Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Vật liệu xây dựng Cầu Đuống - Sở Xây dựng Hà Nội - Pdf 24

1
Lời nói đầu

Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình cần phải có một lượng vốn tiền tệ nhất định. Đây có thể coi là
một tiền đề cần thiết cho việc hình thành và phát triển hoạt động sản xuất kinh
doanh của một doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp hiện nay hoạt động kinh doanh trong điều kiện của nền
kinh tế mở, với xu thế quốc tế hoá ngày càng cao, sự kinh doanh trên thị trường
ngày càng mạnh mẽ. Do vậy nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh, cho đầu tư
phát triển ngày càng lớn. Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải huy động cao độ
không những nguồn vốn bên trong mà phải tìm cách huy động nguồn vốn bên
ngoài, đồng thời phải bảo đảm sử dụng vốn một cách có hiệu quả nhằm đáp ứng
với nhu cầu đầu tư và phát triển, trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc tài chính,
tín dụng.
Cùng với sự đổi mới của nền kinh tế đất nước, với chủ trương phát triển
nền kinh tế nhiều thành phần, có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước theo định
hướng XHCN. Các doanh nghiệp lúc này được quyền tự chủ trong hoạt động
sản xuất kinh doanh, tự chủ bảo đảm vốn, đồng thời có trách nhiệm bảo toàn
vốn của mình. Nhờ đó, nhiều doanh nghiệp đã thích nghi kịp thời với tình hình
mới, hiệu quả sản xuất kinh doanh tăng lên rõ rệt. Nhưng, bên cạnh đó có không
ít các doanh nghiệp lúng túng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, làm ăn thua
lỗ, kéo dài, doanh thu không đủ bù chi phí bỏ ra, không bảo toàn được vốn dẫn
tới phá sản. Thực tế này là do nhiều nguyên nhân, một trong các nguyên nhân
quan trọng là công tác tổ chức và sử dụng vốn của doanh nghiệp còn nhiều hạn
chế, hiệu quả sử dụng vốn còn quá thấp.
Xuất phát từ vấn đề thực tiễn bức thiết đặt ra cho các doanh nghiệp hiện
nay là phải xác định và đáp ứng được nhu cầu vốn thường xuyên, cần thiết, tối
thiểu, phải xác định được doanh nghiệp mình hiện nay đang thừa hay thiếu vốn,
hiệu quả sử dụng vốn ra sao? Các giải pháp nào cần thực hiện để nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn của doanh nghiệp mình. Đây là vấn đề nóng bỏng có tính thời

là một đầu vào của quá trình sản xuất.
* Theo các nhà kinh tế học hiện đại: Vốn là biểu hiện bằng tiền, là giá trị
của tài sản mà doanh nghiệp đang nắm giữ. Vốn và tài sản là hai mặt giá trị và
hiện vật của một bộ phận nguồn lực sản xuất mà doanh nghiệp huy động vào
quá trình sản xuất kinh doanh của mình.
* Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, vốn được quan niệm là toàn bộ
những giá trị ứng ra ban đầu và các quá trình sản xuất tiếp theo của doanh
nghiệp.
Như vậy, vốn là yếu tố số một của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, nó
đòi hỏi các doanh nghiệp phải quản lý và sử dụng có hiệu quả để bảo toàn và
phát triển vốn, đảm bảo cho doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh. Vì vậy các
doanh nghiệp cần thiết phải nhận thức đầy đủ hơn về vốn cũng như những đặc
trưng của vốn.
2. Các đặc trưng cơ bản của vốn.
- Vốn phải đại diện cho một lượng tài sản nhất định: Có nghĩa là vốn được
biểu hiện bằng giá trị của tài sản hữu hình và tài sản vô hình của doanh nghiệp.
- Vốn phải vận động sinh lời, đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh
nghiệp.
- Vốn phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định mới có thể
phát huy tác dụng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
- Vốn có giá trị về mặt thời gian.
4
- Vốn phải được gắn liền với chủ sở hữu nhất định, không thể có đồng vốn
vô chủ.
- Vốn được quan niệm như một hàng hoá và là một hàng hoá đặc biệt có
thể mua bán quyền sử dụng vốn trên thị trường.
3. Phân loại vốn
Trong quá trình sản xuất kinh doanh để quản lý và sử dụng vốn một cách
có hiệu quả các doanh nghiệp đều tiến hành phân loại vốn.
Tuỳ vào mục đích và loại hình của từng doanh nghiệp mà mỗi doanh

Doanh nghiệp có thể phát hành trái phiếu, đây là một công cụ tài chính
quan trọng dễ sử dụng vào mục đích vay dài hạn đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất
kinh doanh. Việc phát hành trái phiếu cho phép doanh nghiệp có thể thu hút
rộng rãi số tiền nhàn rỗi trong xã hội để mở rộng hoạt động kinh doanh của
mình.
b. Vốn liên doanh liên kết:
Doanh nghiệp có thể liên doanh, liên kết, hợp tác với doanh nghiệp khác để
huy động thực hiện mở rộng hoạt động sản xuất - kinh doanh.
c. Vốn tín dụng thương mại:
Tín dụng thương mại là các khoản mục chịu từ người cung cấp hoặc ứng
trước của khách hàng mà doanh nghiệp tạm thời chiếm dụng. Đây là phương
thức tài trợ tiện lợi, linh hoạt trong kinh doanh và nó còn tạo khả năng mở rộng
các quan hệ hợp tác kinh doanh một cách lâu bền. Tuy nhiên các khoản tín dụng
thương mại thường có thời hạn ngắn nhưng nếu doanh nghiệp biết quản lý một
cách có khoa học có thể đáp ứng phần nào nhu cầu vốn lưu động cho doanh
nghiệp.
d. Vốn tín dụng thuê mua:
Đây là phương thức tài trợ thông qua hợp đồng thuê giữa người thuê và
người cho thuê. Người thuê được sử dụng tài sản và phải trả tiền cho người cho
thuê theo thời hạn mà hai bên thoả thuận, người cho thuê là người sở hữu tài sản
và nhận được tiền cho thuê tài sản.
Tín dụng thuê mua có hai phương thức giao dịch chủ yếu là thuê vận hành
và thuê tài chính.
* Thuê vận hành:
6
Phương thức thuê vận hành hay còn gọi là thuê hoạt động là một hình thức
thuê ngắn hạn tài sản.
* Thuê tài chính:
Thuê tài chính là một phương thức tài trợ tín dụng trung hạn và dài hạn
theo hợp đồng. Theo phương thức này, người cho thuê thường mua tài sản, thiết

là nó bị hao mòn và cùng với sự giảm dần về giá trị sử dụng thì giá trị của nó
cũng bị giảm đi theo đó, vốn cố định được tách thành hai bộ phận:
+ Bộ phận thứ nhất tương ứng với phần hao mòn của tài sản cố định được
luân chuyển và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm dưới hình thức chi phí khấu
hao và được tích luỹ thành quỹ khấu hao, sau khi sản phẩm hàng hoá được tiêu
thụ, quỹ khấu hao này sẽ được sử dụng để tái sản xuất tài sản cố định nhằm duy
trì năng lực sản xuất của doanh nghiệp.
+ Bộ phận thứ hai đó chính là phần còn lại của vốn cố định được gọi là giá
trị còn lại của tài sản cố định.
Sau mỗi một chu kỳ sản xuất phần vốn được luân chuyển vào giá trị sản
phẩm dần tăng lên, song phần vốn đầu tư ban đầu vào tài sản cố định lại dần
giảm xuống tương ứng với mức giảm dần giá trị sử dụng của tài sản cố định. Kết
thúc quá trình vận động đó cũng là lúc tài sản cố định hết thời gian sử dụng giá
trị của nó được dịch chuyển hết vào giá trị sản phẩm đã sản xuất, và khi đó vốn
cố định mới hoàn thành một vòng luân chuyển.
Trong các doanh nghiệp, vốn cố định là bộ phận quan trọng và chiếm tỷ
trọng tương đối lớn trong vốn đầu tư nói riêng, vốn sản xuất kinh doanh nói
chung. Do ở một vị trí then chốt và đặc điểm luân chuyển của nó lại tuân theo
quy luật riêng, nên việc quản lý vốn cố định đòi hỏi phải luôn gắn liền với việc
quản lý hình thái hiện vật của nó là các tài sản cố định vì điều này sẽ có ảnh
hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Bên cạnh các tư liệu lao động mà bộ phận quan trọng nhất là tài sản cố định
để tiến hành sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp còn cần có các đối tượng lao
động. Khác với tư liệu lao động, các đối tượng lao động chỉ tham gia vào một
chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái hiện vật ban đầu, giá trị của nó
được dịch chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm.
Vậy nếu xét về hình thái hiện vật thì các đối tượng lao động trên gọi là các
tài sản lưu động, còn về hình thái giá trị thì được gọi là vốn lưu động của doanh
nghiệp.

một lúc vốn lưu động của doanh nghiệp được phân bố trên khắp các giai đoạn
luân chuyển và chuyển hoá hình thái của vốn trong quá trình luân chuyển được
thuận lợi doanh nghiệp phải có đủ vốn lưu động đầu tư vào các hình thái khác
nhau.
4. Vai trò của vốn đối với các doanh nghiệp
Tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh dù với bất kỳ quy mô nào cũng
cần phải có một lượng vốn nhất định, nó là điều kiện tiền đề cho sự ra đời và
phát triển của các doanh nghiệp.
9
* Về mặt pháp lý: Mỗi doanh nghiệp khi muốn thành lập thì điều kiện đầu
tiên doanh nghiệp phải có một lượng vốn nhất định, lượng vốn đó tối thiểu phải
bằng lượng vốn pháp định, khi đó địa vị pháp lý của doanh nghiệp mới được xác
lập. Trường hợp trong quá trình hoạt động kinh doanh, vốn của doanh nghiệp
không đạt điều kiện mà pháp luật qui định doanh nghiệp sẽ bị tuyên bố chấm dứt
hoạt động như phá sản, giải thể, sát nhập,... Như vậy vốn có thể được xem là
một trong những cơ sở quan trọng nhất để đảm bảo sự tồn tại tư cách pháp nhân
của một doanh nghiệp trước pháp luật.
* Về kinh tế: Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn là một trong những
yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của từng doanh nghiệp. Vốn không
những đảm bảo khả năng mua sắm máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ để
phục vụ cho quá trình sản xuất mà còn đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh
doanh diễn ra thường xuyên, liên tục.
Vốn là yếu tố quan trọng quyết định đến năng lực sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp và xác lập vị thế của doanh nghiệp trên thương trường. Điều này
càng thể hiện rõ trong nền kinh tế thị trường hiện nay với sự cạnh tranh ngày
càng gay gắt, các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, đầu
tư hiện đại hoá công nghệ,... tất cả những yếu tố này muốn thành đạt được thì
đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn đủ lớn.
Vốn cũng là yếu tố quyết định đến việc mở rộng phạm vi hoạt động của
doanh nghiệp. Để có thể tiến hành tái sản xuất mở rộng thì sau một chu kỳ kinh

thước đo tiền tệ hay cụ thể là mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí
bỏ ra để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Kết quả thu được càng cao so
với chi phí vốn bỏ ra thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao.
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn có hai phương pháp để phân tích tài
chính cũng như phân tích hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp đó là phương
pháp so sánh và phương pháp phân tích tỷ lệ.
* Phương pháp so sánh:
Để áp dụng phương pháp so sánh cần phải đảm bảo các điều kiện so sánh
được của các chỉ tiêu tài chính (thống nhất về không gian, thời gian, nội dung,
tính chất và đơn vị hạch toán,...) và theo mục đích phân tích để chọn gốc so
sánh. Gốc so sánh được chọn là gốc về thời gian hoặc không gian, kỳ phân tích
được chọn là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch, giá trị so sánh có thể được chọn là số
tuyệt đối, số tương đói, hoặc số bình quân.
* Phương pháp tỷ lệ:
Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài
chính trong các quan hệ tài chính. Sự biến đổi các tỷ lệ cố nhiên là sự biến đổi
của các đại lượng tài chính. Về nguyên tắc phương pháp tỷ lệ yêu cầu phải xác
11
định được các ngưỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính
của doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ
lệ tham chiếu.
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp các tỷ lệ tài chính được phân thành
các nhóm tỷ lệ đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo mục tiêu hoạt
động của doanh nghiệp. Đó là các nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm tỷ
lệ cơ cấu vốn và nguồn vốn, nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động kinh doanh,
nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lời,... Mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm nhiều tỷ lệ phản
ánh riêng lẻ, từng bộ phận của hoạt động tài chính, trong mỗi trường hợp khác
nhau, tuỳ theo giác độ phân tích, người phân tích lựa chọn những nhóm chỉ tiêu
khác nhau phù hợp với mục đích phân tích.
2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp

nâng cao uy tín sản phẩm trên thị trường, nâng cao mức sống của người lao
động,... Vì khi hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận thì doanh nghiệp có thể
mở rộng quy mô sản xuất tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động và mức
sống của người lao động cũng ngày càng được cải thiện. Điều đó giúp cho năng
suất lao động của doanh nghiệp ngày càng nâng cao, tạo sự phát triển cho doanh
nghiệp và các ngành liên quan. Đồng thời nó cũng làm tăng các khoản đóng góp
cho ngân sách Nhà nước.
Như vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp không
những đem lại hiệu quả thiết thực cho doanh nghiệp và người lao động mà nó
còn ảnh hưởng đến sự phát triển của cả nền kinh tế và toàn xã hội. Do đó, các
doanh nghiệp phải luôn tìm ra các biện pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn của doanh nghiệp.
Qua việc phân tích trên đây, có thể thấy rõ sự cần thiết mang tính tất yếu
khách quan phải bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các doanh
nghiệp. Để thực hiện được vấn đề này một trong các phương pháp hết sức quan
trọng là các doanh nghiệp phải thiết lập và nghiên cứu các đặc trưng tài chính
của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn.
3. Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả sử dụng vốn.
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp một cách chung nhất
người ta thường dùng một số chỉ tiêu tổng quát như: Hiệu suất sử dụng tổng tài
sản, doanh lợi vốn, doanh lợi vốn chủ sở hữu.
+ Hiệu suất sử dụng tổng tài sản = Error!
Chỉ tiêu này còn được gọi là vòng quay của toàn bộ vốn, nó cho biết một
đồng tài sản đem lại bao nhiêu đồng doanh thu vì vậy nó càng lớn càng tốt.
+ Doanh lợi vốn = Error!
13
Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất được dùng để đánh giá khả năng sinh lợi của
một đồng vốn đầu tư. Chỉ tiêu này còn được gọi là tỷ lệ hoàn vốn đầu tư, nó cho
biết một đồng vốn đầu tư đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận.
+ Doanh lợi vốn chủ sở hữu = Error!


14
Hai chỉ tiêu này không những chỉ phản ánh sự tăng giảm thuần tuý về tài
sản cố định mà còn phản ánh trình độ tiến bộ khoa học kỹ thuật, tình hình đổi
mới trang thiết bị của doanh nghiệp.
Để đánh giá trực tiếp hiệu quả sử dụng vốn cố định, doanh nghiệp sử dụng
hai chỉ tiêu.
+ Hiệu suất sử dụng vốn cố định = Error!
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn cố định có thể tạo ra bao nhiêu
đồng doanh thu thuần.
+ Hiệu quả sử dụng vốn cố định = Error!
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn cố định bình quân trong kỳ sẽ tạo
ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Nó phản ánh khả năng sinh lời của vốn cố định, chỉ
tiêu này càng lớn càng tốt.
3.2. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả vốn lưu động
Khi phân tích đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động người ta thường
dùng các chỉ tiêu:
+ Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động = Error!
Chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra một đồng doanh thu thuần thì cần bao nhiêu
đồng vốn lưu động. Hệ số này càng nhỏ chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động
càng cao, số vốn tiết kiệm được càng nhiều và ngược lại.
+ Sức sinh lời của vốn lưu động = Error!
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng vốn lưu động tham gia vào hoạt động
sản xuất kinh doanh trong kỳ thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận, chỉ tiêu này
càng lớn càng tốt.
Đồng thời, để đánh giá về hiệu quả sử dụng vốn lưu động người ta cũng
đặc biệt quan tâm đến tốc độ luân chuyển vốn lưu động vì trong quá trình sản
xuất kinh doanh vốn lưu động vận động không ngừng qua các hình thái khác
nhau. Do đó, nếu đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn lưu động sẽ góp phần giải
quyết nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng

Chỉ tiêu này cho thấy để thu hồi được các khoản phải thu cần một thời gian
là bao nhiêu. Nếu số ngày này mà lớn hơn thời gian bán chịu quy định cho
khách hàng thì việc thu hồi các khoản phải thu là chậm và ngược lại số ngày qui
định bán chịu cho khách lớn hơn thời gian này thì có dấu hiệu chứng tỏ việc thu
hồi nợ đạt trước kế hoạch về thời gian.
Trên đây là các chỉ tiêu cơ bản được sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng
vốn tại các doanh nghiệp. Tuy nhiên trong quá trình quản lý hoạt động sản xuất
16
kinh doanh nói chung cũng như quản lý và sử dụng vốn nói riêng doanh nghiệp
luôn chịu tác động của rất nhiều các nhân tố. Do vậy khi phân tích, đánh giá để
đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thì doanh nghiệp phải xem
xét đến các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp cũng như ảnh hưởng gián tiếp tới hiệu
quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
4. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
4.1. Chu kỳ sản xuất.
Đây là một đặc điểm quan trọng gắn trực tiếp tới hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp. Nếu chu kỳ ngắn, doanh nghiệp sẽ thu hồi vốn nhanh nhằm tái
tạo, mở rộng sản xuất kinh doanh. Ngược lại, nếu chu kỳ sản xuất dài doanh
nghiệp sẽ chịu một gánh nặng ứ đọng vốn và lãi phải trả cho các khoản vay.
4.2. Kỹ thuật sản xuất.
Nếu kỹ thuật sản xuất đơn giản, doanh nghiệp dễ có điều kiện sử dụng máy
móc thiết bị nhưng lại phải luôn đối phó với các đối thủ cạnh tranh và yêu cầu
của khách hàng ngày càng cao về sản phẩm. Do vậy doanh nghiệp dễ dàng tăng
doanh thu, lợi nhuận trên vốn cố định nhưng khó giữ được chỉ tiêu này lâu dài.
Nếu kỹ thuật sản xuất phức tạp, trình độ trang bị máy móc thiết bị cao doanh
nghiệp có lợi thế trong cạnh tranh song đòi hỏi công nhân có tay nghề, chất
lượng nguyên liệu cao sẽ làm giảm lợi nhuận trên vốn cố định.
4.3. Đặc điểm của sản phẩm.
Sản phẩm của doanh nghiệp là nơi chức đựng chi phí và việc tiêu thụ sản
phẩm mang lại doanh thu cho doanh nghiệp qua đó quyết định lợi nhuận cho

như nguyên vật liệu, lao động,... nó bao gồm các hoạt động mua và dự trữ. Một
doanh nghiệp tổ chức hoạt động kinh doanh tốt tức là doanh nghiệp đó phải xác
định được lượng nguyên vật liệu phù hợp của từng loại với chi phí thấp nhất và
mức dự trữ tối ưu đảm bảo cho quá trình sản xuất không bị gián đoạn.
- Khâu sản xuất: trong giai đoạn này phải sắp xếp dây chuyền sản xuất
cũng như công nhân sao cho sử dụng máy móc thiết bị có hiệu quả nhất khai
thác tối đa công suất, thời gian làm việc của máy đảm bảo kế hoạch sản xuất sản
phẩm.
- Khâu tiêu thụ sản phẩm: là khâu quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, doanh nghiệp phải xác định giá bán tối ưu
đồng thời cũng phải có những biện pháp thích hợp để thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm
nhanh chóng. Khâu này quyết định đến doanh thu, là cơ sở để doanh nghiệp tái
sản xuất.
18
4.7. Trình độ quản lý và sử dụng các nguồn vốn
Đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp. Công cụ chủ yếu để theo dõi, quản lý sử dụng vốn là hệ thống kế toán -
tài chính. Công tác kế toán thực hiện tốt sẽ đưa ra các số liệu chính xác giúp cho
lãnh đạo nắm được tình hình tài chính của doanh nghiệp nói chung cũng như
việc sử dụng vốn nói riêng trên cơ sở đó ra quyết định đúng đắn. Mặt khác, đặc
điểm hạch toán, kế toán nội bộ doanh nghiệp luôn gắn với tính chất tổ chức sản
xuất của doanh nghiệp nên cũng tác động tới việc quản lý vốn. Vì vậy thông qua
công tác kế toán mà thường xuyên kiểm tra tình hình sử dụng vốn của doanh
nghiệp, sớm tìm ra những điểm tồn tại để có biện pháp giải quyết.
4.8. Các nhân tố khác
- Cách chính sách vĩ mô của Nhà nước: Vai trò điều tiết của Nhà nước
trong nền kinh tế thị trường là điều tất yếu nhưng các chính sách vĩ mô của Nhà
nước tác động một phần không nhỏ tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Cụ thể hơn từ cơ chế giao vốn, đánh giá tài sản cố định, sự thay đổi các chính
sách thuế, chính sách tín dụng, bảo hộ và khuyến khích nhập một số loại nhất


I. MỘT SỐ NÉT KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY VẬT LIỆU XÂY DỰNG
CẦU ĐUỐNG
1. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của công ty Vật liệu xây
dựng Cầu Đuống
Tiền thân của công ty Vật liệu xây dựng Cầu Đuống là cơ sở sản xuất gạch
ngói của nhà tư sản Hưng Ký được thành lập từ thời Pháp thuộc. Cơ sở nằm
cách Hà Nội về phía Bắc 10Km ngay cạnh bờ sông Đuống và ngã 3 Hà Nội -
Bắc Ninh - Thái Nguyên.
Năm 1958 Nhà nước ta đã tiếp quản dây chuyền sản xuất của nhà tư sản
Hưng Ký và thành lập xí nghiệp hợp doanh giữa Nhà nước và nhà tư sản Hưng
Ký. Với nhiệm vụ chủ yếu là sản xuất các sản phẩm phục vụ xây dựng như gạch
nung, ngói nung,...
Bước vào thời kỳ đổi mới để đứng vững và phát triển Nhà nước đã quyết
định thành lập doanh nghiệp Nhà nước theo Quyết định 3352/QĐ-UB ngày
22/12/1992 mang tên Xí nghiệp gạch ngói Cầu Đuống với nhiệm vụ chủ yếu là
sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng, sản phẩm của xí nghiệp chủ yếu là
gạch, ngói phục vụ xây dựng.
Năm 1995 để đáp ứng nhu cầu về vật liệu xây dựng, UBND thành phố Hà
Nội đã ra Quyết định 130/QĐ-UB ngày 20/01/1995 về việc đổi tên và xác định
lại nhiệm vụ của xí nghiệp.
Từ đó xí nghiệp mang tên công ty Vật liệu xây dựng Cầu Đuống.
Trụ sở của công ty chuyển về Km 14 quốc lộ số 3 - Mai Lâm - Đông Anh -
Hà Nội.
Số điện thoại: 8.832346 - 8.832711 - 8.780036
21
Số Fax: 8.800258
Công ty Vật liệu xây dựng Cầu Đuống là một doanh nghiệp Nhà nước trực
thuộc Sở Xây dựng Hà Nội, là tổ chức kinh tế cơ sở, có tư cách pháp nhân, sản
xuất kinh doanh theo nhiệm vụ Nhà nước giao, hạch toán kinh tế độc lập, có tài

máy giúp việc. Giám đốc xí nghiệp do công ty bổ nhiệm và chịu trách nhiệm
trước Giám đốc công ty về kết quả hoạt động của xí nghiệp.
Các phòng ban của công ty hoạt động theo chức năng tham mưu giúp việc
giám đốc, được giao nhiệm vụ cụ thể trong các lĩnh vực công tác. Mối quan hệ
giữa các phòng ban là mối quan hệ phối hợp, cộng đồng trách nhiệm nhằm tham
mưu giúp giám đốc chỉ đạo sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao.
Quan hệ giữa các phòng ban và các xí nghiệp thành viên là quan hệ ngang
có tính chất hữu cơ, có sự tác động qua lại vì vậy phải có sự phối hợp chặt chẽ
và đồng bộ nhằm tạo điều kiện để các xí nghiệp hoàn thành toàn diện các chỉ
tiêu kinh tế kỹ thuật. Mặt khác thông qua đó các phòng ban cũng thực hiện tốt
nhiệm vụ của mình là hướng dẫn giúp đỡ xí nghiệp về công tác nghiệp vụ, quản
lý theo chức năng đã được phân công.
2.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức công ty Vật liệu xây dựng Cầu Đuống
Phòng
Kế hoạch -

Kỹ thuật -
an ninh
Phó giám đốc
Kinh doanh
Giám đốc công ty
23

2.2. Cơ cấu tổ chức của công ty
Đứng đầu công ty là Ban giám đốc, giúp việc cho giám đốc là ba phó giám
đốc dưới là các phòng ban nghiệp vụ, các xí nghiệp thành viên làm nhiệm vụ sản
xuất hay phục vụ sản xuất.
2.2.1. Ban giám đốc gồm có:
+ Giám đốc công ty: vừa đại diện cho Nhà nước, vừa đại diện cho công
nhân viên chức, quản lý công ty theo chế độ thủ trưởng, có quyền quyết định
điều hành mọi hoạt động của công ty theo đúng kế hoạch, chính sách, pháp luật
Nhà nước và Nghị quyết Đại hội công nhân viên chức. Chịu trách nhiệm trước
Nhà nước và tập thể công nhân lao động về kết quả sản xuất kinh doanh của
công ty.
Giám đốc công ty phụ trách chung và trực tiếp chỉ đạo.
- Công tác tổ chức bộ máy quản lý, công tác cán bộ, tuyển dụng lao động.
- Công tác tài chính kế toán.
- Ký các văn bản báo cáo cấp trên văn bản pháp quy nội bộ.
- Ký các quy định về định mức kinh tế kỹ thuật, đơn giá tiền lương định kỳ
báo cáo Đảng uỷ về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
- Ký kết các hợp đồng kinh tế.
- Ký duyệt các chứng từ chi tiền.
- Làm việc với công đoàn về quyền lợi nghĩa vụ của người lao động và
những việc phát sinh trong vấn đề thực hiện thoả ước lao động.
+ Phó giám đốc kế hoạch tiền lương: Thay mặt giám đốc điều hành phòng
kế hoạch - vật tư, phòng tổ chức hành chính và trực tiếp chỉ đạo:

Chức năng của phòng là giúp giám đốc công ty về công tác kế hoạch hoá
và điều độ sản xuất, tổ chức cung cấp vật tư phục vụ sản xuất kinh doanh.
Nhiệm vụ: căn cứ vào khả năng, năng lực của công ty và nhu cầu của thị
trường để lập kế hoạch sản xuất, kỹ thuật, vật tư,... cho giám đốc công ty.
* Phòng kỹ thuật công nghệ: chịu sự chỉ đạo của phó giám đốc kỹ thuật -
an ninh, là phòng giúp giám đốc công ty triển khai công tác kỹ thuật công nghệ
sản xuất, kỹ thuật máy móc thiết bị. Triển khai công tác an toàn vệ sinh công
nghiệp, chuyển giao công nghệ sản xuất vật liệu xây dựng.
25
* Phòng bảo vệ: trực thuộc phó giám đốc kỹ thuật - an ninh.
Phòng có chức năng giúp giám đốc công ty triển khai tổ chức công tác bảo
vệ pháp chế và công tác quân sự trong công ty, và có nhiệm vụ lập kế hoạch
triển khai công tác bảo vệ, huấn luyện quân sự hàng năm, phòng cháy chữa
cháy,...
2.2.3. Các xí nghiệp thành viên
* Xí nghiệp gốm xây dựng Cầu Đuống và gốm xây dựng Mai Lâm.
Đứng đầu xí nghiệp là giám đốc xí nghiệp là người chịu trách nhiệm trước
giám đốc về toàn bộ kết quả sản xuất kinh doanh của xí nghiệp.
Là đơn vị sản xuất ra sản phẩm vật liệu xây dựng. Căn cứ vào nhiệm vụ kế
hoạch được công ty giao cho xí nghiệp tổ chức mọi hoạt động sản xuất trên cơ
sở khoán gọn tiền lương.
* Xí nghiệp xây lắp:
Đứng đầu xí nghiệp là giám đốc xí nghiệp là người chịu trách nhiệm trước
giám đốc về kết quả kinh doanh của xí nghiệp.
Xí nghiệp có chức năng thực thi xây dựng công trình, lắp đặt thiết bị công
nghệ. Có nhiệm vụ xây dựng các công trình kỹ thuật hạ tầng, công trình dân
dụng, công trình công nghiệp qui mô vừa và nhỏ, khảo sát tổ chức thi công lắp
đặt thiết bị các công trình trên cơ sở dự toán và thiết kế được phê duyệt.
* Xí nghiệp kinh doanh vật liệu và xây dựng kỹ thuật hạ tầng.
Đứng đầu xí nghiệp là giám đốc xí nghiệp là người được giám đốc công ty


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status