngày nếu có yêu cầu (điều 23.2 Nghị định)
9. Công bố công khai kết luận sơ bộ thông báo các bên liên quan
Sau khi cơ quan điều tra đã thu thập đầy đủ thông tin để có thể xác định
biên độ bán phá giá, thiệt hại đáng kể hoặc đe doạ gây ra thiệt hại đáng kể cho
ngành sản xuất trong nước, và mối quan hệ nhân quả của hai yếu tố này, kết
luận sơ bộ sẽ được đưa ra.
Kết luận sơ bộ phải được thông báo cho các bên liên quan và được
công bố công khai (điều 17 Pháp lệnh, điều 31.1 Nghị định) với nội dung
được quy định cụ thể trong khoản 2 điều 31 của Nghị định.
Trong vòng 7 ngày kể từ khi công bố kết luận sơ bộ, Cơ quan điều tra
phải báo cáo và trình kết luận này lên Bộ trưởng bộ thương mại bao gồm cả
đề xuất về việc áp dụng biện pháp tạm thời nếu cần thiết (điều 31.3 Nghị
định)
Công bố công khai kết luân sơ bộ được thực hiện trong vòng 90 ngày
kể từ ngày ra quyết định tiến hành điều tra. Thời hạn này có thể được gia hạn
60 ngày (khoản 1 điều 17.1, điều 31.1 Nghị định)

III. Quá trình từ kết luận sơ bộ đến kết luận cuối cùng:
Tiểu luận môn Luật kinh doanh quốc tế

Họ tên: Vũ Lê Vân
Lớp : Anh 3 – QTKD – K43

1. Tổ chức tham vấn trong điều tra:
Theo điều 14 Pháp lệnh và điều 29 Nghị định, để các bên liên quan có
cơ hội bảo vệ quyền lợi của mình, cơ quan điều tra sẽ tổ chức phiên tham vấn
công khai theo thời gian nêu trong quyết định điều tra. Không quá 30 ngày
trước phiên tham vấn, các bên liên quan muốn tham gia phải có đăng ký bằng
văn bản và dự kiến nội dung tranh luận (khoản 2 điều XXIX Nghị định)
Trong phiên tham vấn, hai bên yêu cầu và bị yêu cầu có thể lần lượt

được thực hiện trong vòng 30 ngày sau khi kết thúc điều tra (điều 18.1 Pháp
lệnh, điều 33.1 Nghị định).

IV. Áp dụng biện pháp chống bán phá giá:
1. Áp dụng biện pháp tạm thời:
Theo điều 20.1 Pháp lệnh thì, “sau sáu mười ngày, kể từ ngày có quyết
định điều tra, căn cứ vào kết luận sơ bộ Bộ trưởng Bộ thương mại có thể ra
quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá tạm thời” nếu cơ quan điều tra kết
luận rằng biện pháp tạm thời là cần thiết để ngăn chặn thiệt hại trong quá trình
điều tra.
Biện pháp tạm thời có thể được áp dụng dưới các hình thức:
- Thuế; hoặc
- Đặt cọc khoản tiền tương đương với khoản thuế chống bán phá giá dự
kiến; hoặc
- Cho thông quan nhưng bảo lưu quyền đánh thuế và nêu rõ mức thuế nhập
khẩu thông thường và mức thuế chống bán phá giá dự kiến sẽ áp dụng.
Biện pháp tạm thời sẽ được duy trì càng ngắn càng tốt, không được quá
4 tháng hoặc trong trường hợp cần thiết thì cũng không được quá 6 tháng.
Trường hợp cơ quan điều tra xác định được rằng khoản thuế thấp hơn biên độ
phá giá đã đủ để khắc phục thiệt hại thì thời gian áp dụng biện pháp tạm thời
có thể là 6 tháng hoặc 9 tháng.
2. Cam kết giá:
Tiểu luận môn Luật kinh doanh quốc tế

Họ tên: Vũ Lê Vân
Lớp : Anh 3 – QTKD – K43

Theo điều 21 của Pháp lệnh thì sau khi có kết luận sơ bộ và trước khi
kết thúc giai đoạn điều tra, tổ chức cá nhân sản xuất hoặc xuất khẩu hàng hoá
thuộc đối tượng điều tra có thể đưa ra cam kết với Bô thương mại, với các nhà

Trong các trường hợp này có thể truy thu thuế kể từ ngày bắt đầu áp dụng
biện pháp tạm thời. Có thể truy thu thuế 90 ngày trước khi áp dụng biến pháp
tạm thời nếu cơ quan chức năng xác định được:
- có cả một quá trình bán phá giá gây ra thiệt hại và
- thiệt hại bị gây ra bởi khối lượng rất lớn hàng nhập khẩu trong thời gian
ngắn trước khi áp dụng biện pháp tạm thời
Tuy nhiên, không được truy thu thuế với sản phẩm được nhập khẩu
trước ngày bắt đầu cuộc điều tra.
Trong một số trường hợp, nước nhập khẩu sẽ phải hoàn lại thuế cho
nhà sản xúât/xuất khẩu:
- Nếu mức thuế cuối cùng xác định được thấp hơn mức thuế tạm thời đã
thu thì phải hoàn lại khoản chênh lêch cho nhà nhập khẩu, nếu cao hơn thì
không được thu thêm.
- Nếu kết luận điều tra cuối cùng khẳng định việc bán phá giá sẽ có thể
dẫn đến thiệt hại hoặc làm chậm sự phát triển của ngành sản xuất trong nước
thì thuế chống bán phá giá chỉ được đánh từ ngày ra kết luận điều tra cuối
cùng và phải hoàn lại số tiền đặt cọc đã thu khi áp dụng biện pháp tạm thời.
- Nếu kết luận cuối cùng là không đánh thuế chống bán phá giá thì khoản
tiền đặt cọc khi áp dụng biện pháp tạm thời sẽ được hoàn trả.

V. Rà soát:
Sau một năm, kể từ ngày có quyết định áp dụng biện pháp chống bán
phá giá, Bộ trưởng Bộ thương mại có quyền quyết định rà soát việc áp dụng
biện pháp chống bán phá giá khi có đề nghị của một hoặc nhiều bên có liên
quan và trên cơ sở xem xét các bằng chứng do bên đề nghị cung cấp. Mục
đích của việc ra soát là xem xét về vấn đề có cần tiếp tục đánh thuế không,
hoặc nếu ngừng đánh thuế hoặc thay đổi mức thuế thì có dẫn đến thiệt hại
không.
Tiểu luận môn Luật kinh doanh quốc tế


lớn thường hay sử dụng là chiến lược bán phá giá.
Tiểu luận môn Luật kinh doanh quốc tế

Họ tên: Vũ Lê Vân
Lớp : Anh 3 – QTKD – K43

1. Coca cola chiếm lĩnh thị trường Việt Nam bằng chiến lược giá rẻ:
Thâm nhập vào thị trường Việt Nam từ năm 1994, Cocacola – hãng
nước giải khát lớn nhất thế giới - đã nhanh chóng đánh bật các hãng giải khát
nhỏ lẻ trong nước để trở thành hãng chiếm thị phần lớn nhất. Ngoài việc đầu
tư vào quảng cáo, tiếp thị, Cocacola còn sử dụng tạo lợi thế cạnh tranh với các
nhà sản xuất trong nước bằng việc đưa ra mức giá thành thấp hơn hẳn các đối
thủ cạnh tranh chấp nhận thua lỗ nặng nề ở thị trường Việt Nam. Họ làm được
điều này là do khả năng tài chính hùng mạnh từ công ty mẹ mà các công ty
nhỏ tại nước chủ nhà sẽ không đủ lực về tài chính để lao vào các cuộc cạnh
tranh hoàn toàn bất lợi cho mình.
Thực tế phản ánh rõ ràng hơn khi so sánh giá sản phẩm Coca Cola ở
Việt Nam so với giá thành ở Mỹ trong giai đoạn hãng mới thâm nhập thì
trường Việt Nam: một lon Coca Cola ở thị trường Mỹ là 75 cents (tương
đương khoảng 10500 đồng) trong khi một lon Coca Cola bán tại thị trường
Việt Nam bình quân một lon giá 5.000 đồng - 7.000 đồng (tương đương
khoảng 40 - 50 cents) thấp hơn giá bình quân trên thị trường Mỹ là 25 cents
(tỷ giá tạm tính 14.000 VND/USD). Nghiên cứu cũng chỉ ra Công ty Coca
Cola Việt Nam đã xâm chiếm thị phần của các đối thủ bằng con đường bán
phá giá (đặc biệt trong hai tháng 3 và tháng 4/1998) với mức kỷ lục là 30%.
2. Hàng Trung Quốc giá rẻ khiến các doanh nghiệp trong nước mất thị
phần:
Bắt đầu với lĩnh vực may mặc. Áo sơ mi vải 65% polieste và 35%
cotton, tính hết tất cả chi phí thì giá thành khoảng 70.000 đồng/áo, nhưng hiện
nay ở thị trường Việt Nam áo sơ mi của Trung Quốc chỉ bán 25.000 -

VN, sản lượng sản xuất thép trong nước từ đầu năm đến nay giảm khoảng
10% so với cùng kỳ, trong khi tổng mức tiêu thụ trong nước lại tăng 12%.
Đặc biệt, hiện có khoảng 60.000 tấn thép cuộn sản xuất trong nước còn tồn
kho không tiêu thụ được.
Ta có thể thấy, ngành sản xuất nội địa của Việt Nam đã phải chịu rất
nhiều thiệt hại do việc bán phá giá của hàng hoá nhập khẩu. Trước tình cảnh
đó, năm 2004, Pháp lệnh về chống bán phá giá hàng hoá xuất khẩu vào thị
Tiểu luận môn Luật kinh doanh quốc tế

Họ tên: Vũ Lê Vân
Lớp : Anh 3 – QTKD – K43

trường Việt Nam đã được ban hành. Tuy nhiên, vì nhiều lý do mà cho đến
nay, Việt Nam vẫn chưa thực hiện được một vụ kiện chống bán phá giá hàng
nhập khẩu nào.

II. Những khó khăn của Việt Nam trong việc chống bán phá giá:
1. Các doanh nghiệp Viêt Nam còn nhỏ lẻ, thiếu liên kết lại không có
nhiều kinh nghiệm về việc chống bán phá giá:
a. Doanh nghiệp Việt Nam con nhỏ lẻ, thiếu liên kết:
Để khởi kiện và xét xử một vụ bán phá giá, như vụ kiện cá basa, phía
Mỹ đã phải huy động một lực lượng hùng hậu các luật sư kinh nghiệm đầy
mình, cũng như mọi lý lẽ từ kinh tế đến chính trị. Bộ Thương mại Mỹ cũng
phải cử các đoàn điều tra sang VN nhiều lần để "xem" qui trình sản xuất của
từng DN cụ thể. Vụ kiện bán phá giá đó đã phải kéo dài 14 tháng và kết quả
cũng mang tính áp đặt hơn là thuyết phục. Liệu chúng ta có sẵn sàng cho
những chi phí lớn như vậy không?
Tỷ trọng doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam chiếm đến hơn 90%
tổng số doanh nghiệp, và cũng chiếm đa số vị trí thành viên của các Hiệp hội
ngành nghề. Sự liên kết đã vụn vặt, bản thân các doanh nghiệp lại non yếu

gặp rất nhiều khó khăn. Và khi chúng ta không thể biết được nhà sản xuất là
ai thì làm sao có thể biết được chi phí của họ?
Không thể xác định được giá nội địa của sản phẩm bị nghi ngờ là bán
phá giá, một bằng chứng khác có thể sử dụng là việc chính phủ trợ cấp cho
DN sản xuất hàng xuất khẩu. Phía Mỹ cùng một số nước khác đã cố gắng tìm
bằng chứng này trong các vụ kiện bán phá giá đối với VN nhưng đều thất bại.
Trên thực tế rất khó tìm được bằng chứng này, và dù việc trợ giá là có thật thì
ngày nay người ta cũng đủ khéo léo để giấu dưới những hình thức mà bên
nguyên không thể buộc lỗi.
Thêm nữa, việc quản lý giá cả trên thị trường nội địa vẫn còn nhiều
thiếu xót gây khó khăn trong việc phát hiện và kiểm soát hành vi bán phá giá
trên thì trường.
c. Quyết định về việc áp thuế chống bán phá giá:
Tiểu luận môn Luật kinh doanh quốc tế

Họ tên: Vũ Lê Vân
Lớp : Anh 3 – QTKD – K43

Một vấn đề nữa được đặt ra là có nên áp dụng thuế chống bán phá giá
không ngay khi các điều kiện để áp dụng thuế này đã được tuân thủ? Nghiên
cứu phân tích cho thấy khi áp dụng thuế chống bán phá giá thì lợi ích về mặt
kinh tế của toàn xã hội có thể bị giảm bớt. Đặc biệt trong bối cảnh ở Việt
Nam, khi chất lượng sản phẩm sản xuất trong nước còn chưa được chú trọng,
thì việc đánh thuế gây hạn chế nhập khẩu sẽ làm tình trạng sản xuất trong
nước trì trệ hơn. Cuối cùng, người tiêu dùng trong nước sẽ phải chịu thiệt,
hoặc nguồn cung cấp không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng.

PHẦN IV: KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP VỀ VẤN ĐỀ CHỐNG BÁN
PHÁ GIÁ TẠI THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM
I. Cải cách các chính sách về quản lý giá cả cũng như về việc chống

ngăn chặn nó.
Cần tuyên truyền và đào tạo cho các doanh nghiệp có những hiểu biết
nhất định về quyền và nghĩa vụ của họ khi tham gia các cuộc điều tra chống
bán phá giá. Ngoài ra, các doanh nghiệp cần biết rõ nguy cơ hàng xuất khẩu
của họ có bị kiện bán phá giá trên thì trường quốc tế hay không.
III. Chú trọng xây dựng các Hiệp hội ngành nghề lớn mạnh:
Khi các DN đơn lẻ của chúng ta không đủ nguồn lực để tìm hiểu thị
trường và thông tin về đối thủ, không đủ khả năng tài chính để tham gia vụ
kiện, thì vai trò của các hiệp hội là hết sức quan trọng. Cần tạo môi trường
Hiệp hội để các doanh nghiệp có điều kiện trao đổi thông tin, hợp sức tìm
biện pháp đối phó khi hàng xuất khẩu có nguy cơ bị kiện bán phá giá, đồng
thời hợp tác với nhau và với chính phủ để chống bán phá giá hàng hoá tương
tự tại thị trường trong nước.
Những Hiệp hội ngành nghề khi cần sẽ là đại diện hợp pháp cho các
doanh nghiệp đứng lên khởi kiện việc hàng hoá nhập khẩu bán phá giá tại
Việt Nam. Để có thể đối đầu với các đối thủ nước ngoài, những Hiệp hội này
cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng cả về kiến thức, kinh nghiệm lẫn nguồn lực tài
chính.
IV. Khai thác triệt để thị trường thế giới:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status