Tài liệu Đề cương ôn tập Mô học - Pdf 10

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP
Môn: MÔ HỌC
Câu 3: Trung mô (Mesenchyma) là gì? Nguồn gốc, cấu trúc và vai trò của nó?
 Tế bào trung mô là những tế bào đặc trưng cho đời sống của phôi, có khả
năng biệt hóa thành nhiều loại tế bào khác.
 Nguồn gốc: Chủ yếu là từ lá phôi giữa.
 Cấu trúc:
+ TB trung mô nhỏ, hình thoi dài hoặc hình sao; nhân bầu dục nằm giữa,
bào tương nghèo nàn, chứa ít ti thể và lưới nội bào.
+ TB tỏa ra xung quanh các nhánh bào tương, nối kết với nhau tạo thành
lưới trung mô.
 Vai trò:
+ Trung mô phôi thai là nguồn gốc phát triển của mô liên kết.
Khi phôi phát triển, các TB trung mô biệt hóa thành nguyên bào sợi hoặc các
loại TB khác dưới tác động của các chất cảm ứng đặc biệt. Do đó, nó được
gọi là TẾ BÀO ĐA NĂNG.
+ Những TB trung mô biệt hóa thành tế bào mô liên kết: nguyên bào sợi,
nguyên bào mỡ, tiền tạo cốt bào, nguyên bào sụn…
+ Trong mô liên kết cơ thể người trưởng thành, tồn tại những tế bào trung
mô giàu tiềm năng sinh sản và biệt hóa thành các loại TB liên kết khác nhau
khi cơ thể có nhu cầu, trong những điều kiện nhất định.
Câu 5: Nguồn gốc, phân bố, đặc điểm cấu tạo và chức năng của Biểu mô?
Biểu mô là loại mô được tạo thành bởi những TB hình đa diện, nằm sát, gắn kết
với nhau chặt chẽ, ít chất gian bào. Biểu mô làm nhiệm vụ che phủ bề mặt cơ thể, lót
các xoang cơ thể hoặc đảm nhiệm chức phận chế tiết.
 Nguồn gốc: Biều mô có nguồn gốc từ cả 3 lá phôi
+ Lá phôi ngoài: biểu bì da, giác mạc, biểu mô của các khoang mũi, miệng,
hậu môn… -> Ngoại biểu mô.
+ Lá phôi giữa: nội mô lót mạch máu và mạch bạch huyết, lá thành, lá
tạng… -> Trung biểu mô.
+ Lá phôi trong: biểu mô lót trong ống ruột… -> Nội biểu mô.

đầu thần kinh không có vỏ bọc, chia nhánh chạy trong khoảng gian bào
tiếp xúc với các tế bào biểu mô.
5. Màng đáy phân cách biểu mô với mô liên kết:
Những tế bào biểu mô họp thành lớp và phân cách với mô liên kết sát bên
dưới hay xung quanh bởi 1 màng là màng đáy.
+ Màng đáy là 1 cấu trúc gồm 2 – 3 thành phần: lá sáng, lá đặc, 1 số có
lá sợi võng liên kết chặt chẽ với lá đặc.
 Màng đáy: phân cách biểu mô với mô liên kết, làm giới hạn cho sự
phát triển của biểu mô; làm hàng rào ngăn không để những chất có
phân tử lớn ở dịch gian bào vào biểu mô.
+ Biểu mô và màng đáy thường nằm trên một lớp mô liên kết mạch,
được gọi là lớp đệm.
6. Cấu trúc liên kết các tế bào biểu mô:
+ Dải bịt: giới hạn bên bề mặt tự do của biểu mô.
+ Vùng dính (dưới dải bịt).
+ Thể liên kết: hình đĩa, hình thành tấm gắn trong bào tương tế bào biểu
mô.
+ Thể bán liên kết: nối biểu mô bên dưới với màng đáy.
+ Thể liên kết khe: chạy xuyên qua khoảng gian bào hẹp, 2 đầu mở vào
bào tương mỗi tế bào.
+ Ngoài ra, ở mặt tự do và mặt đáy của tế bào biểu mô còn có những
cấu trúc đặc biệt: vi nhung mao, lông (ở mặt tự do), thể bán liên kết (ở
mặt đáy).
 Chức năng:
Biểu mô có những nhóm chức năng chính sau:
+ Chức năng bảo vệ:
■ Bảo vệ cho cơ thể hoặc các cơ quan không bị tổn thương: Biếu mô có
chức năng bảo vệ, chống các tác nhân vật lý, hóa học và chống nhiễm khuẩn.
■ Tế bào biểu mô có khả năng tái sinh mạnh nhờ phân bào nhanh để hàn
gắn vết thương (vd: biểu bì da, biểu mô dạ con của phụ nữ sau khi hành

 Biểu mô phủ đơn, khối:
+ Quan sát ở lát cắt song song với bề mặt biểu mô, các tế bào biểu mô là
những hình đa giác. Quan sát theo mặt phẳng vuông góc bề mặt biểu mô,
biểu mô gồm một hàng tế bào hình khối vuông, nhân hình tròn, nằm giữa tế
bào.
+ Có thể gặp biểu mô phủ đơn, khối ở: biểu mô lợp mặt tự do của buồng
trứng, ở các ống bài xuất của một số tuyến ngoại tiết (ống Boll của tuyến
nước bọt).
 Biểu mô phủ đơn, trụ:
+ Biểu mô phủ đơn, trụ gồm một hàng tế bào hình trụ, chiều cao lớn hơn
chiều ngang. Nhân có hình trứng, nằm phía cực đáy.
+ Khi quan sát ở lát cắt song song với bề mặt biểu mô, tế bào biểu mô cũng
có hình đa diện giống như biểu mô phủ đơn khối, nhưng có chu vi nhỏ hơn.
+ Biểu mô phủ đơn trụ có thể được hình thành từ một loại tế bào giống nhau
(biểu mô ống cổ tử cung), nhưng cũng có khi được tạo nên bởi nhiều loại tế
bào trụ khác nhau (biểu mô ruột).
+ Có thể gặp loại biểu mô này ở mặt trong của ống tiêu hóa suốt từ tâm vị
đến đoạn trên của trực tràng, ở đường bài xuất của một số tuyến.
2. Biểu mô phủ kép: là loại biểu mô được tạo thành bởi 2 hoặc nhiều lớp tế bào
chồng lên nhau. Dựa vào hình dáng tế bào nằm trên cùng để phân loại, người ta có thể
chia biểu mô phủ kép thành 3 loại và 2 loại đặc biệt.
 Biểu mô phủ kép, dẹt:
Được tạo thành bởi nhiều lớp tế bào, nhưng những tế bào trên cùng là những tế
bào dẹt. Loại biểu mô này được chia làm 2 loại:
+ Biểu mô phủ kép, dẹt, sừng hóa:
■ Gồm nhiều hàng tế bào có hình dáng thay đổi từ dưới lên trên, những
hàng trên cùng hình thành lớp keratin (lớp sừng).
■ Từ trong ra ngoài biểu bì gồm 5 lớp: lớp đáy hay lớp sinh sản, lớp sợi, lớp
hạt, lớp bóng, lớp sừng.
■ VD: biểu bì da – được coi là biểu mô bảo vệ điển hình.

+ Hình dáng của các tế bào trong biểu mô khác nhau. Nhân của các tế bào
thường nằm ở phần rộng nhất của tế bào, do đó nhân các tế bào thương
nằm chênh nhau thành 2 – 3 hàng.
+ VD: biểu mô lợp những ống bài xuất lớn của tuyến nước bọt mang tai và
một số tuyến khác.
Câu 7: Phân loại, mô tả Biểu mô tuyến ngoại tiết? Cho ví dụ từng loại.
 Định nghĩa Biểu mô tuyến:
Biểu mô tuyến là loại mô được tạo thành bởi những tế bào hay tập hợp những
tế bào có khả năng chế tiết.
 Phân loại tuyến:
■ Theo số lượng tế bào tạo ra sản phẩm có:
+ Tuyến đơn bào: chỉ gồm một tế bào chế tiết.
+ Tuyến đa bào: tuyến gồm có nhiều tế bào tham gia tạo chất chế tiết.
Đại đa số các tuyến trong cơ thể là loại tuyến đa bào.
■ Theo vị trí nhận sản phẩm chế tiết đầu tiên có:
+ Tuyến ngoại tiết: là những tuyến mà sản phẩm chế tiết được bài xuất
ra mặt ngoài cơ thể hoặc được đưa vào các khoang cơ thể. Tuyến ngoại tiết
có 2 phần: phần chế tiết và phần bài xuất.
+ Tuyến nội tiết: là những tuyến mà sản phẩm chế tiết được đưa thằng
vào máu. Tuyến nội tiết chỉ có phần chế tiết, không có phần bài xuất, nên
các tế bào tuyến liên hệ chặt chẽ với mao mạch.
 Biểu mô tuyến ngoại tiết:
Mỗi tuyến ngoại tiết đa bào gồm 2 phần: phần chế tiết gồm các tế bào tạo ra
sản phẩm chế tiết; phần bài xuất là những ống dẫn sản phẩm chế tiết đi ra khỏi
tuyến.
Dựa vào hình dạng của ống dấn và hình dạng của phần chế tiết, người ta chia
tuyến ngoại tiết thành 8 loại:
■ Tuyến ống, đơn: các tế bào biểu mô tạo thành 1 ống đơn giản như ống
nghiệm. Thành ống là một lớp tế bào.
VD: tuyến Lieberkuhn ở kẽ lông nhung ruột non.

khả năng phục hồi khá nhanh phần đã bị mất và khả năng tái tập hợp những
chất chế tiết.
VD: tuyến sữa…
■ Tiết toàn hủy: toàn bộ tế bào tuyến tan ra và được bài xuất ra ngoài cùng
với chất tiết, trở thành sản phẩm bài xuất.
VD: tuyến bã…
■ Tiết ra tế bào: sản phẩm tiết là những tế bào nguyên vẹn.
 Chu kỳ tiết chế: gồm có 3 kỳ
■ Kỳ tích trữ: các chất tiết được hình thành và tích trữ lại dưới dạng các hạt
nhỏ. Các hạt này nằm ở cực ngọn của tế bào, đẩy nhân vào cực đáy, các ti
thể thưa dần và biến mất.
■ Kỳ bài xuất: các hạt nhỏ chứa đầu chất tiết, sau đó vỡ ra, chất tiết được
thấm qua màng tế bào để ra ngoài hoặc màng tế bào bị vỡ ra khi chất tiết
thoát ra ngoài.
■ Kỳ nghỉ: tế bào ở trạng thái nghỉ. Trong nguyên sinh chất chỉ còn ít hạt
tiết, nhân trở về vị trí trung tâm và ti thể xuất hiện trở lại.
Câu 9: Các tuyến nội tiết, đặc điểm cấu tạo và cho ví dụ về chức năng của chúng?
 Các tuyến nội tiết:
Theo cấu tạo hình thái, có thể phân tuyến nội tiết thành 3 loại:
■ Tuyến kiểu lưới: Các tế bào tuyến tạo thành những dây tế bào. Các dây tế
bào nối với nhau tạo thành mạng lưới. Khoảng giữa các lưới tế bào có các
mao mạch. Đa số tuyến nội tiết trong cơ thể thuộc loại tuyến kiểu lưới này.
VD: thùy trước tuyến yên, tuyến thượng thận, tuyến cận giáp trạng, tuyến
tụy nội tiết (tiểu đảo Langerhans)…
■ Tuyến kiểu túi: Các tế bào tuyến tạo thành những túi. Thành túi được lợp
bởi một hàng tế bào chết tiết, xen giữa các túi có những mạch máu và bạch
huyết. Trong lòng túi thường chứa đầy keo.
Chỉ có tuyến giáp trạng là tuyến nội tiết kiểu túi.
■ Tuyến tản mát: Các tế bào tuyến hoặc rải rác hoặc họp thành đám nhỏ
nằm tản mát trong mô liên kết và tiếp xúc mật thiết với các mao mạch.

hormone.
VD: Hormone do tuyến giáp tiết ra làm tăng cường các phản ứng hóa học tại
hầu hết các tế bào, dẫn đến tăng cường trao đổi chất; hormone của tuyến cận
giáp điều khiển nồng độ calcium của dịch ngoại tế bào…
Câu 10: Nguồn gốc, phân bố và chức năng của Mô liên kết? Sơ đồ kinh điển.
Trong số các loại mô cơ bản, mô liên kết là loại mô phổ biến nhất.
 Nguồn gốc: Mô liên kết có nguồn gốc từ lá phôi giữa, tức là từ trung mô.
Ở giai đoạn phát triển sớm của phôi, các tế bào trung mô (có dạng hình sao)
tách ra khỏi lá phôi giữa và phân bố rộng rãi giữa 2 lá phôi (ngoài và trong), sau
đó, chúng biệt hóa thành các dạng mô liên kết.
 Phân bố: Mô liên kết có ở hầy khắp các bộ phận của cơ thể, xen giữa các
mô khác, giúp chúng gắn bó với nhau. Mô liên kết luôn nằm ở phía trong của biểu
mô.
 Chức năng: Mô liên kết có các chức năng chính sau:
■ Tạo nên các vỏ bọc (bao liên kết) bọc các nội quan, mạch máu, các bó cơ
và dây thần kinh… tạo điều kiện cho các cơ quan hoạt động tương đối độc
lập nhau.
■ Tạo thành bộ khung của cơ thể, đảm nhiệm chức năng chống đỡ và vận
động: gân dây chằng, cân, sụn, xương.
■ Tạo nên cơ quan tạo máu và bạch huyết: tủy xương, nhu mô lách và và
các hạch bạch huyết.
■ Tham gia tích cực vào quá trình tái sinh và miễn dịch bảo vệ cơ thể.
■ Dự trữ nước, mỡ, và các chất khoáng (Ca, P,…).
■ Máu và bạch huyết cũng được xếp vào mô liên kết (mô liên kết lỏng hoặc
mô liên kết động).
■ Sự phát triển ác tính của mô liên kết ở mọi cơ quan khác nhau trong cơ
thể đều có tên chung là ung thư mô liên kết (sarcoma).
Câu 11: Các thành phần cấu tạo của Mô liên kết?
Trong cơ thể có nhiều loại mô liên kết. Mỗi loại mô liên kết đều được tạo thành
bởi:

○ Hầu hết sợi collagene là sản phẩm tổng hợp của nguyên bào sợi.
► Sợi elastic (sợi chun, sợi đàn hồi, sợi vàng): phân bố ở thành động mạch, sụn
chun, không có cấu trúc xoắn 3, có phân nhánh để tạo mạng lưới thưa.
○ Sợi elastic có màu vàng.
○ Do các phân tử elastic liên kết với nhau tạo thành lưới phân tử nên có
khả năng đàn hồi. Do vậy, sợi elastic có tính đàn hồi cao.
► Sợi reticular (sợi lưới, sợi ưa bạc): phân bố ở các cơ quan tạo huyết (tủy
xương, lách).
○ Chia nhánh như cành cây, cấu trúc sợi đơn, phân đốt và phân nhánh,
liên kết tạo lưới dày.
○ Có vân ngang theo chu kỳ (giống sợi collagene).
○ Thiết lập bộ khung nâng đỡ cho chất nền ngoại bào.
Loại sợi Phân bố Cấu tạo
Sợi collagene + Ở hầu hết các loại mô liên kết
(trừ mô liên kết lỏng).
+ Ở các thành mạch.
+ Xen kẽ giữa các nội quan, dưới
da, màng ngoài sụn và ngoài
xương.
+ Gồm 3 sợi đơn xoắn lại với
nhau. Mỗi sợi đơn là một phân
tử protein phân đốt, không phân
nhánh.
Sợi elastic + Thành động mạch, sụn chun,
thanh quản.
+ Cấu trúc sợi đơn không phân
đốt những có phân nhánh, liên
kết tạo lưới thưa.
Sợi reticular + Ở các cơ quan tạo máu (tủy + Cấu trúc sợi đơn, phân đốt,
xương, lách, hạch lanh phô, hạch

triglyceride.
■ Ở nhiều nơi trong cơ thể, mô mỡ làm nhiệm vụ chống đỡ cơ học. Lớp mỡ
dưới da là lớp đệm giữ hình thể mặt ngoài cơ thể.
 Mô nhầy:
■ Chất cơ bản dạng keo lỏng, các sợi collagene xếp thành từng bó lượn
sóng, nguyên bào sợi dạng hình sao tạo thành mạng chứa nhiều glycogene.
■ Chất gian bào phong phú, mềm và quánh đặc, trong đó có vùi những sợi
collagene, không có sợi võng và sợi chun. Mô nhầy chỉ tồn tại ở tủy răng
người trưởng thành.
■ Mô nhầy thường thấy trong cơ thể phôi thai, đặc biệt là dưới da và trong
dây rốn (chất đông Wharton).
 Mô hạt:
■ Mô hạt chỉ xuất hiện khi bị nhiễm khuẩn hoặc bị tổn thương. Nó có nguồn
gốc từ mô liên kết thừa (vd: mụn nhọt dưới da).
■ Biểu hiện lâm sàng: sưng, nóng, đỏ, đau. Khi đó có nhiều loại tế bào tập
trung đến chỗ bị viêm (lymphocytes, monocytes, plasmocytes,
mastocytes…) để bảo vệ cơ thể chống lại các vi khuẩn. Khi lành bệnh (hoàn
thành việc tái sinh hàn gắn vết thương) thì không còn mô hạt nữa.
Câu 13: Phân loại Mô liên kết sợi? Cấu tạo, phân bố và chức năng của từng loại?
Mô liên kết sợi có chất gian bào chủ yếu là các loại sợi, ít tế bào. Mô liên kết sợi
gồm 4 dạng sau:
 Gân (tendon):
■ Gân là những dây xơ nối với xương, hoặc nối xương này với xương khác,
hoặc nối các mấu xương với đầu cơ,
■ Tế bào gân (thực chất là tế bào sợi) thưa thớt, nằm xen vào giữa các sợi
gân. Mỗi gân gồm nhiều bó sợi collagene kết hợp với nhau, ngăn cách nhau
bởi những vách liên kết và ít chất cơ bản vô định hình dạng keo lỏng. Bọc
ngoài gân là một màng gọi là cân tiếp nối với cân của cơ.
■ Gân chịu tác dụng của các lực theo chiều dọc nên các sợi collagene và
các tế bào xếp định hướng song song với chiều tác dụng của lực.

Khi trẻ ra đời, mô sụn vẫn tiếp tục giữ vai trò trong sự phát triển của các xương dài
và các xương khác. Đến tuổi trưởng thành, mô sụn chỉ còn tồn tại ở mặt khớp xương
dài và một số nơi khác trong cơ thể.
Tùy theo sự có mặt của những thành phần sợi có trong chất nền của sụn, người ta
phân mô sụn thành 3 loại: sụn trong, sụn chun (sụn đàn hồi), sụn sợi.
 Sụn trong:
■ Phân bố ở đầu các xương sườn, thành của khí quản và hầu, bộ xương
của phôi, mặt khớp của các xương dài khi trưởng thành.
■ Sụn trong có màu trắng mờ, đàn hồi nhẹ.
■ Một miếng sụn trong được cấu tạo bởi: chất căn bản sụn, các tơ
collagene, các tế bào sụn và màng sụn.
■ Các tế bào sụn thường tròn hoặc hình trứng, nằm trong các nang sụn.
Các nang sụn già có khi chứa 2 đến 4 tế bào sụn, gọi là nhóm tế bào sụn
cùng dòng (isogenic) do kết quả của quá trình gián phân.
■ Chất căn bản của sụn trong mịn và khá phong phú. Trong chất căn bản có
những hốc nhỏ, gọi là nang sụn. Các sợi collagene chiếm khoảng 40% trọng
lượng khô của sụn trong. Chất căn bản sụn bao quanh ổ sụn giàu GAG
nhưng nghèo collagene; vùng này được gọi là quầng sụn do chúng bắt màu
base đậm.
Trong chất căn bản sụn không có mạch máu và thần kinh -> tế bào sụn dinh
dưỡng bằng các chất khuếch tán từ màng sụn.
■ Màng sụn giàu sợi collagene và nhiều nguyên bào sợi. Các tế bào ớp
trong của màng sụn là những nguyên bào sụn có khả năng biệt hóa thành tế
bào sụn. Vì vậy, lớp trong của màng sụn được gọi là lớp sinh sụn.
 Sụn chun:
■ Sụn chun có ở vòm mí mắt, vành ống tai, sụn vách mũi.
■ Sụn chun khác với sụn trong bởi màu của nó vàng, độ đục cao, độ chun
giãn lớn.
■ TB sụn chun giống tế bào sụn trong: có hình cầu và nằm trong các nang
sụn. Trong mỗi nang sụn có thể có 1 tế bào đơn độc hoặc từ 2-4 tế bào sụn

máu ngoại vi ở người?
 Cấu tạo của Máu:
■ Máu là một dịch lỏng, có độ nhớt thấp. Trọng lượng riêng từ 1.051 đến
1.060; pH từ 7.35 đến 7.45.
■ Máu gồm 2 phần: huyết cầu và huyết tương (lỏng).
 Huyết tương là một dạng dịch lỏng gồm 90% nước và 10% chất khô
(7% protein và 3% các chất hữu cơ và vô cơ). Trong thành phần chất
khô gồm protein, lipid, carbon hydrate và các chất khác. Ngoài ra
trong huyết tương còn có các muối kim loại, các chất dinh dưỡng,
enzyme, hormone và kháng thể.
 Huyết cầu: gồm hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu.
■ Hồng cầu là tế bào động vật chuyên hóa cao để vận chuyển CO
2
và O
2
TB hồng cầu có hình đĩa dẹt, lõm giữa ở hai mặt, không có nhân. Trong
hồng cầu chứa khoảng 350 triệu phân tử hemoglobine.
■ Bạch cầu là những tế bào máu hình cầu có nhân. Hình thái của bạch cầu
luôn thay đổi để thực hiện chức năng bảo vệ cơ thể của nó. Trong máu của
động vật có các loại bạch cầu sau:
Bạch cầu hạt gồm: bạch cầu ưa acid, bạch cầu trung tính và bạch cầu ưa
base.
Bạch cầu không hạt gồm: lymphocyte và bạch cầu đơn nhân (monocyte).
■ Tiểu cầu: không phải là một tế bào mà chỉ là một khối bào tương hình cầu
hoặc hình trứng, tham gia vào quá trình làm đông máu.
 Chức năng của máu:
■ Chức năng chính của máu là cung cấp các chất nuôi dưỡng và cấu tạo
các tổ chức cũng như loại bỏ các chất thải trong quá trình chuyển hóa của
cơ thể (carbonic, lactic acid).
■ Máu cũng là phương tiện vận chuyển của các tế bào (các tế bào có chức

○ Lâm ba cầu 12 – 33%
Gồm có: Lâm ba bé 5 – 12%; lâm ba lớn 12 – 30%; monoxit 4 – 8%
Ở trẻ con có 35% bạch cầu đa nhân, 60% lâm ba và 5% monoxit.
Câu 18: Các nhóm máu A, B, AB, O, nhân tố Rhesus và nguyên tắc truyền máu?
Sự khác nhau giữa các nhóm máu là do sự có mặt hay không có mặt các phân tử protein
gọi là các kháng nguyên và các kháng thể. Các kháng nguyên nằm trên bề mặt của tế bào hồng
cầu còn các kháng thể thì nằm trong huyết tương. Con người có các nhóm máu khác nhau thì có
các sự kết hợp khác nhau của những phân tử này.
Theo hệ thống nhóm máu ABO thì có 4 nhóm máu là A, B, AB và O.
 Nhóm máu A: trong máu có kháng nguyên A trên bề mặt tế bào hồng cầu
và kháng thể β trong huyết tương.
 Nhóm máu B: có kháng nguyên B trên bề mặt tế bào hồng cầu và kháng
thể α trong huyết tương.
 Nhóm máu AB: có cả khảng nguyên A và B trên bề mặt hồng cầu nhưng
không có kháng thể α hay β trong huyết tương.
 Nhóm máu O: không có kháng nguyên A và B trên bề mặt hồng cầu nhưng
có cả kháng thể α và β trong huyết tương.
 Yếu tố Rhesus (Rhesus factor) là 1 chất protein có trên các tế bào màu đỏ
(hồng cầu) cùng với các protein khác A, B, AB, O để phân biệt các nhóm
máu. Chúng ta có tất cả 4 nhóm máu khác nhau, nhóm A, B, AB, O, và yếu
tố Rhesus ký hiệu là Rh(D).
Người nào không có yếu tố Rhesus thì gọi là Rh âm tính (Rhesus negative,
Rh(d)). 86% con người có Rh dương tính.
■ Một người có nhóm máu Rh+ thì có thể nhận máu từ một người có nhóm
máu Rh- hay Rh+ mà không có vấn đề gì nguy hiểm xảy ra. Còn ngược lại thì
không được vì có thể tạo ra các kháng thể gây phản ứng với tế bào máu.
■ Theo những hệ thồng nhóm máu trên thì một người có thể thuộc 1 trong 8
nhóm máu: A Rh+, A Rh-, B Rh+, B Rh-, AB Rh+, AB Rh-, O Rh+, O Rh-
 Nguyên tắc truyền máu:
■ Lựa chọn nhóm máu cho phù hợp.

phát triển.
○ Sợi cơ trơn được phủ bởi 2 màng: màng bào tương và màng đáy.
Bên ngoài màng đáy có những sợi tạo keo và sợi võng nhỏ có tác
dụng gắn các sợi cơ với nhau.
○ Chiều dài sợi cơ khác nhau tùy cơ quan. Vd: sợi cơ trơn ở thành
ruột dài khoảng 0.2mm, ở thành mạch máu chỉ dài 20μm.
■ Xơ cơ trơn:
○ Có ba loại xơ: xơ actin, xơ myosin và xơ trung gian (desmin hoặc
vimentin)
○ Các xơ xếp với nhau thành bó, chạy dọc theo chiều dài của sợi
cơ, đính vào các thể đặc hoặc tấm đặc, tạo thành bộ khung vững
chắc cho tế bào cơ trơn khi co rút.
○ Số lượng xơ actin lớn hơn nhiều so với xơ myosin. Xơ actin
không có phân tử troponin. Đầu hình cầu của xơ myosin liên kết với
phân tử actin.
■ Mô cơ trơn:
○ Những sợi cơ trơn hợp lại với nhau thành từng bó, hoặc từng lớp
bằng cách lồng vào nhau, phần phình to của sợi này nằm cạnh đầu
thon nhỏ của sợi bên cạnh.
○ Giữa các sợi cơ là khoảng gian bào, trong đó có chứa sợi
collagene, sợi võng và chất gian bào, giúp gắn các sợi cơ với nhau.
○ Ở các tạng rỗng, các sợi cơ trơn hình thành nên 2 lớp cơ: những
sợi của lớp trong xếp theo hướng vòng, những sợi của lớp ngoài
xếp theo hướng dọc.
○ Xen giữa các bó sợi cơ trơn là mô liên kết, mạch máu, mạch bạch
huyết và thần kinh.
 Phân bố và chức năng:
■ Cơ trơn tạo nên phần lớn các cơ quan nội tạng ở động vật.
■ Cơ trơn có ở thành các tạng rỗng, ở thành mạch, ở da và một số cơ quan
khác.

Z-I-A-H-M-H-A-I-Z
 Cấu tạo siêu hiển vi:
■ Tơ cơ được tạo thành bởi những sợi rất nhỏ, nằm dọc theo chiều dài sợi
cơ, được gọi là những xơ cơ.
Loại mảnh (theo cấu trúc hóa học gọi là xơ actin) có đường kính khoảng
6nm, dài 1μm; có mặt cả trong đĩa A và đĩa I, nhưng gián đoạn ở vạch H.
Loại xơ dày (theo cấu tạo hóa học gọi là xơ myosin) đường kính 10nm,
dài 1.5μm; chỉ có trong đĩa A, không có trong đĩa I.
■ Xơ actin và xơ myosin xếp song song và lồng vào nhau như kiểu cài răng
lược. Cách sắp xếp này của các xơ cơ giải thích mức độ sáng tối của các
đĩa và các vạch trong một đơn vị co cơ.
Đĩa I là nơi chỉ có xơ actin.
Đĩa A có cả 2 loại xơ (trừ vạch H chỉ có xơ myosin).
Vạch Z là nơi đính nối các xơ actin thuộc 2 đơn vị co cơ kế tiếp nhau. Tại
đây, mỗi xơ actin liên kết với 4 xơ của vạch Z có bản chất là α-actin khác
nhau.
■ Khi cơ bị giãn ra hết mức, có thể nhìn thấy được một loại sợi rất mảnh
trong các khe tạo nên giữa tận cùng của xơ myosin và xơ actin. Những sợi
này là do 1 loại protein titin tạo nên.
Xơ titin có đường kính khoảng 4nm, dài từ vạch Z đến vạch M, có mặt
trong đĩa I và đĩa A. Xơ gồm 2 đoạn: đoạn thẳng nằm trong đĩa A, đoạn chun
nằm trong đĩa và nối xơ myosin với vạch Z. Titin là thành phần chun giữ cho
đĩa A nằm ở vị trí trung tâm của lồng Krause.
 Xơ actin: được cấu tạo bởi 3 loại protein: actin, troponin, tropomyosin
- Protein actin có hình cầu, xếp với nhau thành chuỗi xoắn kép, mỗi phân tử actin
có một vùng trên bề mặt mang hoạt tính kết hợp với myosin, có tính phân cực
- Phân tử troponin là một phức hợp gồm ba phần hình cầu: Troponin T (TnT),
Troponin I (TnI) và Troponin C (TnC)
- Protein tropomyosin có dạng hình sợi, gồm hai chuỗi polypeptid bện vào nhau,
nằm xen giữa chuỗi xoắn kép actin

Cơ tim tạo thành một lớp cơ dày ở thành quả tim, mặt ngoải được phủ bởi màng
ngoài tim, mặt trong được phủ bởi màng trong tim. Cơ tim là một loại cơ vân vì cũng có
các vân ngang do sự sắp xếp của các xơ actin và xơ myosin tạo thành đơn vị co cơ. Tuy
nhiên, cơ tim là loại cơ vân đặc biệt.
 Tế bào cơ tim:

Trích đoạn Các đầu tận cùng của neuron
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status