Tài liệu Phát triển kỹ năng quản trị - Pdf 10

 CHỦ ĐỀ :
Động cơ chỉ sức mạnh tác động lên một người hoặc sức mạnh nảy sinh ngay
trong lòng anh ta, thúc đẩy người đó hành động hướng tới một mục tiêu nhất
định. Một nhân viên có động cơ làm việc cao là một người năng động, chịu đầu
tư sức lực và tinh thần để hoàn thành công việc của mình và đạt được chỉ tiêu
đề ra.
Một nguyên tắc cơ bản trong quản trị là : Hiệu quả làm việc = f (năng lực
* động cơ). Do đó nhiệm vụ của nhà quản lý là khơi nguồn động cơ và xây
dựng một hệ thống động viên có hiệu quả.
Quá trình động viên để thúc đẩy nhân viên có động cơ làm việc cao được diễn
tiến ra sao? Làm thế nào mà trong cùng một không gian làm việc, có một số
người có động cơ làm việc rất tốt, còn một số người khác lại không ? Cuối
cùng thì đâu là những công cụ chính mà nhà quản lý có thể sử dụng để đạt
được hiệu quả nhiều hơn và cao hơn từ các cộng sự viên của mình ?
Động cơ làm việc của các cộng sự viên, cùng với những kỹ năng và phương
pháp làm việc là một trong những yếu tố chính tạo nên thành tích của họ trong
công việc. Mọi sự sút giảm trong động cơ làm việc sẽ dẫn đến một hiệu quả
thấp hơn ; trong trường hợp này, rủi ro sẽ khá lớn và cứ dịch chuyển theo một
vòng xoáy trôn ốc không có kết cuộc : thành tích giảm , động cơ làm việc
giảm , thành tích giảm
I. Các thuyết động viên bởi sự thỏa mãn
1.1 Các cấp bậc nhu cầu của MASLOW
Một người bắt đầu hoạt động thường có động cơ là nhằm thỏa mãn những nhu cầu
còn chưa được bù đắp. Ngược lại, khi một nhu cầu đã được thỏa mãn, thì động cơ
làm việc cũng biến mất theo. Nhu cầu và động cơ lúc nào cũng đi kèm với nhau.
Có năm loại nhu cầu ảnh hướng lên động cơ được xếp theo thứ tự từ thấp đến cao
trên một kim tự tháp có năm cấp bậc :
Nguyên tắc hoạt động của kim tự tháp này là : cho đến khi nào những nhu cầu ở
phía dưới còn chưa được thỏa mãn thì thật khó mà tiếp tục lên các nhu cầu ở
cấp cao hơn.
Áp dụng trong lãnh vực động cơ làm việc :

* Những yếu tố về môi trường: có khả năng làm giảm động cơ làm việc nếu như
không được thỏa mãn, nhưng ngược lại, trong trường hợp được thỏa mãn thì động
cơ làm việc cũng không tăng lên mấy.
* Những yếu tố động viên: có khả năng động viên khi chúng được thỏa mãn.
Nhưng khi không được thỏa mãn thì động cơ làm việc cũng không giảm. Những
yếu tố về môi trường có khả năng gây ra sự không thỏa mãn :
* Chính sách và phương thức quản lý của doanh nghiệp.
* Phương pháp kiểm tra.
* Tiền lương (tương ứng với chức vụ).
* Mối quan hệ với cấp trên.
* Điều kiện làm việc.
* Các mối quan hệ khác và không khí việc.
* Cuộc sống riêng.
§ Tính thử thách của công việc.
§ Các cơ hội thăng tiến.
§ Cảm giác hoàn thành tốt một công việc.
§ Sự công nhận kết quả công việc.
§ Sự tôn trọng của người khác.
§ Trách nhiệm.
§ Tiền lương (tương ứng với thành tích).
Có thể rút ra được những nhận xét sau đây :
1. Tiền lương là một yết tố cần thiết, nhưng không phải là tất cả. Không hẳn cứ
phải tăng lương mới thúc đẩy người ta làm công việc tốt hơn mức cần thiết.
2. Những yếu tố về môi trường là rất nhiều nhưng khó thay đổi (một cá nhân hầu
như không làm được gì để thay đổi chính sách của doanh nghiệp, điều kiện làm
việc, tiền lương, ). Khi tác động đến những yếu tố về môi trường, trước hết là
nhằm mục đích giảm thiểu các bất bình, gia tăng sự thỏa thuận, chuẩn bị cho việc
xuất hiện các yếu tố động viên.
3. Những yếu tố động viên thì có thể thay đổi : cá nhân có thể điều chỉnh sáng kiến
của bản thân mình, tự mình xác định những mục tiêu cao và khó. Kết quả của việc

Do luôn muốn được đối xử một cách công bằng, con người hay có xu hướng so
sánh những đóng góp cống hiến của mình với những đãi ngộ phần thưởng mà họ
nhận được (mong muốn công bằng cá nhân). Ngoài ra, họ còn so sánh chỉ số này
của mình với những người khác (mong muốn công bằng xã hội). Qua so sánh
người ta sẽ có nhận thức là bị đối xử bất công, được đối xử công bằng hay đã được
ưu đãi. Khi rơi vào tình trạng bị đối xử không công bằng, con người có xu thế là
cố gắng điều chỉnh để tự thiết lập sự công bằng cho mình. Nhưng họ chỉ có thể
chấp nhận và chịu đựng trong ngắn hạn. Nếu tình trạng bất công kéo dài, sự bất
bình sẽ tăng lên và người ta có thể phản ứng một cách mạnh mẽ và tiêu cực hơn.
3. Ứng dụng các thuyết để động viên
Khởi điểm của việc động viên nhân viên là bạn phải nhận thức rằng nhiệm vụ
của mình là làm cho nhân viên cam kết gắn bó với công việc chớ không phải là
kiểm tra họ. Bạn phải chấp nhận rằng động viên là một cam kết lâu dài về phía bạn
và về phía công ty.
Kotter (1990) đã đưa ra một ví dụ nêu rõ động viên liên quan đến những vấn đề gì
ở cấp cơ quan, doanh nghiệp như sau :
1. Truyền đạt những định hướng chiến lược một cách đều đặn.
2. Việc truyền đạt phải đi xa hơn là chỉ thông báo đơn giản; nó phải tạo được sự
hưng phấn đối với nhân viên khi gắn liền với những giá trị của họ.
3. Lôi kéo nhân viên tham gia vào việc quyết định thực hiện các định hướng chiến
lược như thế nào - quá trình tham gia phải thật sự chứ không phải là chỉ làm một
cách giả tạo.
4. Hổ trợ để nhân viên có thể thành công trong quá trình vươn tới để đạt được mục
tiêu chiến lược.
5. Bảo đảm rằng những khen thưởng và biểu dương là đúng đắn.
Bạn hãy nhớ rằng không phải tất cả các nhân viên đều được động viên theo
cùng một cách như nhau. Vì vậy, sẽ là không thực tế nếu chúng ta đề ra một danh
sách hạn định những yếu tố để động viên. Ở mỗi một nhân viên vốn dĩ là đã khác
nhau rồi.
Một nhà quản lý hiệu quả là người cố gắng nhận biết những sự khác biệt này và có

đóng học phí cho tôi, tặng tôi chiếc áo mới khi xuân về.
Trong những cột mốc quan trọng của thời đèn sách, tôi nhớ mãi cái “duyên” đưa
tôi đến với báo TT. Năm 1997, tôi được vinh dự đón nhận học bổng “Vì ngày mai
phát triển” (VNMPT). Lúc ấy tôi vừa là bí thư Đoàn trường vừa “kiêm” cậu bé
bán báo tại Trường THPT Quang Trung.
Sau đó, có lẽ vì gia cảnh tôi đặc biệt nghèo, ngày 18-4-1998 chị Tố Oanh (PV TT)
liên hệ với Trường Quang Trung để tìm hiểu viết bài về tôi. Chị Oanh đến trường
rồi lặn lội về tận xóm nhà tôi để tìm hiểu. Sau đó chị báo rằng tôi được xét học
bổng “VNMPT”.
Từ ấy tôi đỡ vất vả hơn và nỗi lo chi phí thi đại học đã vơi đi, tôi tập trung hết sức
lực để ôn tập thi đại học. Chính nhờ sự tiếp sức kịp thời ấy tôi đã đỗ vào ba trường
đại học và một trường cao đẳng năm 1998. Để trở thành thầy giáo theo ước mơ
của mình, tôi quyết định học ngành ngữ văn ĐH Sư phạm.
Năm 2000, khi căn bệnh mẹ tôi phát nặng, tôi rơi vào bế tắc tinh thần và gặp ngõ
cụt về kinh tế gia đình. Những tưởng tôi sẽ ngã quị, song chương trình “VNMPT”
lần của báo TT lại giúp tôi có điều kiện chữa trị cho mẹ tôi và bản thân tôi tiếp tục
đến trường, vun đắp cho tương lai để giờ đây trở thành thầy giáo, đạt được ước mơ
trở về Củ Chi dạy học.
Có thể nói tôi may mắn và hiếm hoi nhất trong gia đình “VNMPT”, vì được nhận
học bổng của báo TT đến ba lần! Chính những suất học bổng đầy nghĩa tình ấy tạo
những “điểm nhấn” quan trọng trong cuộc đời tôi. Đó là những dấu ấn nhớ mãi.
Khi gia đình “VNMPT” ra đời, tôi hạnh phúc lắm vì mình đã có thêm mái ấm, có
điều kiện thực hiện việc làm của “người trước rước người sau”.
Khi về Trường THPT Quang Trung công tác, tôi đã cùng thầy cô lập Hội Khuyến
học giúp đỡ HS nghèo. Chưa đầy tám tháng đã giúp 157 HS với hơn 90 triệu đồng.
Đồng thời học tập kinh nghiệm từ mô hình gia đình “VNMPT”, khi nhận học bổng
khuyến tài của Hội Khuyến học TP.HCM, tôi đề xuất thành lập CLB Khuyến tài
để hoạt động như gia đình “VNMPT”. Phải chăng những điều ấy được vun bồi từ
báo TT?
Giờ đây, ngoài việc dạy văn tôi còn cộng tác tin bài cho đôi tờ báo như TT, Thanh

thơ của cậu gắn liền với xóm lao động nghèo, bên bờ kênh nước đen ở quận 8. Từ
nhỏ, Ngân vừa đi học, vừa bán kem, bán bánh mì dạo. Năm lên 9 tuổi, mẹ bệnh
mất, các anh chị đi kinh tế mới rồi dần dần có gia đình riêng. Cha cậu sau đó cũng
có cuộc sống riêng khác. Số phận không may mắn đã buộc Ngân gánh vác trách
nhiệm vừa vai trò người cha, vừa làm mẹ cho cả 3 đứa em khi còn quá trẻ. Ngân
tiếp tục kiếm tiền vừa nuôi bản thân, vừa nuôi em ăn học bằng nghề bán dạo, nấu
chì, làm bình ắcquy.
Trong những năm khó khăn của thời bao cấp, ngay cả những gia đình có cha mẹ
làm trụ cột cũng phải chật vật trong việc nuôi con ăn học. Vậy mà cậu học sinh
nghèo đói ăn, rét mặc ấy đã luôn là học sinh đứng đầu lớp. Trong kỳ thi tốt nghiệp
cấp 3, cậu là thủ khoa của Trường Trung học Lương Văn Can - quận 8.Năm 18
tuổi, Ngân thi đậu vào ĐH Kinh tế TPHCM. Đến lúc này cậu vẫn theo nghề nấu
chì, làm bình ắcquy, có điều là đã chuyển sang làm kỹ thuật viên.
Có hôm cậu phải dậy sớm làm việc từ 5h sáng, làm đêm đến 1-2 giờ khuya. Nhiều
sinh viên khoá 7 Trường ĐH Kinh tế hồi đó rất ngạc nhiên thấy hàng ngày có một
đồng môn đến lớp trong bộ đồ công nhân cũ kỹ, chở theo xe đạp rủng rỉnh nào là
bình ắcquy và lắc (thẻ), rồi sau giờ học lại tất tả chạy đi giao hàng. Nhiều hôm cậu
phải giao hàng tận Bình Dương, Đồng Nai, Long An, đạp xe đi - về gần cả trăm
km
Phân tích:
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có hoàn cảnh khó khăn,ngay từ thủa thơ ấu
đã phả vật lôn với cuộc sống, lo về vấn đề nhu cầu về cuộc sống hàng ngày ,nhưng
thầy đã không vì thế mà trùn bước trước những khó khăn .chinh cuộc sống khó
khăn đó đã rèn luyện cho thầy trở thành con người bản lĩnh và cứng rắn.
Với sự ham học hỏi trong học tập và ước mơ trở thành một con người có ích cho
xã hôi .muốn cống hiến cho xã hội .chính những điều đó là động cơ thúc đẩy thầy
thực hiện được ước mơ của mình đó là trở thành thầy giáo ,đem kiến thức truyền
đạt lại cho mọi người
Khi con người có nhu cầu học tập, xác định được đối tượng càn đạt thì xuất hiện
động cơ học tập.Động cơ học tập được thể hiện ở đối tượng của hoạt động học, tức

Động cơ nói chung và động cơ học tập nói riêng thường liên hệ mật thiết tới hứng
thú của mỗi người.Nhờ có hứng thú mà động cơ ngày càng mạnh mẽ.Vì thế vai trò
của hứng thú trong học tập rất lớn.Trong học tập chẳng những cần có động cơ
đúng đắn mà còn phải có hứng thú bền vững thì học sinh mới có thể tiếp thu tri
thức hiệu quả nhất.
Ngòai ra các yếu tố bên ngoài như kinh tế gia đình, quan hệ thầy cô, bạn bè, cơ sở
vật chất nhà trường … cũng có ảnh hưởng đến động cơ học tập của học sinh.

DANH SÁCH NHÓM 6-LỚP 07AC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC ĐÀ NẴNG
HỌ VÀ TÊN: ĐIỂM
NGUYỄN THỊ VUI 100%
PHẠM THỊ NGOAN 100%
ĐẶNG THỊ NGÀ 100%
NGUYỄN THỊ NY NA 100%
NGÔ THỊ NGUYỆT 100%
NGUYỄN THỊ LINH 100%


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status