Nghiên cứu việc áp dụng thuế chống bán phá giá - Pdf 24


-1-
Lời mở đầu

Trong bối cảnh toàn cầu hoá và quốc tế nền kinh tế, hội nhập và tham
gia các tổ chức kinh tế quốc tế là xu thế không thể đảo ngược đối với mỗi
quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế của mình.
Cùng với việc thực hiện đường lối chủ động hội nhập kinh tế quốc tế,
Việt nam đã đạt được thành tựu khá ngoạn mục trong việc đẩy mạnh xu
ất
khẩu hàng hoá. Trong khi những mặt hàng xuất khẩu của Việt nam ngày càng
có uy tín trên thị trường thế giới đã xuất hiện một số trường hợp hàng xuất
khẩu của nưóc ta bị nước nhập khẩu điều tra và áp dụng thuế chống bán phá
giá để tạo ra hàng rào bảo hộ, ngăn cản hàng hoá của ta không cho xuất khẩu
vào thị trường của nước họ. Việt nam tham gia vào ASEAN, APEC và đàm
phán xin gia nhập WTO đồng nghĩa với sự thay đổi sâu sắc các chính sách
thương mại liên quan tới việc mở cửa thị trường. Hiện tượng bán phá giá hàng
nước ngoài chắc chắn sẽ ngày càng tăng trên thị trường nước ta, có thể gây ra
những tổn thất lớn cho các nhà sản xuất tương tự trong nước do hàng rào bảo
hộ bằng các biện pháp hạn chế định lượng có thể biến mất, đồng thời thu
ế
suất thuế nhập khẩu cũng giảm xuống.
Đứng trước thực tế đó, đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu và sớm áp
dụng các công cụ bảo hộ mới phù hợp với các quy định của Tổ chức Thương
mại Thế giới (WTO) trong đó có thuế chống bán phá giá. Đây là việc làm
mang tính cấp bách và cần thiết vì lợi ích và yêu cầu của đất nước. Đạt được
đ
iều này, đòi hỏi nước ta phải hoàn thiện hệ thống pháp lý thương mại trước
khi được kết nạp là thành viên của WTO nhằm bảo vệ công nghiệp sản xuất
nội địa và bảo vệ thị trường hàng hoá trong nước chống lại việc bán phá giá
hoặc chống lại các trợ cấp mang tính chất kỳ thị đối với hàng hoá xuất khẩu

-3-
CHƯƠNG I
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC ÁP DỤNG THUẾ
CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ

I. KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA KINH TẾ CỦA THUẾ CHỐNG BÁN
PHÁ GIÁ
1. Lịch sử và nguồn gốc của bán phá giá
Khái niệm “bán phá giá” trong thương mại quốc tế có một lịch sử lâu
đời. Trong những cuộc tranh luận tại Mỹ năm 1791, Alexander Halinton đã
cảnh báo về các thủ pháp của các đối thủ cạnh tranh bán hạ giá tại các nước
khác để nhằm mục tiêu chiếm lĩnh thị trường. Những tr
ường hợp bán phá giá
của các nhà sản xuất Anh tại thị trường mới mẻ ở nước Mỹ đã được báo cáo.
Cuộc tranh luận của công chúng về vấn đề này, cùng nhiều nỗ lực của ngành
lập pháp nhằm đối phó với nó cũng được ghi nhận trong gần hết thế kỷ 19.
Đầu thế kỷ XX, Đạo luật chống bán phá giá cụ thể đầu tiên được ban hành ở
Canada năm 1904. Sau đ
ó Luật chống bán phá giá được ban hành tại
Newzealand năm 1905, Australia năm 1906 và Nam phi năm 1914. Nước Mỹ
có Đạo luật chống bán phá giá năm 1916 và nước Anh có vào năm 1921.
Khi xây dựng Hiệp định chung về Buôn bán và Thuế quan (GATT)
năm 1947, một điều khoản đặc biệt về các trường hợp chống bán phá giá đã
được soạn thảo. Điều VI của GATT cho phép các bên ký kết được sử dụng

 Các quy tắc chi tiết về các sự kiện cấu thành việc “ bán phá
giá”.
 Các quy tắc chi tiết “ yêu cầu về thiệt hại ”
 Các quy tắc chi tiết về những thủ tục theo đó các Chính phủ
xác định và áp dụng các sắc thuế chống bán phá giá.
2. Khái niệm bán phá giá và thuế chống bán phá giá:
2.1 Bán phá giá: Trong ngôn ngữ tiếng Việt, “Bán phá giá” thường được
hiểu là hành động bán một mặt hàng với giá thấp hơn giá hiện hành của
mặt hàng đó trên thị trường, làm cho những người bán hàng khác hạ giá
bán. Như vậy ở đây có sự so sánh về giá ở hai thị trường khác nhau: thị
trường nước nhập khẩu và thị tr
ường nước xuất khẩu, mặc dù giá bán ở
thị trường tiêu thụ (nước nhập khẩu) có thể không khác nhau, thậm chí
có thể xảy ra trường hợp giá bán cáo hơn giá hiện hành. Nhìn chung, các
tài liệu quốc tế đều thống nhất hiện tượng “bán phá giá” xảy ra khi hàng

-5-
hoá xuất khẩu được bán sang một nước khác với giá thấp hơn giá bán tại
thị trường nội địa (của nước xuất khẩu). Nếu đọc lướt qua, định nghĩa
này thật là đơn giản, chỉ việc so sánh giữa giá xuất khẩu với giá bán tại
nội địa, nếu giá xuất khẩu thấp hơn giá nội địa tức là có sự bán phá giá.
Tuy nhiên, sự việc lại không đơn giản chút nào khi m
ột loạt câu hỏi
được đặt ra cần giải quyết khi so sánh giá để đảm bảo sự chính xác và
công bằng: giá nội địa là giá nào? Là giá bán buôn hay giá bán lẻ? Giá
xuất khẩu là giá nào? ...
2.2 Thuế chống bán phá giá: là một sắc thuế mà nước nhập khẩu đánh vào
một mặt hàng nhập khẩu được bán phá giá với mục đích ngăn cản sự tiếp
diễn của việc bán phá giá đó để tránh gây thiệt hại cho ngành sả
n xuất

S
P

P
2

Q’2
Q1
Q2
Q

D-6-

Từ hình này cho thấy thặng dư của người tiêu dùng tăng thêm một
lượng bằng diện tích hình thang ABDE, trong khi đó thặng dư của nhà sản
xuất trong nước giảm một lượng bằng diện tích hình thang ABCE.
Như vậy có thể thấy tác động của việc bán phá giá là: gây thiệt hại cho
ngành sản xuất nội địa nhưng lại mang lại lợi ích cho người tiêu dùng. Về
tổng thể
, toàn xã hội được lợi bằng diện tích tam giác CDE.
Xuất phát từ thành kiến cố hữu, việc “bán phá giá” thường được coi là
có tác động tiêu cực, thường vì lý do làm giảm lợi nhuận của những người
bán hàng khác hoặc gây thiệt hại cho các nhà sản xuất cùng một mặt hàng của
nước nhập khẩu, cho nên người ta thường tìm biện pháp để chống lại hành
động này. Tuy nhiên, cần phải có sự phân tích thấu đáo bản chất của m
ọi
trường hợp bán phá giá để xem có phải tất cả mọi hành động bán phá gía đều

Tuy nhiên, nếu việc bán phá giá này xảy ra với một lượng lớn và trong
thời gian dài, làm giảm giá ở thị trường nước nhập khẩu sẽ gây tác động đến
lợi ích của nước nhập khẩu. Người tiêu dùng sẽ được lợi từ giá thấp nhưng
ngược lại các nhà sản xuất và công nhân trong ngành công nghiệp đó sẽ bị
thiệt hại vì lợi nhuận và lương bị giảm. Lợi ích cuố
i cùng của nước nhập khẩu
phụ thuộc vào việc lợi ích của người tiêu dùng có lớn hơn thiệt hại của người
sản xuất và công nhân hay không.
Ngay cả trong trường hợp về tổng thể nước nhập khẩu bị thiệt hại cũng
khó có lý do để áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hoá của
hãng đó nhằm khắc phục thiệt hại bởi vì hãng đó có thể lậ
p luận rằng do điều
kiện thị trường của nước nhập khẩu là cạnh tranh, bất kỳ hãng nào cũng có thể
tham gia thị trường đó và làm cho giá giảm xuống. Tuy nhiên, để khắc phục
thiệt hại, nước nhập khẩu có thể áp dụng các biện pháp được phép khác như
tự vệ.
Trường hợp thứ hai
: Giá xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất
Trước hết, để hiểu được ý nghĩa kinh tế của việc bán phá giá thấp hơn
chi phí, cần phân biệt các loại chi phí.
Thông thường, chi phí sản xuất được phân biệt theo 2 loại: chi phí bình
quân (average cost) và chi phí lề (marginal cost).
Chi phí bình quân được tính bằng tổng tất cả các chi phí một hãng phải
chịu chia cho lượng sản phẩm sản xuất ra.
Chi phí lề là chi phí phải bỏ
ra để sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm.
Sự phân biệt này có ý nghĩa quan trọng trong ngắn hạn khi nhiều loại
chi phí sản xuất là cố định, không phụ thuộc vào số lượng sản xuất, chỉ có

-8-

thiết bị...) khoảng 6USD/chiếc.Nếu nhà máy bán hết một triệu chiếc radio mỗi
năm vớ
i lãi 4USD/chiếc thì nó đã bù đắp xong mọi chi phí cố định và có thể

-9-
bán thêm radio với bất cứ mức giá nào cao hơn chi phí biến động
10USD/chiếc để kiếm thêm tiền lãi.
Giả sử nhà máy có thể chạy thêm ca đêm và sản xuất một triệu chiếc
radio nữa mỗi năm. Các chi phí cố định, theo giả định, đã được trang trải
xong với một triệu chiếc radio đầu tiền. Nếu nó có thể xoay xở bán được một
triệu chiếc radio thứ hai này mà không ảnh hưởng gì tớ
i giá bán một triệu
chiếc radio đầu tiên, vậy thì bất cứ mức giá nào cao hơn mức chi phí biến
động 10 USD/ chiếc cũng làm tăng thêm lợi nhuận cho công ty. Thí dụ nó bán
radio làm ca đêm với giá 14 USD, thì nó lãi thêm 4 triệu USD (ngoài số lãi 4
triệu USD từ một triệu chiếc radio đầu tiên làm ca ngày), tức là tăng gấp đôi
lợi nhuận. Dĩ nhiên, việc bán sản phẩm ca đêm không được ảnh hưởng tới giá
trị bán của một triệu radio đầ
u tiên làm ca ngày. Điều này dẫn đến việc phải
tìm kiếm một thị trường khác hẳn cho sản lượng của ca đêm. Thị trường mới
này phải đảm bảo không dễ gì chuyển ngược hàng trở lại thị trường thứ nhất,
nếu không thì giá bán của radio làm ca ban ngày sẽ bị cắt xuống tới mức thấp
hơn giá thành.
Một phương cách để thực hiện việc trên là tính giá bán khác nhau ở
nh
ững khu vực khác nhau, với điều kiện chi phí vận chuyển hàng theo chiều
ngược lại phải đủ cao để ngăn không cho người mua ở thị trường giá rẻ đem
bán lại ở thị trường giá đắt. Trong trường hợp xuất khẩu sản phẩm, các Chính
phủ có thể dựng hàng rào thuế quan ngăn cản việc chở hàng hoá ngược về thị
trường gốc. Như thế, nếu có mộ

3
C
1

2

3

B

P
B
=500
D

C
N

2
C

T

-10-
cho một tivi màu, trong khi các công ty đó ở Mỹ chỉ với giá 400 USD cho
một tivi mầu cùng loại. Việc bán phá giá tivi Nhật ở Mỹ làm cho các công ty
Mỹ không chịu nổi quá trình cạnh tranh. Cho đến năm 1989, sáu hãng tivi lớn
và nhiều hãng nhỏ của Mỹ bị phá sản, công nghiệp sản xuất tivi của Mỹ bị
suy yếu mạnh. Chúng ta có thể lý giải quá trình bán phá giá, chiếm thị trường,
gia tăng lợi nhuận nói trên bằng mô hình sau đây:

Như vậy lợi nhuận đã tăng từ 0 triệu lên 60 triệu USD. Ở tình trạng
thoả thuận bán ở trong nước như vậy, cả ba doanh nghiệp đều có lợi nhuận
cao, song họ không bán thêm vào thị trường trong nước mà xuất khẩu, thì sẽ
không làm giảm giá trị trường trong nước. Và nếu bán ra nước ngoài với giá

-11-
thấp, thì có thể chiếm được thị trường mới. Vấn đề là bây giờ lợi nhuận của
họ thế nào?
Giả sử doanh nghiệp sản xuất hết 100% năng lực, song xuất khẩu 40%
sản phẩm. Tức là mỗi doanh nghiệp sản xuất 500.000 tivi/năm, xuất khẩu
200.000 tivi. Lúc này chi phí mỗi tivi là 450 USD ở điểm D. Giả sử ba doanh
nghiệp quyết định bán phá giá ở nước ngoài, với giá P
N
= 400 USD < P
C
= 450
USD = chi phí bình quân. Như vậy, mỗi doanh nghiệp sẽ lỗ xuất khẩu là:
Lỗ = 200.000 x (450 USD - 400 USD) = 10 triệu USD.
Tuy nhiên do tăng được 40% sản lượng, chi phí bình quân mỗi tivi lại giảm,
từ 500 USD ở điểm B xuống còn 450 USD ở điểm D. Do vậy, mặc dù giá bán
tivi trong nước không tăng, song lợi nhuận do bán trong nước lại tăng:
Lợi nhuận trong nước= 300 x (700 USD - 450 USD) = 75 triệu.
Như vậy lợi nhuận thực tế của mỗi doanh nghiệ
p khi vừa thoả thuận,
vừa bán phá giá ở nước ngoài là:
Lợi nhuận= 75 triệu USD - 10 triệu USD = 65 triệu USD.
Mặc dù chịu lỗ ở nước ngoài, lợi nhuận của mỗi doanh nghiệp đã tăng
từ 60 triệu USD (khi thoả thuận mà không xuất khẩu) lên đến 65 triệu USD
(khi vừa có thoả thuận vừa có xuất khẩu). Còn nếu so sánh khi các doanh
nghiệp cạnh tranh với nhau trong nước, lợi nhuận đã tăng từ 0 tri

thị trường quốc tế của Nhật. Họ phải mua hàng với giá cao ở trong nước để tài
trợ cho các doanh nghiệp bán phá giá ở nước ngoài, còn bản thân các chủ
doanh nghiệp vẫn thu được lợi nhuận cao dù phải bán phá giá để chiếm thị
trường mới.
Cũng có những trường hợp các hãng bán với giá thấp hơn chi phí lề.
Trong các trường hợp này không thể xem xét nguyên nhân hành động của các
hãng với mục tiêu là nhằm tối đa hoá lợi nhuận mà vì các mục tiêu khác.
5. Những nguyên nhân của hành động bán phá giá
Mỗi một hành động bán phá giá đều nhằm đạt được một số mục tiêu cụ
thể và có một số nguyên nhân dẫn đến hành động đó. Chúng ta có thể phân
tích và tổng hợp thành một số nhóm nguyên nhân như sau:
5.1 Bán phá giá nhằm đạt mục tiêu chính trị thao túng các nước khác
Chính phủ Mỹ đặc biệt quan tâm đến xuất khẩu gạo bởi vì cạnh tranh giá
gạo bây giờ ảnh hưởng lớn đến việc đạt các mục tiêu quan trọng khác. Mỹ sẵn
sàng bỏ ngân sách mua phần lớn số gạo trên thị trường thế giới rồi bán phá

-13-
giá. Điều này làm cho nhiều nước xuất khẩu gạo phải lao đao và sẽ phải chịu
vòng phong toả của Mỹ. Chẳng hạn, giá xuất khẩu gạo của Mỹ khoảng
400USD/ tấn, nhưng các nhà xuất khẩu gạo Mỹ sẵn sàng mua với giá
500USD/ tấn, thậm chí cao hơn đến 800USD/tấn, và họ cũng sẵn sàng bán ra
thị trường thế giới chỉ bằng 60 - 70%, thậm chí đến 40% giá mua. Mức giá
này thấp hơn nhiều so với giá thành của chính nông dân Mỹ sản xuất ra. Như
vậy, Mỹ có thể sẵn sàng bỏ ra 700 - 800 triệu USD/ năm để tài trợ giá xuất
khẩu gạo nhằm thực hiện mục tiêu của mình. Chính vì điều này mà mặc dù
sản lượng gạo của Mỹ hàng năm thấp nhưng Mỹ lại thao túng giá gạo trên thị
trường thế giới.
5.2 Do có các khoản tài trợ củ
a Chính phủ
Chính phủ các nước phương Tây coi tài trợ là con đường ngắn nhất để

- Ưu đãi về tín dụng: Những ưu đãi về tín dụng là sự cho vay của
Chính phủ với điều kiện hấp dẫn hơn là tìm kiếm trên thị trường vốn.
ở các nước thuộc Cộng đồng Kinh tế Châu Âu khoả
ng 14% tổng khối
lượng giúp đỡ cho công nghiệp được thực hiện dưới hình thức tín
dụng ưu đãi. Phần lớn khối lượng tín dụng của Chính phủ Nhật bản
cấp cho các hãng vừa và nhỏ với lãi suất thấp hơn ở lãi suất thị
trường vốn 0,5%.
Các Chính phủ cũng thường xuyên bảo đảm các khoản tín dụng, tức là
bảo lãnh cho các công ty vay mà không trả nợ được. Phương pháp tài tr
ợ này
thường dùng cho các hợp đồng xuất khẩu để đảm bảo cho các công ty xuất
khẩu của nước mình. Theo đánh gái, quy mô của tài trợ này chiếm vào khoản
từ 2% đến 8% tổng tài trợ công nghiệp ở các nước công nghiệp phát triển.
- Tham gia của Chính phủ vào chi phí kinh doanh: Sự tham gia của
Chính phủ vào chi phí kinhdoanh thường là 15% tổng tài trợ trở
xuống. Từ thập kỷ 80 đến nay, phần sở hữu Nhà nước trong hoạt
động kinh doanh có xu hướng giảm. Phương pháp này được sử dụng
để bù đắp những tổn thất trong những lĩnh vực kinh tế riêng đang suy
thoái.
Hiện nay, tài trợ công nghiệp vẫn được Chính phủ các nước phương Tây
duy trì ở mức khá cao. Trên thực tế, các khoản tài trợ giúp các ngành thực
hiện công nghệ mới, trang bị máy và thiết bị hiện đại, nghĩa là giúp các ngành
mới gia nhập thị trường và đẩy mạnh phát triển nh
ững ngành công nghiệp
mũi nhọn của đất nước, tăng cường xuất khẩu.

-15-
5.3 Bán phá giá cũng có thể xảy ra trong trường hợp một nước có quá
nhiều hàng tồn kho không thể giải quyết theo cơ chế giá bình thường

sử dụng lao động trẻ em tiền lương thấp và sử dụng lao động của
tù nhân làm hàng xuất khẩu

-16-
Theo số liệu của Văn phòng Quốc tế về lao động trẻ em (BIT) thì trên
toàn thế giới hiện có tới 250 triệu trẻ em từ 5 - 14 tuổi đang tham gia một hoạt
động kinh tế. Còn theo Quỹ Nhi đồng Liên Hợp quốc (UNICEF) thì tại các
nước nghèo, cứ 4 trẻ em thì có một trẻ em làm việc như người lớn.
Việc sử dụng lao động trẻ em và sử dụng lao động tù nhân ngoài việc
mang lại siêu lợi nhuận, nó còn là cách
để cạnh tranh đối với các đối thủ làm
ăn. Nhờ giá nhân công rẻ mạt, người ta có thể hạ giá thành sản phẩm, xuất
khẩu hàng hoá bán phá giá ở nước ngoài.
5.7 Ở Việt Nam có hiện tượng một số công ty kinh doanh hàng nhập khẩu
trả chậm, đã bán phá giá nhằm dùng nguồn vốn nước ngoài để kinh
doanh mặt hàng khác và hàng nhập lậu với khối lượng lớn
Để làm được việc đó, họ tìm cách bán phá giá trên thị tr
ường, có lúc bán
ồ ạt chịu lỗ từ 10 -20% so với giá vốn nhập khẩu để nhanh chóng thu hồi vốn,
đi buôn mặt hàng khác có lãi suất cao hơn, không những đủ bù lỗ số hàng
nhập trả chậm, mà còn có lãi lớn.
Năm 1995, ba mặt hàng quan trọng đã bị bán phá giá theo cách tính
toán trên là xăng dầu, thép xây dựng và phân bón. Cuối năm 1995, giá phân
Urê Indonesia nhập vào Việt nam đang ở mức cao (260-265USD/ tấn CIF
Cảng Sài gòn), nhưng giá bán buôn cả tàu tại Tân Quy, Nhà Bè, Thành phố
Hồ Chí Minh liên tụ
c giảm xuống chỉ còn 245đồng/kg.
Ngoài ra, hàng ngoại nhập lậu với khối lượng lớn trong những năm vừa
qua thu được lợi nhuận siêu ngạch từ việc trốn thuế nhập khẩu đã chiếm lĩnh
thị trường với giá cạnh tranh so với hàng sản xuất trong nước, loại khỏi thị

địa đối với sản phẩm đ
ó không đổi, lượng tiêu thụ giảm từ Q1 xuống Q’1,
trong đó lượng hàng sản xuất trong nước tăng từ Q2 lên Q’2, lượng hàng nhập
khẩu giảm xuống chỉ còn bằng Q’1 - Q’2. Như vậy có thể thấy rõ tác động
bảo hộ của thuế nhập khẩu đối với sản xuất trong nước: làm tăng giá trong
nước, giảm tiêu thụ hàng nhập khẩu và tăng sản xuất trong nước. Các nhà sản
xuấ
t trong nước được hưởng lợi rõ ràng khi giá trị thặng dư của họ được gia
tăng thêm một lượng bằng diện tích tứ giác ACJG.
Tuy nhiên, cùng với việc các nhà sản xuất được hưởng lợi thì người
tiêu dùng lại bị thiệt hại: giá trị thặng dư của họ bị giảm một lượng bằng diện
tích tứ giác ABHG.

B
S
F +
T

G
A
C
E
S
P

P1

Q
2


Ngoài tác động bảo hộ của thuế chống phá giá như phân tích trên đây,
quá trình dẫn đến việc áp dụng thuế chống phá giá cũng phần nào có tác động
bảo hộ. Ví dụ, bản thân việc bắt đầu quá trình điều tra chống phá giá có nghĩa
là trong tương lai rất có thể thuế chống phá giá sẽ được áp dụng, làm cho sản
phẩm là đối tượng điều tra trở nên ít hấp dẫn hơn đố
i với các nhà nhập khẩu,
như vậy phần nào đã ngăn cản dòng hàng hoá nhập khẩu.

II. GIỚI THIỆU HIỆP ĐỊNH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA WTO

Năm 1948 hệ thống thương mại đa biên được thiết lập với sự ra đời của
Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT). Trải qua gần một
nửa thế kỷ, những quy định của GATT về
thương mại đa biên, trong đó có
quy định về chống bán phá giá (Điều VI) tỏ ra chưa chặt chẽ. Cùng với sự ra
đời của WTO, Hiệp định Chống bán phá giá đã có những quy định chặt chẽ
và chi tiết hơn nhiều so với Điều VI của GATT. Theo Hiệp định này, nước
nhập khẩu chỉ được áp dụng các biện pháp chống bán phá giá khi:
 Hàng nhập khẩu bị bán phá giá;
 Gây
thiệt hại về vật chất cho ngành sản xuất trong nước; và
 Cuộc điều tra phá giá được tiến hành theo đúng thủ tục.
Hiệp định chống bán phá giá của WTO quy định rất chi tiết nguyên tắc
xác định phá giá, cách tính biên độ phát giá và thủ tục điều tra phá giá như
sau:
1. Xác định việc bán phá giá
1.1 Định nghĩa phá giá

-19-
Một sản phẩm được coi là bị bán phá giá khi:


-20-
Trường hợp SPTT được xuất khẩu từ một nước có nền kinh tế phi thị
trường (giá bán hàng và giá nguyên liệu đầu vào và do chính phủ ấn định) thì
các quy tắc trên không được áp dụng để xác định GTTT.
 Cách tính GXK:
GXK = giá mà nhà sản xuất nước ngoài bán SPTT cho nhà nhập khẩu đầu
tiên.
Trường hợp giá bán SPTT không tin cậy được do:
- giao dịch xuất khẩu được thực hiện trong nội bộ công ty; hoặc
- theo một thoả thu
ận đền bù nào đó
thì:
GXK = giá mà sản phẩm nhập khẩu được bán lần đầu tiên cho một người
mua độc lập ở nước nhập khẩu.
 So sánh GTTT và GXK:
Để so sánh một cách công bằng GTTT và GXK, Hiệp định quy định
nguyên tắc so sánh như sau:
 So sánh hai giá này trong cùng điều kiện thương mại (cùng xuất
xưởng/ bán buôn/ bán lẻ), thường lấy giá ở khâu xuất xưởng;
 Tại cùng một thời
điểm hoặc thời điểm càng gần nhau càng tốt.
Việc so sánh GTTT và GXK là cả một quá trình tính toán rất phức tạp, vì
không phải bao giờ cũng có sẵn mức giá xuất xưởng của GTTT và GXK mà
chỉ có mức giá bán buôn hoặc bán lẻ của SPTT ở thị trường nước xuất khẩu
(GTTT+) và giá tính thuế hải quan, giá hợp đồng hoặc giá bán buôn/bán lẻ
SPTT của nhà nhập khẩu (GXK+) nên thường phải có một số đi
ều chỉnh để
có thể so sánh GTTT và GXK một cách công bằng.
Điều chỉnh các chênh lệch trong:

 Thiệt hại về vật chất đối với một ngành sản xuất trong nước (thiệt
hại hiện tại); hoặc
 Nguy cơ gây thiệt hại về vật chất đối với một ngành sản xuất
trong nước (thiệt hại tương lai); hoặc
 Làm trì trệ sự phát triển một ngành sản xuất trong nước (không có
quy định cụ thể)
Nh
ư vậy, để xác định thiệt hại cần xem xét các nhân tố sau:
 Khối lượng hàng nhập khẩu bị bán phá giá: có tăng một cách
đáng kể không?

-22-
 Tác động của hàng nhập khẩu đó lên giá SPTT: Giá của hàng
nhập khẩu đó:
 có rẻ hơn giá SPTT sản xuất ở nước nhập khẩu nhiều
không?
 có làm sút giá hoặc kìm giá SPTT ở thị trường nước
nhập khẩu không?
Khi sản phẩm thuộc diện điều tra được nhập khẩu từ nhiều nước: đánh
giá gộp tác động nếu BĐPG >= 2% GXK và khối l
ượng hàng nhập khẩu từ
mỗi nước >= 3% khối lượng nhập khẩu SPTT.
Việc khảo sát tác động của hàng nhập khẩu bị bán phá giá đối với một
ngành sản xuất trong nước phải xem xét tất cả các yếu tố kinh tế có thể ảnh
hưởng đến ngành sản xuất đó, gồm những yếu tố sau:
 Năng suất
 Thị phần
 Biên
độ phá giá
 Giá nội địa ở nước nhập khẩu

3. Ngành sản xuất trong nước
Ngành sản xuất trong nước là toàn bộ các nhà sản xuất trong nước sản xuất
ra SPTT
hoặc một số nhà sản xuất có sản lượng chiếm tối đa số tổng sản
lượng trong nước
Có thể xuất hiện một số trường hợp đặc thù dẫn tới việc xác định cụ thể
ngành sản xuất trong nước như sau:
 Nhà sản xuất và nhà nhập khẩu/nhập khẩu có liên quan với nhau:
ngành sản xuất trong nước là các nhà sản xuất còn lại.
 Lãnh thổ nước nhập khẩu bị chia thành nhiều thị trường riêng: các
nhà sản xuất ở mỗi thị trường có thể coi là một ngành sản xuất
riêng nếu:
+
bán toàn bộ hoặc phần lớn sản phẩm liên quan ra thị trường đó;

+
nhu cầu của thị trường đó đối với SPTT nhập khẩu từ nước khác
là không đáng kể.
4. Nộp đơn yêu cầu tiến hành chống phá giá

-24-
Việc điều tra nhằm xác định sự tồn tại, mức độ và tác động của một số
sản phẩm bị bán phá giá sẽ được tiến hành khi:
 có đơn bằng văn bản của ngành sản xuất trong nước hoặc đại diện
cho ngành sản xuất trong nước đề nghị điều tra phá giá; hoặc
 không có đơn bằng văn bản của ngành sản xuất trong n
ước hoặc đại
diện cho ngành sản xuất trong nước hoặc đại diện cho ngành sản
xuất trong nước nhưng cơ quan điều tra có đầy đủ bằng chứng về
việc bán phá giá, thiệt hại và mối liên hệ giữa hai yếu tố này.

chiếm ít nhất 25% tổng sản phẩm tương tự
của ngành sản xuất trong
nước.
Cuộc điều tra phá giá sẽ bị chấm dứt ngay lập tức nếu cơ quan điều tra
xác định được rằng:
biên độ phá giá nhỏ hơn 2% giá xuất khẩu; hoặc
số lượng nhập khẩu hàng bị nghi ngờ bán phá giá từ một nước nhỏ hơn
3% tổng nhập khẩu sản phẩm tương tự
ở nước nhập khẩu, trừ
trường hợp từng nước xuất khẩu có lượng hàng nhập khẩu dưới 3%,
nhưng lượng hàng nhập khẩu của tất cả các nước xuất khẩu chiếm
trên 7% tổng sản phẩm nhập khẩu sản phẩm tương tự ở nước nhập
khẩu.
Thủ tục hải quan vẫn được tiến hành trong khi điều tra phá giá. Trừ
trường hợp đặc biệt, một cuộc điều tra phá giá sẽ được tiến hành trong vòng
1 năm, và trong bất kỳ trường hợp nào cũng không được quá 18 tháng.
5. Thu thập thông tin
Cơ quan điều tra sẽ gửi thông báo cho tất cả các bên có quan tâm đến
cuộc điều tra phá giá đề nghị cung cấp bằng văn bản mọi bằng chứng liên
quan đến cuộc điều tra. Thời hạn trả lờ
i câu hỏi điều tra là 30 ngàyvà có thể
được gia hạn thêm 30 ngày hoặc lâu hơn nếu cần thiết.
Ngay khi bắt đầu điều tra, cơ quan điều tra sẽ gửi nguyên văn đơn đề
nghị điều tra cho các nhà xuất khẩu và cơ quan liên quan ở nước xuất khẩu
và các bên quan tâm khi có yêu cầu.
Trong suốt quá trình điều tra, cơ quan điều tra sẽ tạo đầy đủ điều kiện
cho các bên quan tâm bả
o vệ quyền lợi của mình, gặp các bên có quyền lợi
đối nghịch để trao đổi quan điểm và đưa ra thoả thuận. Các bên quan tâm có
quyền trình bày các thông tin khác bằng miệng, nhưng sẽ chỉ được cơ quan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status