LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp được coi như là những tế
bào của xã hội mà sự tồn tại và phát triển của chúng đóng vai trò quan trọng
đối với nền kinh tế quốc dân. Đối với các doanh nghiệp nói chung và công ty
cổ phần vật liệu xây dựng Thái Bình nói riêng thì sự phát triển của nó phụ
thuộc rất lớn vào hoạt động tài chính của bản thân doanh nghiệp hay nói cách
khác là phụ thuộc vào hiệu quả quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp
mình. Bởi vậy, trên cơ sở thực hiện các biện pháp chủ yếu về đổi mới cơ chế
quản lý kinh tế của nhà nước, đảm bảo quyền tự chủ và độc lập về mặt tài
chính đòi hỏi tất cả các doanh nghiệp phải có các biện pháp hợp lý sử dụng
nguồn vốn của mình một cách có hiệu quả nhất. Hiệu quả sử dụng vốn cao
hay thấp sẽ quyết định đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp trong
môt trường cạnh tranh quyết liệt hiện nay.
Cũng như nhiều doanh nghiệp khác, công ty cổ phần vật liệu xây dựng
Thái Bình đang phải đương đầu với những khó khăn về sản xuất, về quản lý
vốn và các nguồn lực khác. Vốn đầu tư của công ty tăng lên nhưng lợi nhuận
lại không tăng, thậm chí còn bị giảm.
Sau thời gian thực tập tại công ty cổ phần vật liệu xây dựng Thái Bình,
xuất phát từ tình hình thực tế của công ty, tôi đã chọn đề tài:
“Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần vật
liệu xây dựng Thái Bình” làm nội dung nghiên cứu của mình.
Với phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa lý luận với thực tiễn trên cơ sở
phân tích các hoạt động tài chính của công ty, bản luận văn này nhằm nêu rõ
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
bản chất và vai trò của vốn trong nền kinh tế thị trường, nguyên tắc và nội
dung trong công tác sử dụng vốn của doanh nghiệp, đồng thời đưa ra các giải
pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần vật liệu
xây dựng Thái Bình.
Luận văn được xây dựng thành 3 chương:
Chương I: Vốn và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Chương II: Thực trạng về tình hình sử dụng vốn tại công ty cổ phần vật
doanh. Vốn của doanh nghiệp được phản ánh trong bảng cân đối tài sản của
doanh nghiệp. Bất cứ doanh nghiệp nào cũng cần phải có một lượng vốn nhất
định để thực hiện những khoản đầu tư cần thiết như chi phí thành lập doanh
nghiệp, mua sắm nguyên vật liệu, trả lãi vay, nộp thuế… đảm bảo cho hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được liên tục, chi phí mua công
nghệ và máy móc thiết bị mới… để tái sản xuất mở rộng. Do vậy vốn đưa vào
sản xuất kinh doanh có nhiều hình thái vật chất khác nhau để từ đó tạo ra sản
phẩm hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ trên thị trường. Số tiền mà doanh nghiệp thu
về sau quá trình tiêu thụ phải bù đắp được chi phí đã bỏ ra và có lãi. Số tiền
ban đầu đã được tăng thêm nhờ hoạt động sản xuất kinh doanh. Quá trình này
diễn ra liên tục bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Còn trong nền kinh tế thị trường, vốn được coi là một loại hàng hóa. Nó
giống các hàng hóa khác ở chỗ có chủ sở hữu đích thực, song nó có đặc điểm khác
vì người sở hữu vốn có thể bán quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định.
Giá của quyền sử dụng vốn chính là lãi suất. Chính nhờ có sự tách rời quyền sở
hữu và quyền sử dụng nên vốn có thể lưu chuyển trong đầu tư kinh doanh và sinh
lời.
Dưới góc độ của doanh nghiệp, vốn là một trong những điều kiện vật
chất cơ bản kết hợp với sức lao động và các yếu tố khác làm đầu vào cho quá
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trình sản xuất kinh doanh. Sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong quá
trình sản xuất riêng biệt mà trong toàn bộ quá trình sản xuất và tái sản xuất
liên tục, suốt thời gian tồn tại của doanh nghiệp, từ khi bắt đầu quá trình sản
xuất dầu tiên đến chu kỳ sản xuất cuối cùng.
Tóm lại, do có rất nhiều quan niệm về vốn nên rất khó đưa ra được một
định nghĩa chính xác và hoàn chỉnh về vốn. Tuy nhiên có thể hiểu mọt cách
khái quát về vốn như sau:
Vốn của doanh nghiệp là toàn bộ những giá trị ứng ra ban đầu, tham gia
liên tục vào quá trình sản xuất kinh doanh với mục đích đem lại giá trị thặng dư.
B. Phân loại vốn:
doanh nghiệp đóng cửa. Tuy nhiên các chủ sở hữu có thể giảm vốn bằng cách
giảm vốn ngân sách nhà nước hay mua lại cổ phiêú... Chi phí vốn chủ sở hữu
là chi phí cơ hội cho việc sử dụng vốn. Trong trường hơp huy động vốn cổ
phần, chi phí vốn là lợi tức yêu cầu của các cỏ đông. Do tính dài hạn và gần
như không hoàn trả, vốn chủ sở hữu có độ an toàn rất cao.
- Vốn vay: Những tài trợ cho doanh nghiệp loại vốn này không phải là
chủ sở hữu doanh nghiệp. Đặc trưng của loại vốn này là doanh nghiệp phải
tiến hành hoàn trả vốn vay trong một thời gian nhất định. Chi phí vốn là lãi
phải trả cho các khoản nợ vay. Mức lãi xuất hay chi phí phải trả cho nợ vay
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thường ổn định và được thoả thuận trước khi vay. Huy động nợ vay rủi ro hơn
huy động vốn chủ sờ hữu song đôi khi các doanh nghiệp lại thích sử dụng nợ
vay do một đặc điểm hết sức quan trọng. Chi phí nợ vay được tính vào chi phí
hợp lí hợp lệ không phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Trong khi, lợi tức
dành cho chủ sở hữu được trả từ lợi nhuận sau thuế không được tính vào chi
phí hợp lí hợp lệ như nợ vay. Đăc điểm này hết sức quan trọng ảnh hưởng tới
việc hình thành cơ cấu vốn tối ưu với mục đích tối đa hoá giá trị vốn chủ sở
hữu.
Nhìn chung đây là hai cách phân loại rất cơ bản và phổ biến trong nền
kinh tế thị trường. Nó giúp cho người sử dụng có thể thấy được thực trạng tài
chính của doanh nghiệp khi xem xét về măt kinh tế. Về mặt pháp lí, người sử
dụng có thể thấy được trách nhiệm của doanh nghiệp về tổng số vốn đã đăng kí
kinh doanh với nhà nước, về số tài sản đã hình thành từ vốn vay ngân hàng...
Còn nhiều cách phân loại vốn khác như thành vốn cố định và vốn lưu động,
phân chia theo khoản mục. Mỗi cách phân loại sẽ phục vụ những mục đích nhất
định.
- Căn cứ vào vai trò và đặc điểm chu trình giá trị của vốn khi tham gia
vào quá trình kinh doanh có thể chia vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
thành 2 bộ phận: vốn cố định và vốn lưu động.
+ Vốn cố định của doanh nghiệp.
trình sản xuất đó nhằm duy trì năng lực sản xuất bình thường của doanh
nghiệp.
Chính đặc điểm vận động về hiện vật và giá trị tài sản cố định đã quyết
định đặc điểm lưu thông và chu chuyển của vốn cố định, đó là khi tham gia
vào quá trình sản xuất, vốn cố định đã bao gồm hai bộ phận.
- Một bộ phận tương ứng với giá trị hao mòn sẽ gia nhập vào giá thành
sản phẩm và được tích luỹ lại khi sản phẩm được tiêu thụ.
- Bộ phận thứ hai là phần giá trị còn lại của tài sản cố định chính từ đặc
điểm này của vốn cố định cũng như tài sản cố định mà khi đánh giá tài sản cố
định cần có các đại lượng như giá trị ban đầu (nguyên giá), giá trị còn lại của
tài sản cố định.
Để quản lý và sử dụng vốn cố định có hiệu quả cần nghiên cứu các
phương pháp phân loại và kết cấu tài sản cố định. Thông thường có các cách
phân loại sau:
- Phân loại tài sản cố định theo hình thức thái biểu hiện, theo phương
pháp này toàn bộ tài sản của doanh nghiệp được chia thành hai loại:
+ Tài sản cố định dùng trong sản xuất kinh doanh cơ bản: Là những tài sản
cố định vô hình và hữu hình trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và kinh
doanh cơ bản cuả doanh nghiệp như, nhà xưởng, phương tiện vận tải, vật kiến
trúc...
+ Tài sản cố định dùng ngoài sản xuất kinh doanh cơ bản: Là các tài sản
dùng cho sản xuất kinh doanh phụ trợ, nhà cửa máy móc thiết bị phục vụ sản
xuất phụ trợ và tài sản cố định cho thuê.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Phân loại tài sản cố định theo tình hình sử dụng: Theo phương pháp này,
căn cứ vào tình hình sử dụng của từng thời kỳ, tài sản cố định phân thành các
loại:
+ Tài sản cố định đang dùng
+ Tài sản cố định chưa cần dùng
+ Tài sản cố định không cần dùng và chờ thanh toán
năm) doanh nghiệp có thể sử dụng nhằm đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm
thời, bất thường phát sinh trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn
vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng.
Các khoản nợ ngắn hạn.
Việc phân loại này giúp cho người quản lý xem xét huy động các nguồn
vốn phù hợp với thời gian sử dụng của các yếu tố trong quá trình kinh doanh.
- Căn cứ vào phạm vi hoạt động có thể chia làm hai nguồn:
+ Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp: Là nguồn vốn có thể huy động từ
hoạt động của bản thân doanh nghiệp bao gồm tiền khấu hao tài sản cố định,
lợi nhuận để lại và các khoản dự trữ dự phòng, các khoản thu từ nhượng bán
thanh lý tài sản cố định.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
+ Nguồn vốn bên ngoài: là nguồn vốn có thể huy động như vay vốn của
ngân hàng và các tổ chức kinh tế khác, phát hành trái phiếu nợ người cung cấp
và các khoản nợ khác. Cách phân loại này chủ yếu giúp cho sự xem xét huy
động nguồn vốn của doanh nghiệp đang hoạt động.
1.1.1.2. Vai trò của vốn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải có một
lượng vốn nhất định đủ lớn như là một tiền đề quyết định, không có vốn sẽ
không có bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nào. Sẽ là không tưởng nếu
nghĩ rằng có thể tiến hành bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nào mà không
có vốn hoặc không đủ vốn. Nói một cách khác vốn có vai trò đặc biệt quan
trọng để bắt đầu, duy trì và phát triển hoạt động của doanh nghiệp.
Vốn là điều kiện không thể thiếu được để thành lập doanh nghiệp. Để bắt đầu
hoạt động sản xuất kinh doanh, trước hết doanh nghiệp cần mua sắm máy móc,
trang thiết bị, xây dựng nhà xưởng hay thuê công sở, mướn nhân công... Vì vậy
trong giai đoạn này, doanh nghiệp cần tới một lượng vốn rất lớn và phải huy động
vốn. Vốn là điều kiện cần thiết để doanh nghiệp chủ động thực hiện các dự án
mang lại lợi nhuận. Không có vốn thì các dự án sản xuất kinh doanh, các cơ
hội kinh doanh mang nhiều lợi nhuận sẽ bị bỏ lỡ và sẽ chỉ là dự định, kế
huy động vốn tối đa từ mọi nguồn với một chi phí thấp nhất và một cơ cấu tối ưu?.
1.2. Nguồn vốn và quản lý sử dụng vốn trong doanh nghiệp
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.2.1. Nguồn vốn của doanh nghiệp
1.2.2. Chi phí vốn và cơ cấu vốn của doanh nghiệp
1.2.2.1. Chi phí vốn.
Chi phí vốn là yếu tố đầu tiên có tác động quan trọng tới việc tạo lập
vốn của doanh nghiệp. Vốn là yếu tố cần thiết cho sản xuất. Cũng như bất
kỳ một yếu tố nào khác để sử dụng vốn, doanh nghiệp cần bỏ ra một chi phí
nhất định. Để tạo vốn, doanh nghiệp có thể huy động vốn từ các nguồn khác
nhau. Với mỗi một loại vốn cụ thể thì chi phí vốn chính là chi phí trả cho
nguồn vốn huy động. Nó được tính bằng số lợi nhuận cần phải đạt được
trên nguồn vốn huy động để giữ không làm thay đổi số lợi nhuận dành cho
chủ sở hữu. Với mỗi nguồn huy động khác nhau lại có cách tính chi phí
riêng. Vì vậy, trên thực tế, người ta phân loại chi phí vốn theo những nguồn
cụ thể. Thông thường, khi tính toán chi phí vốn, doanh nghiệp thường phần
chia vốn thành vốn chủ sở hữu và nợ vay.
- Chi phí nợ vay.
Chi phí nợ vay là chi phí trả cho nguồn vay nợ của doanh nghiệp. Nó
được phân ra thành chi phí nợ trước thuế và chi phí nợ sau thuế. Chi phí nợ
trước thuế (K
d
) được tính toán trên cơ sở lãi suất nợ vay. Lãi suất này được
ấn định trong hợp đồng tiền vay. Trên thực tế khoản chi phí nợ vay trước
thuế còn bao gồm cả các chi phí khác ngoài lãi tiền vay như chi phí làm hồ
sơ xin vay, chi phí đi lại... Những khoản chi phí này đôi khi là rất lớn. Tuy
nhiên về cơ bản, người ta vẫn hiểu chi phí nợ vay trước thuế là lãi tiền vay
trả cho chủ nợ. Chi phí nợ sau thuế K
d
(1-T) được sử dụng để tính chi phí
= D
1
/P
0
+ g.
Trong đó: K
s
: Chi phí của lợi nhuận không chia.
D
1
/P
0
: Mức sinh lời của cổ phiếu.
g: Tỷ lệ tăng trưởng mong đợi.
Chi phí của cổ phiếu thường mới (K
e
). Để các cổ đông cũ không bị giảm lợi
nhuận do phát hành cổ phiếu mới vì giãn lợi nhuận các khoản đầu tư mới
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
của doanh nghiệp phải mang lại một tỷ suất lợi nhuận sao cho cổ tức của
các cổ đông cũ ít nhất không bị giảm.
Với: P
n
: là giá thuần của một cổ phiếu.
K
e
: là chi phí của cổ phiếu mới.
D
t
: là cổ tức trong thời gian t (t = 1, 2, 3...)
không chia và phát hành cổ phiếu ưu tiên với tỷ trọng từng nguồn là W
d
, W
s
và W
p
thì chi phí vốn trung bình của doanh nghiệp (WACC) được tính theo
công thức:
WACC = W
d
K
d
(1-T) + W
p
K
p
+ W
s
K
s
Trong đó: Wd, Wp,Ws : lần lượt là tỉ trọng của từng nguồn là vay nợ,
phát hành cổ phiếu từ lợi nhuận không chia, phát hành cổ phiếu ưu tiên
Kd, Kp, Ks :Lần lượt là chi phí của từng nguồn
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Như vậy, với cơ cấu vốn khác nhau, mặc dù chi phí từng nguồn huy
động là giống nhau thì chi phí vốn trung bình là khác nhau. Việc tính toán
chi phí vốn trung bình rất quan trọng khi doanh nghiệp đứng trước quyết
định phải chấp nhận hay từ chối một dự án đầu tư. Nếu dự án có tỷ lệ hoàn
vốn nội bộ thấp hơn chi phí trung bình của vốn thì cần phải từ chối vì điều
đó có nghĩa là tỷ lệ thu nhập do đầu tư mang lại sẽ thấp hơn chi phí tài trợ
Doanh nghiệp sử dụng nợ sẽ có tác dụng khuếch đại giá trị vốn chủ sở hữu.
Vì vậy, doanh nghiệp nên tiếp tục sử dụng nợ vay.
ebit
Nếu < Lãi suất nợ vay: Hiệu ứng đòn bẩy âm.
Tổng tài sản
Doanh nghiệp cần có biện pháp giảm tỷ lệ nợ vay vì sử dụng nợ lúc này sẽ
làm giảm giá trị vốn chủ sở hữu.
Tuy nhiên, quản trị tài chính là một lĩnh vực quản trị hết sức linh hoạt. Vấn đề
cơ cấu vốn tối ưu cũng là một vấn đề rất linh hoạt. Với mỗi một doanh nghiệp
sẽ có một cơ cấu vốn tối ưu riêng phục vụ những mục tiêu riêng của từng doanh
nghiệp và mỗi doanh nghiệp tùy theo điều kiện hoàn cảnh của mình mà theo
đuổi cơ cấu vốn tối ưu đó. Vì thế cơ cấu vốn đã trở thành một yếu tố quan trọng
tác động tới quá trình tạo lập vốn của mỗi doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần
phải quan tâm đến bốn yếu tố tác động đến những quyết định về cơ cấu vốn khi
tạo lập vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Trước hết là rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp, đó là rủi ro cố hữu
trong tài sản của công ty nếu công ty không sử dụng nợ. Rủi ro kinh doanh
càng lớn, tỷ lệ nợ tối ưu càng thấp.
- Yếu tố chính yếu thứ hai là vấn đề thuế của doanh nghiệp. Một lý
do cơ bản cho việc sử dụng nợ là ở chỗ lãi vay được tính trong chi phí hợp
lý hợp lệ khi tính thuế thu nhập. Trong trường hợp thuế suất thuế thu nhập
cao thì công ty có lợi hơn khi sử dụng nợ.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Khả năng linh hoạt tài chính hay khả năng tăng vốn một cách hợp lý
trong điều kiện có tác động xấu. Những người quản lý tài chính biết rằng một
sự cung cấp vốn vững chắc là cần thiết cho những hoạt động ổn định và đến
lượt nó, đây là sự sống còn cho sự thành công dài hạn. Họ cũng biết rằng khi
một doanh nghiệp đang trải qua những khó khăn trong hoạt động, những nhà
cung cấp vốn muốn tăng cường tài trợ cho những doanh nghiệp có bảng cân đối
kế toán vững chắc. Như vậy, nhu cầu vốn tương lai và những hậu quả thiếu vốn
sản xuất ra các loại tài sản cố định mới sản xuất ra những sản phẩm có chất
lượng như cũ nhưng có giá thành hạ hơn.
Tài sản cố định bị giảm giá trị do sản xuất được loại tài sản cố định khác hoàn
thiện hơn về mặt kỹ thuật.
Tài sản cố định bị giảm giá trị do sản phẩm của nó làm ra bị lỗi thời.
- Khấu hao tài sản cố định :
Tài sản cố định được sử dụng trong nhiều chu kỳ sản xuất, giá trị của nó hao
mòn dần và được dịch chuyển từng phần và giá trị của sản phẩm làm ra. Phần
giá trị này được thu hồi lại dưới hình thức khấu hao, được hạch toán vào giá
thành sản phẩm để hình thành quỹ khấu hao đáp ứng nhu cầu sửa chữa lớn,
khắc phục, cải tạo, đổi mới, hoặc mở rộng tài sản cố định.
Khấu hao là sự bù đắp về mặt kinh tế hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Khấu hao có ý nghĩa quan trọng đối với bảo toàn và phát triển vốn, kết của của
hoạt động sản xuất kinh doanh. Thực hiện khấu hao đúng và đủ giá trị thực tế tài
sản cố định không những phản ánh đúng thực chất của kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh mà còn đảm bảo quỹ khấu hao, duy trì được số vốn bỏ ra.
Có hai hình thức khấu hao: khấu hao cơ bản và khấu hao sửa chữa lớn.
Tiền trích khấu hao cơ bản: dùng để bù đắp tài sản cố định sau khi bị đào thải
vì mất giá trị sử dụng. Nếu là Doanh nghiệp Nhà nước, Doanh nghiệp trích
một phần tiêu hao này vào Ngân sách Nhà nước, phần còn lại bổ sung vào quỹ
phát triển sản xuất theo hướng cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Các Doanh nghiệp
thuộc loại hình thức khác lập quỹ khấu hao cơ bản để duy trì hoạt động của
Doanh nghiệp và thực hiện yêu cầu tái sản xuất mở rộng.
Tiền khấu hao sửa chữa lớn: dùng để sửa chữa tài sản cố định một cách có kế
hoạch và có hệ thống nhằm duy trì khả năng sản xuất của tài sản cố định trong
suốt thời gian sử dụng. Doanh nghiệp tính một phần tiền khấu hao sửa chữa
lớn gửi vào một tài khoản riêng ở Ngân hàng để dùng làm nguồn vốn cho kế
hoạch sửa chữa tài sản cố định.
Tỷ lệ khấu hao là tỷ lệ phần trăm giữa tiền trích khấu hao hàng năm so
Doanh nghiệp vẫn tiếp tục tính khấu hao cơ bản và khấu hao sửa chữa lớn theo tỷ
lệ nguyên giá và hạch toán vào giá thành nhưng không hạch toán giảm vốn cố
định.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tài sản chưa khấu hao mà đã hư hỏng, Doanh nghiệp cần nộp vào Ngân
sách số tiền chưa khấu hao hết và phân bổ vào khoản lỗ cho đến khi nộp đủ.
Kế hoạch khấu hao tài sản cố định bao gồm:
Tài sản cố định không phải tính khấu hao cơ bản và khấu hao sửa chữa lớn
như đất đai.
Tài sản cố định tăng thêm trong năm kế hoạch, nếu tăng vào một ngày nào đó
của tháng thì tháng sau mới tính khấu hao.
Tài sản cố định giảm trong năm kế hoạch, nếu giảm bớt từ ngày nào đó trong
tháng thì tháng sau không phải tính khấu hao.
Công thức
Giá trị bình quân tài
sản cố định tăng
(giảm) trong năm
kế hoạch
=
Giá trị b/quân
TSCĐ tăng
(giảm) trong năm
x
Số tháng sẽ sử dụng
(không sử dụng)
TSCĐ
12
Tổng giá trị bình quân tài sản cố định phải tính khấu hao trong năm kế hoạch
được xác định theo công thức:
Tổng giá trị TSCĐ
mặt hiện vật và giá trị. Cụ thể, trong quá trình sử dụng tài sản cố định vào sản
xuất kinh doanh, Doanh nghiệp phải quản lý chặt chẽ không làm hư hỏng, mất
mát tài sản cố định, thực hiện đúng quy chế sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa
nhằm làm cho tài sản cố định không hư hỏng trước thời gian, duy trì nâng cao
năng lực hoạt động của tài sản cố định. Doanh nghiệp có quyền chủ động thực
hiện đổi mới, thay thế tài sản cố định theo yêu cầu đổi mới công nghệ, phát
triển và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định.
Nội dung của chế độ bảo toàn và phát triển vốn cố định bao gồm:
Các Doanh nghiệp xác định đúng nguyên giá tài sản cố định trên cơ sở tính
đúng, tính đủ khấu hao cơ bản và khấu hao sửa chữa lớn để tạo nguồn thay thế
và duy trì năng lực sản xuất của tài sản cố định bảo toàn vốn cố định.
Hàng năm, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ công bố hệ số điều chỉnh
giá trị tài sản cố định vào thời điểm 1/1 và 1/7 phù hợp với đặc điểm cơ cấu
hình thành tài sản cố định của từng ngành kinh tế - kỹ thuật làm căn cứ thống
nhất để các Doanh nghiệp điều chỉnh giá trị tài sản cố định, vốn cố định.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368