LỜI MỞ ĐẦU
Các doanh nghiệp hiện nay hoạt động kinh doanh trong điều kiện của nền
kinh tế mở, với xu thế quốc tế hoá ngày càng cao, nhất là trong bối cảnh Việt Nam
đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO cho nên sự cạnh tranh trên thị
trường trong và ngoài nước ngày càng mạnh mẽ. Do vậy nhu cầu vốn cho hoạt
động kinh doanh, cho đầu tư phát triển ngày càng lớn, điều đó đòi hỏi doanh
nghiệp phải huy động cao độ không những nguồn vốn bên trong mà phải tìm cách
huy động nguồn vốn bên ngoài, đồng thời phải bảo đảm sử dụng vốn một cách có
hiệu quả nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư và phát triển, trên cơ sở tôn trọng các
nguyên tắc tài chính, tín dụng.
Cùng với sự đổi mới của nền kinh tế đất nước, với chủ trương phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước theo định hướng
XHCN, các doanh nghiệp được quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh,
đồng thời có trách nhiệm bảo toàn vốn, sử dụng vốn của mình có hiệu quả. Nhờ đó,
nhiều doanh nghiệp đã thích nghi kịp thời với tình hình mới, hiệu quả sản xuất
kinh doanh tăng lên rõ rệt và trở thành các doanh nghiệp lớn của đất nước. Song
bên cạnh đó có không ít các doanh nghiệp còn lúng túng trong hoạt động quản lý,
sản xuất kinh doanh, làm ăn thua lỗ kéo dài, doanh thu không đủ bù chi phí bỏ ra,
không bảo toàn được vốn dẫn tới phá sản. Thực tế này do nhiều nguyên nhân, một
trong các nguyên nhân quan trọng là năng lực tổ chức quản lý và sử dụng vốn của
doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, hiệu quả sử dụng vốn còn quá thấp. Vấn đề huy
động và sử dụng vốn của doanh nghiệp hiện nay là vấn đề rất bức thiết. Doanh
nghiệp cần xác định được mình đang thừa hay thiếu vốn, nên đầu tư vào đâu để
đồng vốn sinh lợi tốt nhất. Ý thức được điều này, doanh nghiệp sẽ tìm ra được các
giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn phù hợp nhất với mình, tránh được những
bất cập trong công tác quản lý và tăng tính cạnh tranh của doanh nghiệp trong giai
đoạn hiện nay.
1
Từ những lí do nêu trên tôi đã quyết định chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn tại công ty cổ phần thương mại xi măng” để tìm hiểu chi tiết thực
trạng sử dụng vốn ở doanh nghiệp vừa và nhỏ và tìm ra giải pháp khắc phục.
giá trị ứng ra ban đầu và các quá trình sản xuất tiếp theo của doanh nghiệp nhằm
tạo ra giá trị gia tăng.
Như vậy, vốn là yếu tố quan trọng nhất của mọi hoạt động sản xuất kinh
doanh, nó đòi hỏi các doanh nghiệp phải quản lý và sử dụng có hiệu quả để bảo
toàn và phát triển vốn, đảm bảo cho doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh. Vì vậy, các
doanh nghiệp cần thiết phải nhận thức đầy đủ hơn về vốn cũng như những đặc
trưng của vốn.
1.1.2. Các đặc trưng cơ bản của vốn
- Vốn phải đại diện cho một lượng tài sản nhất định: Có nghĩa là vốn được
biểu hiện bằng giá trị của tài sản hữu hình và tài sản vô hình của doanh nghiệp.
- Vốn phải vận động sinh lời, đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh
nghiệp.
- Vốn phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát
huy tác dụng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
- Vốn có giá trị về mặt thời gian.
3
- Vốn phải được gắn liền với chủ sở hữu nhất định, không thể có đồng vốn vô
chủ.
- Vốn được quan niệm như một hàng hoá và là một hàng hoá đặc biệt có thể
mua bán quyền sử dụng vốn trên thị trường.
- Không thể đồng nhất vốn và tiền. Tiền chỉ là một dạng biểu hiện của vốn và
tiền không nhất thiết phải là vốn.
1.1.3. Phân loại vốn
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để quản lý và sử dụng vốn một cách có
hiệu quả các doanh nghiệp đều tiến hành phân loại vốn. Tuỳ vào mục đích và loại
hình của từng doanh nghiệp mà mỗi doanh nghiệp phân loại vốn theo các tiêu thức
và cách thức khác nhau. Hầu hết trong mọi doanh nghiệp, vốn đều bao gồm hại bộ
phận: vốn chủ sở hữu và nợ, mỗi bộ phận này được cấu thành bởi nhiều khoản mục
khác nhau tùy theo tính chất của chúng. Nhưng việc lựa chọn nguồn vốn trong các
doanh nghiệp khác nhau sẽ không giống nhau mà nó phụ thuộc vào một loạt các
Đối với công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty có
vốn đầu tư nước ngoài… vốn do các cổ đông đóng góp là yếu tố quyết định
để thành lập công ty. Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của công ty, chịu trách
nghiệm hữu hạn trên giá trị cổ phần mình nắm giữ. Tuy nhiên, đối với mỗi
công ty cổ phần tỷ lệ và quy mô góp vốn phụ thuộc nhiều và các yếu tố khác
nhau như luật pháp, đặc điểm nền kinh tế - kỹ thuật, cơ cấu liên doanh… do
đó cách thức huy động vốn cổ phần cũng khác nhau.
Nguồn vốn từ lợi nhuận giữ lại: Quy mô vốn ban đầu của doanh nghiệp là
rất quan trọng. Tuy nhiên, số vốn này thông cần phải tăng lên theo quy mô
phát triển của doanh nghiệp. Thông thường, các doanh nghiệp làm ăn có lãi
đều dùng lợi nhuận thu được của năm trước không chia cho các chủ sở hữu
mà giữ lại tái đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong
quá trình sản xuất kinh doanh, nếu doanh nghiệp hoạt động càng hiệu quả thì
càng có cơ hội thuận lợi để tăng trưởng nguồn vốn.
Tự tài trợ bằng lợi nhuận giữ lại là một phương thức tạo nguồn tài
chính quan trọng và khá hấp dẫn đối với doanh nghiệp. Dùng nguồn vốn
này, doanh nghiệp giảm được chi phí, giảm bớt sự phụ thuộc của doanh
nghiệp đối với bên ngoài. Rất nhiều doanh nghiệp coi trọng chính sách đầu
tư bằng lợi nhuận giữ lại do đó họ đặt ra mục tiêu lợi nhuận giữ lại đủ lớn để
đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng cao. Nguồn vốn tái đầu tư từ lợi nhuận giữ
lại chỉ có thể thực hiện được nếu doanh nghiệp đã và đang hoạt động và có
lợi nhuận được phép tiếp tục đầu tư. Đối với các doanh nghệp Nhà nước,
việc tái đầu tư không chỉ phụ thuộc vào khả năng sinh lời của doanh nghiệp
mà còn phụ thuộc vào chính sách khuyến khích tái đầu tư của Nhà nước.
Đối với các công ty cổ phần, việc giữ lại lợi nhuận tái đầu tư lại liên
quan đến một số yếu tố nhạy cảm khác. Khi công ty để lại lợi nhuận trong
5
năm cho tái đầu tư, tức là không dùng lợi nhuận đó để chia cổ phần, các cổ
đông sẽ không nhận được cổ tức, nhưng bù lại, họ có quyền sở hữu số vốn
cổ phần tăng lên của công ty. Điều này một mặt khuyến khích cổ đông giữ
biểu quyết. Ngoài ra cổ đông phổ thông còn có quyền pháp lý khác nữa đó là
quyền được kiểm tra sổ sách của công ty khi cần thiết, quyền được yêu cầu
đại hội đồng cổ đông bất thường… Sau khi phát hành, phần lớn các cổ phiếu
này nằm trong tay các nhà đầu tư. Những cổ phiếu này được gọi là cổ phiếu
đang lưu hành. Tuy nhiên, trong một số trường hợp công ty phát hành có thể
mua lại một số cổ phiếu của chính mình, số cổ phiếu này gọi là cổ phiếu
6
quỹ. Những cổ phiếu này tạm thời được coi như không lưa hành. Việc mua
vào hoặc bán ra các cổ phiếu này phụ thuộch vào các yếu tố như:
- Tình hình cân đối vốn và khả năng đầu tư của công ty.
- Tình hình biến động giá chứng khoán trên thị trường.
- Chính sách đối với việc sáp nhập và thôn tính công ty.
- Quy định của ủy ban chứng khoán Nhà nước.
- Mệnh giá và thị giá của cổ phiếu.
Cổ phiếu ưu tiên thường chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng số cổ
phiếu phát hành. Cổ phiếu ưu tiên dành cho cổ đông những ưu đãi hơn so
với cổ đông phổ thông. Kiểu ưu đãi truyền thống và phổ biến nhất là ưu đãi
về cổ tức. Cổ phiếu ưu đãi cổ tức được ấn định một tỷ lệ cổ tức tối đa so với
mệnh giá, thu nhập của cổ đông ưu đãi nói chung là cố định. Trong trường
hợp công ty không có khả năng trả theo cổ tức cố định công ty sẽ trả theo
khả năng có thể. Trong trường hợp công ty thanh lý tài sản, cổ đông ưu đãi
được ưu tiên nhận lại vốn trước cổ đông phổ thông nhưng sau người có trái
phiếu. Đổi lại những điều đó, cổ đông ưu đãi không được tham gia bỏ phiếu
quyết định những vấn đề quan trọng của công ty.
Cổ phiếu ưu tiên cũng có thể kèm theo những điều khoản để tăng
thêm tính hấp dẫn. Cổ phiếu ưu đãi cộng dồn quy định nếu chưa trả cổ tức
cho cổ đông ưu đãi thì coi như công ty còn mắc nợ cho tới khi có đủ lợi
nhuận để trả cho cổ đông ưu đãi, và tới khi đó cổ đông phổ thông mới nhận
dược cổ tức. Cổ phiếu ưu đãi tham dự cho phép cổ đông ưu đãi được chia sẻ
thành quả hoạt động của công ty khi công ty làm ăn phát đạt. Cổ phiếu ưu
thể tiếp cận được nguồn vốn vay ngân hàng.
Một khi doanh nghiệp được ngân hàng chấp nhận cho vay vốn, thì
doanh nghiệp cũng chịu sự kiểm soát của ngân hàng về mục đích và tình
hình sử dụng vốn vay. Khi doanh nghiệp vay vốn, doanh nghiệp phải cam
kết trả một mức lãi suất cho ngân hàng. Lãi suất này phụ thuộc vào tình hình
thực tế trên thị trường tài chính. Nhưng nếu lãi suất này quá cao sẽ làm giảm
đáng kể lợi nhuận của doanh nghiệp.
Tín dụng thương mại: Nguồn vốn này hình thành một cách tự nhiên trong
quan hệ mua bán chịu, trả chậm hay trả góp. Nguồn vốn này có sức ảnh
hưởng to lớn đến các doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế. Khi được trả
chậm, trả góp, mua bán chịu thì đồng thời doanh nghiệp đã lợi dụng được
một số vốn nhất định từ người cung cấp dịch vụ và hàng hóa một khoản nhất
định. Trong một số doanh nghiệp, nguồn vốn này có thể lên đến 20 thậm chí
40% tổng nguồn vốn.
Đối với doanh nghiệp, tài trợ bằng nguồn tín dụng thương mại là một
phương thức tài trợ rẻ, tiện dụng và linh hoạt trong kinh doanh. Hơn nữa nó
còn tạo quan hệ hợp tác làm ăn lâu dài giữa các đối tác. Điều kiện ràng buộc
cụ thể có thể được ấn định khi các bên ký kết hợp đồng kinh tế. Tuy nhiên
cần nhận thức rõ tính chất rủi ro của quan hệ tín dụng thương mại khi quy
mô tài trợ quá lớn.
Chi phí của nguồn tín dụng được thể hiện qua lãi của khoản vay. Đối
với tín dụng thương mại thì chi phí này sẽ được tính vào giá thành sản phẩm
hay dịch vụ tùy thuộc vào quan hệ thỏa thuận giữa các bên. Hiện nay, xu
hướng chung của Việt Nam cũng như thế giới, các hình thức tín dụng ngày
càng được đa dạng hóa và linh hoạt hơn, cạnh tranh hơn giúp doanh nghiệp
có nhiều cơ hội để lựa chọn nguồn vốn tài trợ cho hoạt động của mình.
8
Phát hành trái phiếu: Trái phiếu là tên chung của giấy tờ vay nợ dài hạn và
trung hạn. Trái phiếu là một công cụ nợ đòi hỏi người phát hành (người đi
vay) hoàn trả cho người cho vay ( người đầu tư) khối lượng vốn đã vay cộng
trái phiếu trong điều kiện bình thường.
Trái phiếu có thể chuyển đổi: cho phép người mua trái phiếu trong
những điều kiện nhất định có thể đổi trái phiếu lấy cổ phiếu thường thêo một
tỷ lệ đã được ấn định.
1.1.3.2. Phân loại vốn theo phương thức chu chuyển
1.1.3.2.1.Vốn cố định của doanh nghiệp
9
Trong doanh nghiệp việc mua sắm hay lắp đặt các tài sản cố định đều phải
thanh toán chi trả bằng tiền. Số vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng hay
lắp đặt tài sản cố định hữu hình hay vô hình gọi là vốn cố định của doanh nghiệp.
Nói cách khác, vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư
ứng trước về tài sản cố định của doanh nghiệp. Số vốn này nếu được sử dụng có
hiệu quả sẽ không mất đi, doanh nghiệp sẽ thu hồi lại được sau khi tiêu thụ sản
phẩm hàng hoá hay dịch vụ của mình. Quy mô của vốn cố định nhiều hay ít sẽ qui
định đến quy mô của tài sản cố định, ngược lại những đặc điểm vận động của tài
sản cố định trong quá trình sử dụng lại có ảnh hưởng quyết định, chi phối đặc điểm
tuần hoàn và chu chuyển vốn cố định.
Đặc thù về sự vận động của vốn cố định trong quá trình sản xuất kinh doanh:
- Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm. Có đặc điểm
này là do tài sản cố định tham gia trực tiếp hay gián tiếp và phát huy tác
dụng trong nhiều chu kỳ sản xuất. Vì vậy vốn cố định là hình thái biểu hiện
bằng tiền của tài sản cố định cùng tham gia vào các chu kỳ tương ứng.
- Vốn cố định được luân chuyển giá trị dần dần từng phần trong các chu kỳ
sản xuất. Khi tham gia vào quá trình sản xuất tài sản cố định không bị thay
đổi hình thái hiện vật ban đầu nhưng tính năng và công suất của nó bị giảm
dần tức là nó bị hao mòn và cùng với sự giảm dần về giá trị sử dụng thì giá
trị của nó cũng bị giảm đi theo đó, vốn cố định được tách thành hai bộ
phận:
Bộ phận thứ nhất tương ứng với phần hao mòn của tài sản cố định được
luân chuyển và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm dưới hình thức chi
Là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động, nên đặc điểm vận động của vốn
lưu động luôn chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của tài sản lưu động. Trong các
doanh nghiệp tài sản lưu động bao gồm các loại nguyên nhiên vật liệu, phụ tùng
thay thế, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang, đang trong quá trình dự trữ sản
xuất hoặc chế biến còn tài sản lưu động ở khâu lưu thông bao gồm các sản phẩm,
thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, các tài khoản vốn trong thanh
toán, các khoản chi phí chờ kết chuyển, chi phí trả trước, Trong quá trình sản
xuất kinh doanh các tài sản lưu động luôn vận động thay thế hoặc đổi chỗ cho nhau
đảm bảo cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành thuận lợi.
11
Khác với tài sản cố định trong quá trình sản xuất kinh doanh tài sản lưu động
của doanh nghiệp luôn luôn thay đổi hình thái biểu hiện để tạo ra sản phẩm hàng
hoá và do đó phù hợp với đặc điểm của tài sản lưu động, vốn lưu động của doanh
nghiệp cũng không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh: dự
trữ sản xuất, sản xuất và lưu thông. Quá trình này được diễn ra liên tục và thường
xuyên lặp lại theo chu kỳ và được gọi là quá trình tuần hoàn của vốn lưu động.
Trong quá trình vận động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần, qua
mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh, vốn lưu động lại thay đổi hình thái biểu hiện
từ hình thái tiền tệ ban đầu chuyển sang vốn hình thái vật tư hàng hoá dự trữ. Qua
giai đoạn sản xuất, vật tư được đưa vào chế tạo thành các bán thành phẩm và thành
phẩm sau khi sản phẩm được liên tục, vốn lưu động lại trở về hình thái tiền tệ như
điểm xuất phát ban đầu của nó. Sau mỗi chu kỳ tái sản xuất, vốn lưu động mới
hoàn thành một vòng chu chuyển. Có thể thấy, trong cùng một lúc vốn lưu động
của doanh nghiệp được phân bố trên khắp các giai đoạn luân chuyển và chuyển hoá
hình thái của vốn trong quá trình luân chuyển được thuận lợi doanh nghiệp phải có
đủ vốn lưu động đầu tư vào các hình thái khác nhau.
1.1.4. Chi phí và cơ cấu vốn
1.1.4.1. Chi phí vốn
Bên phải của bảng cân đối kế toán là nguồn vốn của doanh nghiệp. Theo
cách phân chia phổ biến nhất hiện nay nguồn vốn bao gồm các khoản nợ và vốn
K
s
= K
s
= D
1
/P
0
+g
D
1
: lợi tức kỳ vọng năm sau
P
0
: giá chứng khoán năm nay
g: tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp
Chi phí cổ phiếu thường mới (K
e
): muốn phát hành cổ phiếu thường mới phải
tính đến các cho phí như chi phí in ấn, chi phí quảng cáo, hoa hồng…Các chi phí
này tùy thuộc vào nhiều yếu tố và có thể chiếm tới 10% tổng giá trị phát hành. Vốn
huy động bằng phát hành cổ phiếu mới phải được sử dụng sao cho lợi tức của các
cổ đông cũ ít nhất không bị giảm. Ta có:
P
n
: giá thuần của một cổ phiếu
K
e
: chi phí của cổ phiếu mới
D
1
/ P
0
( 1- f)) + g
Chi phí cổ phiếu ưu tiên (K
p
): được xác định bằng cách lấy cổ tức ưu tiên (D
p
)
chia cho giá phát hành thuần của cổ phiếu (P
n
) là giá mà doanh nghiệp nhận được
sau khi đã trừ chi phí phát hành.
K
p
= D
p
/P
n
1.1.4.1.2.Chi phí nợ vay
13
Chi phí nợ trước thuế (K
d
): được tính toán trên cơ sở nợ vay. Lãi suất này
thường được ấn định trong hợp đồng vay tiền
Chi phí nợ vay sau thuế K
d
(1-T): được xác định bằng chi phí nợ trước thuế trừ
đi khoản tiết kiệm thuế. Phần tiết kiệm này tính bằng chi phí nợ trước thuế nhân
với thuế suất (K
: Tỷ trọng của nợ
W
p
: Tỷ trọng vốn cổ phần ưu tiên
W
s
: Tỷ trọng vốn cổ phần thường
1.1.4.1.4.Chi phí cận biên của vốn
Chi phí cận biên của bất kỳ một khoản mục nào là chi phí của một đơn vị tăng
thêm của khoản mục đó. Khái niệm như vậy cũng được áp dụng đối với vốn. Khi
doanh nghiệp cố gắng thu hút những đồng vốn mới, chi phí của mỗi đồng vốn tại
một thời điểm nào đó sẽ tăng lên. Vì vậy chi phí cận biên của vốn (MCC) được
định nghĩa như là chi phí của đồng vốn mới cuối cùng mà doanh nghiệp huy động
và chi phí cận biên sẽ tăng khi càng nhiều vốn được huy động trong một giai đoạn
nào đó.
Ví dụ công ty Y sử dụng 45% nợ vay, 2% cổ phiếu ưu tiên, 53% lợi nhuận
giữ lại thì: WACC = 45% x K
d
+ 2% x K
p
+ 53% x K
s
.
Giả sử K
d
= 6%, K
p
=10,3%, K
s
=13,4%. Khi đó WACC = 10% tức là chi phí
- Rủi ro kinh doanh: đây là rủi ro tiềm ẩn trong tài sản của doanh nghiệp.
Rủi ro kinh doanh càng lớn thì tỷ lệ nợ tối ưu càng thấp.
- Chính sách thuế: thuế thu nhập doanh nghiệp có tác động đến chi phí nợ
vay thông qua phần tiết kiệm nhờ thuế. Thuế suất cao sẽ khuyến khích
doanh nghiệp sử dụng nhiều nợ vay để tận dụng được phần tiết kiệm nhờ
thuế.
- Khả năng tài chính của doanh nghiệp: khả năng tăng vốn hợp lý của doanh
nghiệp ngay cả trong điều kiện khó khăn sẽ giúp doanh nghiệp giữ được cơ
cấu vốn hợp lý và thể hiện được tình hình tài chính vững mạnh sẽ khiến
cho doanh nghiệp càng dễ dàng huy động vốn hơn.
- Quan điểm của nhà quản lý rất quan trọng: nếu nhà quản lý theo trường
phái “bảo thủ” thì họ sẽ ít sử dụng nợ vay, còn đối với nhà quản lý theo
phương pháp “ phóng khoáng” thì sẽ sử dụng nhiều nợ vay.
1.2. Hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp
1.2.1. Quan điểm về hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp
Để đánh giá trình độ quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của
mỗi doanh nghiệp, người ta sử dụng thước đo là hiệu quả sản xuất kinh doanh của
15
doanh nghiệp đó. Hiệu quả sản xuất kinh doanh được đánh giá trên hai giác độ là
hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Trong phạm vi quản lý doanh nghiệp, người ta
chủ yếu quan tâm đến hiệu quả kinh tế. Đây là một phạm trù kinh tế phản ánh trình
độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất với chi
phí hợp lý nhất. Do vậy các nguồn lực kinh tế đặc biệt là nguồn vốn của doanh
nghiệp có tác động rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì
thế việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là yêu cầu mang tính thường xuyên và bắt
buộc đối với doanh nghiệp. Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp ta thấy được
hiệu quả của hoạt động kinh doanh nói chung và quản lý sử dụng vốn nói riêng.
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh
trình độ khai thác, sử dụng và quản lý nguồn vốn làm cho đồng vốn sinh lời tối đa
nhằm mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở
từng bộ phận của hoạt động tài chính, trong mỗi trường hợp khác nhau, tuỳ theo
giác độ phân tích, người phân tích lựa chọn những nhóm chỉ tiêu khác nhau phù
hợp với mục đích phân tích.
1.2.2. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn
Các tỷ số khả năng thanh toán:
Tỷ số thanh toán ngắn hạn =
Tài sản lưu động
Nợ ngắn hạn
Tỷ số khả năng thanh toán ngắn hạn là mối tương quan giữa tài sản lưu động
và các khoản nợ ngắn hạn. Tỷ số này cho thấy mức độ an toàn của công ty trong
việc đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ ngắn hạn.
Thông thường, tỷ số thanh toán ngắn hạn được kỳ vọng cao hơn 1.
Tỷ số thanh toán nhanh =
Tài sản lưu động - Hàng tồn kho
Nợ ngắn hạn
Tỷ số thanh toán nhanh đo lường khả năng của một công ty trong việc chi trả
các khoản nợ ngắn hạn bằng những tài sản có tính thanh khoản nhất.
17
Tỷ số này thích hợp cho việc đo lường khả năng thanh toán của những công
ty có vòng quay hàng tồn kho thấp. Một cách lý tưởng, tỷ số thanh toán nhanh ít
nhất bằng 1 đối với những công ty có vòng quay hàng tồn kho thấp và có thể thấp
hơn 1 đối với công ty với vòng quay hàng tồn kho nhanh với điều kiện công ty này
không gặp khó khăn về dòng tiền. Vấn đề quan trọng là cần phải xem xét xu hướng
của các tỷ số này để thấy được tính thanh khoản của công ty đang được cải thiện
hay đang giảm sút.
Tỷ số khả năng hoạt động:
Kỳ thu tiền bình quân =
Phải thu x 360 ngày
Doanh thu bán chịu
khả năng thanh toán của doanh nghiệp thực tế sẽ là không cao nếu không muốn nói
là không có khả năng thanh toán.
Mặt khác, tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn có thể được hình thành từ vốn
vay dài hạn như tiền trả trước cho người bán; hoặc được hình thành từ nợ khác
(như các khoản ký quỹ, ký cược…) hoặc được hình thành từ nguồn vốn chủ sở
hữu. Chính vì thế có thể vốn vay ngắn hạn của doanh nghiệp nhỏ nhưng nợ dài hạn
và nợ khác lớn. Nếu lấy tổng tài sản lưu động chia cho nợ ngắn hạn để nói lên khả
năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp thì chẳng khác gì kiểu dùng nợ để
trả nợ vay. Chính vì vậy, không phải hệ số này càng lớn càng tốt. Tính hợp lý của
hệ số này phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh, ngành nghề nào có tài sản lưu
động chiếm tỷ trọng cao như thương mại trong tổng tài sản thì hệ số này cao và
ngược lại.
Cơ cấu vốn và khả năng thanh toán dài hạn:
Nợ dài hạn/VCP=
Nợ dài hạn
Vốn cổ phần
Tỷ số này cho biết cứ 1 đồng vốn tài trợ bởi các cổ đông thì có bao nhiêu đồng
vốn được tài trợ bởi nợ dài hạn.
Tổng nợ/VCP=
Tổng nợ
19
Vốn cổ phần
Tỷ số này cho biết cứ 1 đồng vốn tài trợ bới các cổ đông thì có bao nhiêu đồng
được tài trợ bởi các chủ nợ.
Đòn cân nợ =
Tổng nợ dài hạn
Tổng vốn cổ phần + Tổng nợ dài hạn
Tỷ số này liên quan đến cơ cấu vốn dài hạn của một công ty và được dùng để
xác định mức độ rủi ro liên quan đến việc nắm giữ vốn cổ phần trong một công ty.
Một công ty với đòn cân nợ cao thì có rủi ro gặp phải sự đi xuống trong chu
Tỷ suất này cho biết cứ một đồng vốn chủ sở hữu đầu tư sẽ tạo ra bao nhiêu
đồng lợi nhuận sau thuế.
Nhóm tỷ số này có thể cho ta thấy khả năng quản lý chi phí của doanh
nghiệp. Nếu doanh nghiệp quản lý tốt chi phí sẽ tạo ra được khả năng sinh lời cao
hơn các doanh nghiệp khác cùng ngành đặc biệt là trong môi trường cạnh tranh hết
sức khốc liệt.
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
1.2.3.1. Đặc điểm chung của nền kinh tế
Kinh tế Việt Nam thời gian trước vốn là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu,
đông dân và chậm phát triển, đã từng phải trải qua những cuộc chiến tranh liên tiếp
kéo dài. Kể từ năm 1986, Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa, xóa bỏ
bao cấp và từng bước chuyển dịch sang nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền kinh
tế dần thoát khỏi khủng hoảng và đạt được nhiều thành tựu quan trọng.
Sau năm 1986, kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển to lớn và đạt
được tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình khoảng 9% hàng năm từ 1993 đến
1997. Năm 1998, tăng trưởng GDP giảm xuống 4% do ảnh hưởng của cuộc khủng
21
hoảng kinh tế châu Á năm 1997, sau đó lại tăng lên đến 4,8% năm 1999. Trong
những năm 2000-2003, tăng trưởng GDP tăng từ 6% đến 7% trong khi tình hình
kinh tế thế giới đang suy thoái. Năm 2004, mức tăng GDP là 7,7% và năm 2005 là
8,4%, trong đó khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4%, khu vực
công nghiệp và xây dựng tăng 11% và khu vực dịch vụ tăng 8%. Nền kinh tế Việt
Nam đang diễn ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách rõ rệt, khu vực nông
nghiệp đã giảm từ 21,7% năm 2004 xuống 19% năm 2005 trong khi khu vực công
nghiệp và dịch vụ tăng từ 40,1% năm 2004 lên 41% và khu vực dịch vụ tăng từ
38,2% lên 39%. Tuy nhiên, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu của IMF, Charles
Collyns nói thêm rằng Việt Nam cũng đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề. Lạm
phát đang tăng lên cho dù kinh tế tăng trưởng mạnh. Các vấn đề về cơ cấu cũng là
một mối quan ngại lớn. Việt Nam gia nhập WTO đã đem lại rất nhiều cơ hội phát
nghiệp, sớm tìm ra những điểm tồn tại để có biện pháp giải quyết.
Mặt khác, nếu một doanh nghiệp chú trọng đến công tác sử dụng vốn, doanh
nghiệp đó sẽ đầu tư đến chất lượng các quyết định quản lý từ đó nâng cao trình độ
của đội ngũ quản lý trong doanh nghiệp. Trình độ quản lý tốt thì doanh nghiệp đó
sẽ có nền tài chính vững mạnh. Điều đó thể hiện ở hiệu quả kinh doanh, doanh
nghiệp sẽ vẫn dễ dàng huy động vốn mở rộng sản xuất kinh doanh ngay cả khi thị
trường có những biến động bất lợi. Ngoài ra, doanh nghiệp đó còn tự chủ hơn về
vấn đề tài chính, ít chịu ảnh hưởng xấu của nền kinh tế, tận dụng được cơ hội mà
môi trường kinh doanh lành mạnh mang lại.
1.2.3.5. Chính sách của Nhà nước
Vai trò điều tiết của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường là điều tất yếu, các
chính sách vĩ mô và vi mô của Nhà nước tác động một phần không nhỏ tới hiệu
quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Từ cơ chế giao vốn, đánh giá tài sản cố định,
sự thay đổi các chính sách thuế, chính sách tín dụng, bảo hộ và khuyến khích nhập
một số loại nhất định đến các quy định của Nhà nước về phương hướng, định
hướng phát triển của các ngành nghề kinh tế đều có thể làm tăng hoặc giảm hiệu
quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Nếu Nhà nước khuyến khích tăng trưởng một
ngành nghề nào đó, Nhà nước sẽ đầu tư vốn để phát triển ngành, nhờ đó các doanh
nghiệp trong cùng một ngành dễ dàng huy động vốn hơn. Nếu Nhà nước tăng thuế
thu nhập doanh nghiệp sẽ khuyến khích các doanh nghiệp tăng sử dụng vốn vay để
tận dụng được phần tiết kiệm nhờ thuế. Chỉ một phần rất nhỏ trong chính sách của
Nhà nước cũng có những tác động to lớn tới nền kinh tế quốc dân nói chung và các
ngành nghề nói riêng. Do đó, các chính sách Nhà nước khi được soạn thảo để đưa
vào áp dụng cũng đều thu hút được sự chú ý của toàn bộ nền kinh tế và đều cần
phải được nghiên cứu kỹ lưỡng.
23
1.2.4. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong cơ chế thị trường
Các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh thường đặt ra nhiều
mục tiêu và tuỳ thuộc vào giai đoạn hay điều kiện cụ thể mà có những mục tiêu
được ưu tiên thực hiện nhưng tất cả đều nhằm mục đích cuối cùng là tối đa hoá giá
nước.
Như vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp không những
đem lại hiệu quả thiết thực cho doanh nghiệp và người lao động mà nó còn ảnh
24
hưởng đến sự phát triển của cả nền kinh tế và toàn xã hội. Do đó, các doanh nghiệp
phải luôn tìm ra các biện pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp.
Qua việc phân tích trên đây, có thể thấy rõ sự cần thiết mang tính tất yếu
khách quan phải bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp.
Để thực hiện được vấn đề này một trong các phương pháp hết sức quan trọng là
các doanh nghiệp phải thiết lập và nghiên cứu các đặc trưng tài chính của doanh
nghiệp thông qua các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI XI MĂNG
2.1. Giới thiệu chung về công ty
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Trong những năm gần đây,đất nước ta đổi mới và phát triển rất mạnh mẽ.
Đất nước đang trong thời kì Công Nghiệp Hóa – Hiện Đại Hóa, thể hiện qua kiến
trúc hạ tầng đô thị thay đổi từng ngày. Trong bối cảnh đó thì nhu cầu xây dựng nổi
lên là vấn đề cấp thiết,do đó nhu cầu về xi măng và các thiết bị xây dựng ngày
càng tăng cao.
25