Chương I :
Giới Thiệu Và Phân Loại Hệ Phân Tán.
I.1. Giới Thiệu Về Hệ Phân Tán : [Tr61,2]
Đã từ lâu người ta đã biết nhiều tính chất quan trọng của một dung dịch đồng
nhất ( thường gọi là dung dịch thực) như sự tăng nhiệt độ sôi, sự giảm nhiệt độ đông
đặc, sự giảm áp suất hơi bão hòa…Đến nửa thế kỷ thứ XIX nhà bác học Italia
F.Xelmi, sau khi nghiên cứu nhiều loại dung dịch, nhận thấy có những dung dịch thể
hiện một số tính chất khác thường như:
- Chúng có tính tán xạ ánh sáng.
- Chúng bị kết tủa nhanh chóng khi thêm chất điện ly vào.
Về sau Thomas Grem (người Anh) phát hiện ra bằng những dung dịch trên
không lọt qua màng bán thấm. Dung dịch này khi làm khô nước thì giống như keo
dán.
Do vậy, Grem gọi chúng là dung dịch keo (Kollioid). Từ đó về sau, rất nhiều
nhà bác học quan tâm nghiên cứu tính chất của các hệ tương tự và đã đi đến những kết
luận quan trọng sau đây:
Hệ keo có tính chất tán xạ ánh áng (chứng tỏ hệ keo là một hệ dị thể,
không đồng nhất).
Các hệ keo có tính chất khuếch tán chậm hơn các tiểu phân (phân tử,
ion) trong dung dịch thực.
Các hệ keo có thể tách ra khỏi dung môi bằng màng bán thấm.
Hai tính chất cuối cùng chứng tỏ các tiểu phân trong hệ keo có kích thước lớn
hơn nhiều so với kích thước chất phân tử hay ion trong dung dịch thực.
Một hệ thống phân tán gồm chất phân tán và môi trường phân tán. Chất phân
tán và môi trường phân tán có thể ở trạng thái rắn, lỏng, khí.
1
I.2: Phân Loại Hệ Phân Tán:
Các hệ keo và các hệ vi thể (hệ phân tán) cần được phân loại để vừa giúp nghiên
cứu đỡ phức tạp và vừa nghiên cứu được mọi đối tượng. Chúng ta đi khảo sát ngắn
gọn một số cách phân loại được xem là phổ biến như:
I.2.1: Phân loại theo kích thước hạt phân tán : [Tr14,15,16,1]
cm. Các hệ này được
chia thành : huyền phù nếu pha phân tán gồm các hạt rắn và nhũ tương nếu pha phân
2
tán gồm các giọt chất lỏng, còn môi trường phân tán là lỏng. Ví dụ: đất sét( cao lanh)
trong nước là huyền phù, còn sữa trong nước là nhũ tương.
Do kích thước hạt phân tán lớn nên hệ phân tán thô không bền về mặt
động học, nghĩa là các hạt phân tán dễ dàng tách ra khỏi môi trường phân tán - hiện
tượng sa lắng.
I.2.2: Phân loại theo trạng thái tập hợp của chất phân tán và môi trường
phân tán : [Tr15,1]
I.2.2.1 :Sol khí :
Đó là các hệ phân tán với môi trường phân tán là khí.
Khi chất phân tán là khí, ta có hỗn hợp khí. Hệ này là đồng thể, không
tồn tại trạng thái keo.
Khi hệ là chất lỏng phân tán trong chất khí tạo thành sương mù, mây.
Khi hệ là chất rắn phân tán trong chất khí tạo thành khói, bụi.
I.2.2.2 : Sol lỏng :
Đó là các hệ phân tán có môi trường phân tán là lỏng.
Hệ khí phân tán trong chất lỏng tạo thành bọt. Bọt được tạo thành khi có
chất tạo bọt trong hệ.
Chất lỏng phân tán trong chất lỏng ta được nhũ tương.
Hệ phân tán rắn trong lỏng, tuỳ thuộc vào kích thước của hạt phân tán sẽ
tạo thành dung dịch keo hoặc huyền phù.
I.2.2.3 : Sol rắn :
Đó là hệ phân tán có môi trường phân tán là rắn.
Khi chất khí phân tán trong chất rắn tạo thành bọt rắn (vật chất dạng xốp).
Khi chất lỏng phân tán trong chất rắn tạo thành nhũ tương rắn (thuỷ ngân
trong chất đá).
Khi chất rất phân tán trong chất rắn tạo thành sol rắn như hợp kim, thuỷ
tinh màu
xạ ánh sáng , chuyển động Brown … ). Theo cách phân loại này, người ta thường chia
hệ phân tán thành ba loại : hệ phân tán thô, hệ keo và dung dịch thực.
II.1: Hệ Keo Là Gì?
Hệ keo còn được gọi là hệ phân tán cao , là một hệ thống có hai thể của vật chất,
một dạng hỗn hợp ở giữa những hỗn hợp đồng nhất và hỗn hợp không đồng nhất .Kích
thước hạt 10
-7
– 10
-5
cm .
ví dụ : bơ, sữa, kem sữa, sương mù, khói sương, khói xe, mực, sơn bọt biển….
II.2: Các Tính Chất Của Hệ Keo:
II.2.1: Tính chất quang học của hệ phân tán :
II.2.1.1: Sự phân tán ánh sáng của hệ keo: [Tr 70,71,1]
Khi chiếu một chùm sáng vào một dung dịch keo trong suốt để trong
bóng thì thấy một dải sáng sáng mờ đục dạng hình nón xuất hiện ở phần dung dịch có
ánh sáng đi qua. Hiện tượng đó còn được gọi là hiệu ứng Tyndall hay hình nón
Tyndall.
Ta có thể quan sát hiện tượng tương tự khi có một chùm ánh sáng hẹp
chiếu vào đêm tối ( trong rạp chiếu phim ) hoặc khi có đèn pha chiếu lên bầu trời vào
ban đêm. Hiện tượng này quan sát đặc biệt rõ khi không khí có hơi nước hoặc chứa
bụi.Vì khi đó không khí - bụi tao thành một hệ keo và có khả năng phân tán ánh sáng.
Như ta thấy trên thực tế, tính chất quang học của hệ phân tán phụ thuộc
vào kích thước hạt. Ánh sáng nhìn thấy có bước sóng khoảng 4000A
0
– 7000A
0
.
Hệ phân tán có kích thước hạt lớn hơn bước sóng phản xạ ánh sáng làm
cho hệ có màu đục. Hệ heo có kích thước hạt nhỏ hơn bước sóng, nên có khả năng
3
trong 8.10
5
phần nước ) có màu vàng, dung dịch keo vàng kim
loại với nồng độ nhỏ (một phần Au trong 10
8
phần nước ) có màu đỏ.
6
Nhìn chung, màu sắc của sol kim loại có màu sắc rất phức tạp. Nguyên
nhân là do sol kim loại vừa hấp thụ mạnh ánh sáng lại vừa phân tán ánh sáng.
II.2.2: Tính chất động học theo phân tử của hệ keo:
II.2.2.1: Chuyển động Brown : [Tr 75,1]
Chuyển động Brown là chuyển động nhiệt của của các hạt pha phân tán
trong hệ keo cũng như các hệ vi dị thể.
Chuyển động Brown diễn ra không ngừng , không phụ thuộc vào các
nguồn sáng năng lượng bên ngoài và chuyển động càng mạnh khi nhiệt độ càng
cao.
chuyển động Brown được phát hiện ra vào năm 1827, do nhà sinh học
người Anh Robert Brown nhưng lúc đó chưa có sự giải thích thoả đáng. Mãi đến
năm 1888 – 1900 Gouy( Guy) và Exner (Exnơ) mới đưa ra lời giải đáp trên cơ sở
thuyết chuyển động Brown là kết quả chuyển động nhiệt. Các phân tử của môi
trường phân tán trong chuyển động nhiệt va chạm với csc hạt keo một cách hỗn
độn làm cho các hạt keo chuyển động. Nếu các hạt keo có kích thước đủ nhỏ thì
các va chạm không đồng đều từ các hướng khác nhau của các phân tử môi trường,
làm cho hạt nhận được các xung lực khác nhau và chuyển động theo một quỹ đạo
xác định. Khi kích thước và khối lượng hạt lớn làm tăng quán tính, xác suất triệt
tiêu các va chạm tăng dần đến khi làm cho cac hạt chỉ dao động quanh vị trí cân
bằng hoặc đứng yên (không có chuyển động Brown). Các hạt keo nhận được một
số va chạm cực lớn từ các phân tử môi trường nên nó thay đổi hướng và tốc độ liên
tục tới 10
không phụ thuộc vào bản chất và kích thước hạt keo. Điều này giải thích vì sao áp
suất thẩm thấu của dung dịch keo, lại nhỏ hơn nhiều áp suất so với áp suất thẩm
thấu của dung dịch thực có cùng nồng độ khối lượng.
Ví dụ: áp suất thẩm thấu của sol vàng kim loại 1% với hạt có kích thước
0.01micromet, nhỏ hơn 20 lần so với áp suất thẩm thấu của dung dịch đường mía
1% ở cùng điều kiện.
Dung dịch keo lỏng kém bền, kích thước của hạt luôn thay đổi. Đặc biệt
khi chịu ảnh hưởng tác động của các yếu tố bên ngoài, các hạt keo có thể kết lại
8
thành hạt lớn hơn hoặc tách ra thành các hạt nhỏ hơn. Điều đó làm cho các nồng độ
hạt của dung dịch keo thay đổi và do đó áp suất thẩm thấu cũng thay đổi.
II.2.2.4: Sự sa lắng trong hệ keo : [Tr 94,95,97,2]
Khi xem xét sự khuếch tán, chúng ta đã bỏ qua lực hút của trái đất đối
với các hạt phân tán. Thực ra các hạt phân tán có kích thước đủ lớn như hạt phân
tán thô thì không thể bỏ qua trọng lực được, vì chúng dễ dàng bị lắng đọng xuống
đáy bình, gọi là sự sa lắng. Trái lại đối với dung dịch thực, các phân tử hoặc iôn có
kích thước bé thì sự chuyển động nhiệt lớn, ảnh hưởng của trọng lực trở lên không
đáng kể, nghĩa là không có sự sa lắng các phân tử chất tan, người ta nói các phân tử
như vậy có độ bền động học (không bị sa lắng ). Dung dịch keo chiếm vị trí trung
gian giữa hệ phân tán thô và dung dịch thực. Các hạt keo vừa chịu sự ảnh hưởng
của chuyển động nhiệt ( gây nên sự khuếch tán) vừa chịu ảnh hưởng của trọng lực
nên có thể phân bố lơ lửng ở những độ cao nào đó trong dung dịch tuỳ thuộc vào
độ lớn của các lực đó.
Trong thực tế, trong một hệ (đặc biệt là hệ keo và hệ phân tán thô) kích
thước các hạt khác nhau phân bố trong hệ (gọi là hệ đa phân tán ) thì sự khuếch tán
và sự sa lắng xảy ra phức tạp hơn nhiều, nghĩa là ở các chiều cao khác nhau sẽ có
những hạt kích thước khác nhau phân bố trong hệ, trên cao là các hạt bé hơn, càng
xuống thấp kích thước hạt càng lớn.
II.2.3: Tính chất điện của các hệ keo :
II.2.3.1: Một số hiện tượng điện trong hệ keo: [Tr 82,2 ]
Như chúng ta đã biết các hệ keo là những hệ dị thể. Về mặt nhiệt động
thì chúng là những hệ không cân bằng và có độ bền tập hợp kém. Những quá trình tự
diễn biến trong hệ keo nhằm làm giảm năng lượng tự do bề mặt, có thể là sự hấp phụ
10
các chất hoạt động bề mặt bên bề mặt hạt keo hoặc là sự keo tụ. Tức là các hạt keo nhỏ
liên kết với nhau tạo thành những hạt keo lớn.
Độ bền và sự keo tụ của các hệ keo có ý nghĩa to lớn trong địa chất học,
thổ dưỡng học, sinh học và trong kỹ thuật.
II.2.4.1: Độ bền của hệ keo : [Tr 115,116,1]
Mỗi hệ keo có độ bền đặc trưng phụ thuộc bản chất của nó và điều kiện
bên ngoài. Chúng ta cần phân biệt : Độ bền tập hợp.
Độ bền động học.
Độ bền tập hợp ( độ bền nhiệt động) : được xác định bởi bộ phận phân
tán mà khi đó các hệ keo có khả năng chống lại sự keo tụ.
Độ bền động học được xác định bởi chuyển động nhiệt của các hạt.
Thực chất độ bền của hệ keo phụ thuộc vào tương tác giữa các hạt keo.
Đối với các hệ keo, chúng ta quan tâm đặc biệt tới tương tác giữa các bề mặt với nhau
bởi một lớp chất lỏng. Trong hệ, ngoài lực hút phân tử còn có lực tương tác tĩnh điện
giữa các Mixen keo. Có thể coi tương tác giữa các mixen lúc này như tương tác giữa
bề mặt tích điện với một thế nào đó ở trong môi trường có hằng số điện môi.
trong trường hợp các bề mặt hạt keo tích điện trái dấu thì lực hút sẽ tồn tại với mọi
khoảng cách giữa các bề mặt.
Trong trường hợp chung thế năng tương tác sẽ là tổng của hai thành
phần: hút và đẩy đối với hệ keo ghét lưu, khi không có tương tác mạnh giữa các hạt
keo với môi trường phân tán. Kết quả tổng hợp này quyết định đến độ bền của hệ keo
ghét lưu. Đối với hệ keo ưa lưu, còn phải kể đến thành phần thứ ba, đó là tương tác
giũa pha phân tán và môi trường. Trong trường hợp này, độ bền của các hệ keo còn
được đảm bảo bởi lớp solvat hoá từ những phân tử môi trường có khả năng chống lại
sự đông tụ của các hạt keo.
Trong nhiềi trường hợp như các bọt, các nhũ tương độ bền của hệ phân
của keo thuỷ ngân sunfua giảm nhanh khi để dung dịch trong bình mở, khí hiđro
sunfua ( chất làm bền ) thoát ra khỏi dung dịch. Vì vậy, khi để lâu dung dịch này cần
được đổ đầy bình.
12
Sự keo tụ do có tác động cơ học nhờ khuấy trộn mạnh hoặc vận
chuyển các dung dịch keo qua đường ống. Nguyên nhân dẫn đến sự keo tụ là cân
bằng hấp phụ của chất là: bền bị phá vỡ. Sự keo tụ của có thể xảy ra khi để hệ keo nơi
có sự rung động hoặc siêu âm. Ví dụ, trong xử lý bằng tác động rung các cấu kiện bê
tông lúc đầu có sự phá vỡ các cấu trúc keo làm tăng sự chảy của hỗn hợp, tạo thuận lợi
cho sự lắp đầy các cấu kiện.
Sự keo tụ có thể xảy ra dưới tác dụng của điện trường. Tác dụng của
điện trường được áp dụng để tách nước khỏi các nhũ tương dầu mỏ, tách tạp chất khỏi
dầu khoáng.
Sự keo tụ còn xảy ra khi pha loãng hoặc cô đặc dung dịch keo. Khi
pha loãng dung dịch keo trong nước, các hạt keo bị khử hấp phụ chất điện ly làm bền,
dẫn đến làm giảm điện tích hạt keo. Khi cô đặc dung dịch keo, nồng độ hạt keo, nồng
độ chất điện ly và nồng độ iôn đôi tăng dẫn đến làm giảm độ bền của hạt keo.
Sự keo tụ cũng có thể xảy ra khi đun nóng hoặc làm lạnh dung dịch
keo. Khi đun nóng, chất làm bền bị khử làm hấp phụ, chuyển động Brown tăng làm
cho các hạt keo có cơ liên kết với nhau. Khi làm giảm nhiệt độ của hệ keo, độ tan của
các chất giảm tạo ra sự hoá bảo hoà và dẫn đến sự keo tụ.
II.2.5: Tính Chất Cơ Học Cấu Thể Của Hệ Phân Tán: [Tr124-128,1 ]
Cũng như các vật thể khác, các hệ keo có những tính chất nhất định như:
tính nhớt, trong một số trường hợp có tính dẻo, tính đàn hồi, tính vững chắc. Các tính
chất này gắn liền với cấu tạo của các hệ đó. Cho nên thường được gọi là tính chất cơ
học cấu thể.
Các cấu thể trong hệ keo được chia thành cấu thể keo tụ và cấu thể
ngưng tụ kết tinh.
II.2.5.1: Cấu thể keo tụ:
Cấu thể keo tụ thường xuất hiện khi độ bền vững tập hợp của hệ giảm.
14
cấu thể ngưng tụ, còn các cấu thể tạo thành do sự ghép các tinh thể trong quá trình kết
tinh pha mới gọi là cấu thể kết tinh.
Độ bền của cấu thể này thường lớn hơn nhiều so với độ bền của cấu thể
keo tụ. Các hệ với cấu thể ngưng tụ kết tinh không thể co ngót và trương nở đáng kể
như hệ cấu thể keo tụ.
Cấu thể ngưng tụ kết tinh là những cấu thể bất thuận nghịch. Khi chúng
bị khá vỡ thì không có khả năng tự hồi phục. Trong khi đó, các cấu thể keo tụ thì lại có
tính thuận nghịch.
II.2.5.3: Độ nhớt của các hệ keo:
Do dung dịch keo có các phần tử lơ lửng với kích thước lớn hơn nhiều
do với kích thước phân tử thông thường. Nên hệ keo có vận tốc chảy tăng, sự chảy
dòng chuyển sang chảy cuộn sớm hơn.
Mặt khác, hạt keo làm giảm khoản không gian của chất lỏng cho nên độ
nhớt của dung dịch keo bao giờ cũng lớn hơn của dung dịch phân tán.
15
Chương III : Hệ Phân Tán Thô.
III.1: Giới Thiệu Chung:
Hệ phân tán khô bao gồm huyền phù và nhũ tương. Các hạt chất rắn trong
huyền phù hoặc các giọt chất lỏng trong nhũ tương có kích thước lớn hơn hoặc bằng
10
-6
m nên dễ dàng quan sát được dưới kính hiển vi. Chính vì các tiểu phân của pha
phân tán có kích thước khá lớn nên như vậy đặc điểm chung của hệ phân tán thô là:
- Hệ kém bền, các huyền phù sa lắng nhanh chóng hơn hệ keo, các giọt lỏng
trong tương cũng dễ tách ra thành pha riêng biệt nếu không có chất làm bền (chất nhũ
hóa).
- Kích thước hạt lớn nên chuyển động Brown hầu như không phát hiện được.
- Hiện tượng khuếch tans và áp suất thẩm thấu không đáng kể.
III.2: Huyền Phù : [Tr 120,2 ]
nhũ của dầu bôi trơn động cơ trong xăng nhẹ. Nhũ loãng không nghĩa có nồng độ bé
mà kích thước giọt nhũ cũng bé (đường kính xấp xỉ là 10
-7
m tức là gần giống kích
thước của tiểu phân keo). Mặt khác nhũ loãng được hình thành không cần có mặt chất
nhũ hóa. Xét về tính chất, nhũ loãng có nhiều điểm giống với hệ keo: hạt tích điện nên
có sự điên ly, điện thẩm. Sở dĩ trên bề mặt giọt phân tán có điện vì có sự hấp thụ một
lượng ion chất điện ly có thể có mặt trong hệ (đôi khi lượng đó rất bé nhưng vẫn đủ để
các giọt phân tán mang điện). Nhũ loãng thường có độ bền tập hợp cao vì nồng độ hạt
bé và lớp ion khuếch tán dày, thế điện động là đáng kể.
Nhũ đặc: là nhũ có nồng độ phân tán khá lớn, thậm chí đạt đến 74%
thể tích (đây là nồng độ lớn nhất có thể đạt được vì đó là thể tích sắp xếp đặc khít nhất
của những giọt hình cầu giống nhau). Đối với hệ đa phân tán thường không thể đạt
được nồng độ này, vì kích thước các giọt rất khác nhau.
Khác với nhũ loãng, nhũ đặc được điều chế bằng cách khuấy mạnh pha phân tán với
môi trường phân tán với sự có mặt của chất nhũ hóa, nên kích thước các giọt lớn hơn
17
nhiều so với giọt trong nhũ loãng. Ở đây kích thước hạt đạt đến 10
-7
– 10
-6
m và đôi khi
có giọt lớn hơn, do đó các giọt nhũ dễ dàng thấy được dưới kính hiển vi thông thường.
Nhũ rất đặc: Đối với nhũ rất đặc (dạng gelatin) hình dạng các giọt bị
biến đổi, không còn hình cầu nữa nên các giọt sắp xếp đặc khít và chêm vào nhau bằng
những cách điều chế đặc biệt người ta có thể đạt đến nồng độ 99% thể tích (ví dụ : nhũ
của benzen trong dung dịch 1% natri oleat). Trong trường hợp đó chất nhũ hóa sắp xếp
giữa các giọt dưới dạng màng cực mỏng và độ linh động của các giọt trở nên rất bé,
nên người ta có thể dùng dao để cắt tương tự như thạch.
III.3.2 : Phân loại theo môi trường phân tán và pha phân tán : [Tr 123,2 ]
tách các pha ra khỏi nhau, sau đó quá trình làm sạch mỗi pha để được sản phẩm có
chất lượng mong muốn.
Trong công nghiệp, người ta sản xuất nhiều chất ở dạng nhũ tương như: thuốc
trừ sâu, trừ nấm, diệt cỏ dùng trong nông nghiệp, các loại thuốc uống (nhũ tương
D/N), thuốc bổ(nhũ tương N/D). Trong công nghiệp thuộc da, cao su nhân tạo, chất
dẻo tổng hợp, các đồ dùng bằng cao su đều được thực hiện ở dạng nhũ tương.
19
Chương IV :
Ứng Dụng Của Việc Điều Chế Hệ Keo Trong Khoa Học.
IV.1 : Xử Lý Nước Rác : [Tr 454,455,460,3]
Chất hệ keo tụ: là các loại polyme hữu cơ tan trong nước để có được khả năng
tan trước hết chúng phải có mạch thẳng (cấu trúc một chiều) và mạch polyme chứa
nhiều nhóm phải cực ưa nước.
Nước rác ban đầu có độ đục rất cao, tối màu, tuy hàm lượng cặn không tan, ít
khí vượt quá 300mg/l. Cặn không tan trong nước rác chủ yếu là thành phần hữu cơ,
xác vi sinh vật, tảo. Đặc điểm của cặn không tan hữu cơ là nó có lớp vỏ Hydrat dày do
tính ưa nước của chúng và độ bền keo của chúng chính là nhờ vào lớp vỏ này, khác
với tính bền của dạng vô cơ ( kỵ nước ) là nhờ lớp điện kép (hay khuếch tán) xung
quanh hạt keo. Cơ chế keo tụ các hạt keo hữu cơ vì vậy chủ yếu không phải là trung
hoà điện tích mà theo cơ chế phá vỡ làm vỏ Hydrat, quét kết tủa và tạo cầu nối.
Vì lý do đó, có thể dự đoán là liều lượng chất keo tụ các hệ keo kỵ nước như
sông chẳng hạn, và cần sử dụng chất trợ keo tụ để giá thành vận hành cũng như phát
triển hiệu quả lấy chất keo tụ dạng thương phẩm, đang được lưu hành rộng rãi trên thị
trường hiện nay thuộc họ Al với hai loại sản phẩm chủ yếu là phèn đơn Al
2
(SO
4
)
3
và
15,5% (8,1%Al
3+
) khi sử dụng phèn Al, muối Al bị thuỷ phân và tạo ra axit. Axit sinh
ra sẽ làm tụ độ kiềm của nước và làm tụ độ pH. pH tụ mạnh khi độ kiềm thấp và
ngược lại khi kiềm đóng vai trò là chất đệm của hệ. Do sau khi keo tụ, nước đựơc tiếp
20
tục xử lý vi sinh để oxy hoá amoni và chất hữu cơ với vùng pH tối ưu của nó khoảng
8-9, quá trình cần một lượng kiềm khá lớn. vì vậy , chế độ keo tụ cũng cần đảm bảo
hài hòa các yếu tố trên.
PAC ( poly Al clorua) là loại poly vô cơ chứa thành phần nhôm oxit, hydroxyt
và clorua. Nó được sản xuất từ muối nhôm với các chất kiềm.
Do được trung hòa với kiềm trước trong quà trình sản xuất, nên không sinh ra
axit của chúng thấp và do mạnh phân tử đã khá lớn nên quá trình keo tụ xảy ra với tốc
độ nhanh hơn so với phèn.
Sản phẩm PAC lưu hành khá rộng rãi hiện nay nhập từ Trung Quốc với hàm
lượng nhôm oxit 30%. Giá cả trung bình của chúng cao hơn khoảng 2,5 lần so với
phèn đơn.
Xét về nhiều khía cạnh khi keo tụ nước, nên sử dụng liều lượng PAC là 300-
400g/m
3
. Cùng với 2g/m
3
chất keo tụ A101. Trong quy trình keo tụ dễ gặp hiện tượng
nổi do nguyên nhân tạo khí CO
2
(Axit của PAC với Bicac bonat trong nước, PH càng
thấp khả năng tạo CO
2
càng lớn) và có thể do oxi sinh ra từ quá trình quang hợp quang
tảo. Để khắc phục hiện tượng trên có thể sử dụng dòng khí để khuấy trộn khi keo tụ
Theo Dược Điểm Việt Nam (DĐVN) , nhũ tương thuốc gồm các dạng thuốc
lỏng hoặc mềm để uống tiêm dùng ngoài được điều chế bằng cách dùng tác dụng của
chất nhũ hóa thích hợp để trộn đều hai chất lỏng không đồng tan được gọi là được gọi
là cách quy ước dầu và nước.
Ứng dụng của nhũ tương thuốc trong ngành dược: [Tr15,16,4]
Dùng đưa thuốc qua đường uống, qua da và qua trực tràng khi dược chất là dầu
hoặc chất tan trong dầu dưới dạng bào chế có nồng độ hàm lượng thích hợp.
Làm cho thuốc dễ uống khi dược chất là dầu vì làm giảm tính nhờn và che dấu
sự khó chịu của dầu.Ví dụ: nhũ tương dầu gan cá, nhũ tương dầu parafin, nhũ
tương thầu dầu…nhũ tương dùng đường uống phải là kiểu D/N.
22
Gia tăng sự hấp thụ của dầu và các dược chất tan trong dầu tại thành ruột non.
Kiểu nhũ tương dùng đường tiêm phụ thuộc vào đường, do thuốc và mục đích
điều trị. Kiểu D/N có thể được sử dụng cho mọi đường tiêm, kiểu N/D chỉ dùng
tiêm bắp hoặc dưới da để cho tác dụng kéo dài. Ví dụ : nhũ tương tiêm bắp của
một số vaccin có tác dụng kèo dài làm tăng cường đáp ứng kháng thể, kéo dài
thời gian miễn dịch.
Các chế phẩm dưỡng da toàn thân dùng qua đường tiêm dưới dạng nhũ tương.
Các nhũ tương vô trùng được chỉ định để đưa các chất béo, cacbon hydat và
vitamin vào cơ thể bệnh nhân suy nhược. Vài nhũ tương D/N hiện đang lưu
hành trên thị trường với tiểu phân phân tán có kích thước trong khoảng 0.5-2
micromet tương tự như kích thước của các vi dưỡng trấp ( là các tiểu phân béo
thiên nhiên có trong máu ).
Các thuốc dùng ngòai da dạng bào chế ứng dụng cấu trúc nhũ tương nhiều nhất.
Cả hai loại nhũ tương N/D, D/N đều được sử dụng cho các thuốc dùng ngoài do
khả năng dẫn thuốc qua da tốt ( làm tăng hiệu quả trị liệu của chế phẩm ).
Thuốc mỡ là gì? [Tr73,74,4]
Thuốc mỡ là dạng thuốc có thể chất mền, dùng để bôi lên da hay niêm mạc
nhằm bảo vệ da hoặc đưa thuốc thấm qua da. Thành phần thuốc mỡ gồm một hay
nhiều hoạt chất được hòa tan hay phân tán đồng đều trong một tá dược hay hỗn hợp tá
câu hỏi này, chúng ta hãy nghĩ đến các tính chất của hệ keo các bạn nhé. Không khí
mà chúng ta đang hít thở hằng ngày là hệ phân tán gồm nhiều hạt bụi nhỏ li ti, lơ lửng
ánh sáng mặt trời có màu trắng được hình thành bằng sự kết hợp của 7 màu sắc cơ
bản. Tuy nhiên khi chiếu rọi đến bầu khí quyển của trái đất, không phải màu sắc nào
cũng xuyên qua được các hạt nhỏ li ti trong không khí ( tức là không phải màu sắc
nào cũng hấp thụ ) chỉ có các loại ánh sáng có bước sóng dài như màu đỏ, màu vàng,
cam mới xuống tới được bầu khí quyển trái đất. Các màu sắc này lại tiếp tục kết hợp
với nhau tạo ra màu vàng của ánh nắng còn những màu sắc có bước sóng ngắn như
tím, lam, chàm thì lại dễ dàng bị các hạt lơ lửng trong không khí làm tán ra xa mọi
hướng. Và cũng chính sự kết hợp của các màu sắc này đã tạo ra, cho nên nền trời có
màu xanh đẹp tuyệt vời.
Trong nước biển luôn tồn tại rất nhiều phần tử lơ lửng có kích thước nhỏ. Do
đó, nó cũng là một hệ phân tán có tính chất quang học như không khí. Nhờ có những
phân tử nhỏ li ti trong nước biển đã làm khuếch tán những tia sáng có bước sáng ngắn.
Và cũng giống như bầu trời nước biển cũng có màu xanh thêm vào đó nước biển còn
25