Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần vật liệu xây dựng Thái Bình - Pdf 29

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp được coi như là những tế
bào của xã hội mà sự tồn tại và phát triển của chúng đóng vai trò quan trọng
đối với nền kinh tế quốc dân. Đối với các doanh nghiệp nói chung và công ty
cổ phần vật liệu xây dựng Thái Bình nói riêng thì sự phát triển của nó phụ
thuộc rất lớn vào hoạt động tài chính của bản thân doanh nghiệp hay nói cách
khác là phụ thuộc vào hiệu quả quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp
mình. Bởi vậy, trên cơ sở thực hiện các biện pháp chủ yếu về đổi mới cơ chế
quản lý kinh tế của nhà nước, đảm bảo quyền tự chủ và độc lập về mặt tài
chính đòi hỏi tất cả các doanh nghiệp phải có các biện pháp hợp lý sử dụng
nguồn vốn của mình một cách có hiệu quả nhất. Hiệu quả sử dụng vốn cao
hay thấp sẽ quyết định đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp trong
môt trường cạnh tranh quyết liệt hiện nay.
Cũng như nhiều doanh nghiệp khác, công ty cổ phần vật liệu xây dựng
Thái Bình đang phải đương đầu với những khó khăn về sản xuất, về quản lý
vốn và các nguồn lực khác. Vốn đầu tư của công ty tăng lên nhưng lợi nhuận
lại không tăng, thậm chí còn bị giảm.
Sau thời gian thực tập tại công ty cổ phần vật liệu xây dựng Thái Bình,
xuất phát từ tình hình thực tế của công ty, tôi đã chọn đề tài:
“Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần vật
liệu xây dựng Thái Bình” làm nội dung nghiên cứu của mình.
Với phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa lý luận với thực tiễn trên cơ sở
phân tích các hoạt động tài chính của công ty, bản luận văn này nhằm nêu rõ
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
bản chất và vai trò của vốn trong nền kinh tế thị trường, nguyên tắc và nội
dung trong công tác sử dụng vốn của doanh nghiệp, đồng thời đưa ra các giải
pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần vật liệu
xây dựng Thái Bình.
Luận văn được xây dựng thành 3 chương:

để sản xuất ra các hàng hóa khác, vốn tài chính là các tiền và các giấy tờ có
giá của doanh ngiệp. Trong định nghĩa của mình, tác giả đã đồng nhất vốn với
tài sản của doanh nghiệp. Tuy nhiên, thực chất vốn của doanh nghiệp là biểu
hiện bằng tiền của tất cả tài sản của doanh nghiệp dùng trong sản xuất kinh
doanh. Vốn của doanh nghiệp được phản ánh trong bảng cân đối tài sản của
doanh nghiệp. Bất cứ doanh nghiệp nào cũng cần phải có một lượng vốn nhất
định để thực hiện những khoản đầu tư cần thiết như chi phí thành lập doanh
nghiệp, mua sắm nguyên vật liệu, trả lãi vay, nộp thuế… đảm bảo cho hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được liên tục, chi phí mua công
nghệ và máy móc thiết bị mới… để tái sản xuất mở rộng. Do vậy vốn đưa vào
sản xuất kinh doanh có nhiều hình thái vật chất khác nhau để từ đó tạo ra sản
phẩm hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ trên thị trường. Số tiền mà doanh nghiệp thu
về sau quá trình tiêu thụ phải bù đắp được chi phí đã bỏ ra và có lãi. Số tiền
ban đầu đã được tăng thêm nhờ hoạt động sản xuất kinh doanh. Quá trình này
diễn ra liên tục bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Còn trong nền kinh tế thị trường, vốn được coi là một loại hàng hóa. Nó
giống các hàng hóa khác ở chỗ có chủ sở hữu đích thực, song nó có đặc điểm khác
vì người sở hữu vốn có thể bán quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định.
Giá của quyền sử dụng vốn chính là lãi suất. Chính nhờ có sự tách rời quyền sở
hữu và quyền sử dụng nên vốn có thể lưu chuyển trong đầu tư kinh doanh và sinh
lời.
Dưới góc độ của doanh nghiệp, vốn là một trong những điều kiện vật
chất cơ bản kết hợp với sức lao động và các yếu tố khác làm đầu vào cho quá
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
trình sản xuất kinh doanh. Sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong quá
trình sản xuất riêng biệt mà trong toàn bộ quá trình sản xuất và tái sản xuất
liên tục, suốt thời gian tồn tại của doanh nghiệp, từ khi bắt đầu quá trình sản
xuất dầu tiên đến chu kỳ sản xuất cuối cùng.
Tóm lại, do có rất nhiều quan niệm về vốn nên rất khó đưa ra được một

được chia thành nợ vay và vốn của chủ sở hữu. Đây là cách phân loại cơ bản
và phổ biến trong nền kinh tế thị trường. Hai loại vốn này có mối quan hệ đặc
biệt với nhau khi chúng ta xem xét cơ cấu vốn tối ưu của doanh nghiệp.
- Vốn của chủ sở hữu: Là loại vốn do các chủ sở hữu của doanh nghiệp
tài trợ và giữ lại phần lợi nhuận chưa phân phối. Đối với các loại vốn này
doanh nghiệp không phải hoàn trả những khoản tiền đã huy động được trừ khi
doanh nghiệp đóng cửa. Tuy nhiên các chủ sở hữu có thể giảm vốn bằng cách
giảm vốn ngân sách nhà nước hay mua lại cổ phiêú... Chi phí vốn chủ sở hữu
là chi phí cơ hội cho việc sử dụng vốn. Trong trường hơp huy động vốn cổ
phần, chi phí vốn là lợi tức yêu cầu của các cỏ đông. Do tính dài hạn và gần
như không hoàn trả, vốn chủ sở hữu có độ an toàn rất cao.
- Vốn vay: Những tài trợ cho doanh nghiệp loại vốn này không phải là
chủ sở hữu doanh nghiệp. Đặc trưng của loại vốn này là doanh nghiệp phải
tiến hành hoàn trả vốn vay trong một thời gian nhất định. Chi phí vốn là lãi
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
phải trả cho các khoản nợ vay. Mức lãi xuất hay chi phí phải trả cho nợ vay
thường ổn định và được thoả thuận trước khi vay. Huy động nợ vay rủi ro hơn
huy động vốn chủ sờ hữu song đôi khi các doanh nghiệp lại thích sử dụng nợ
vay do một đặc điểm hết sức quan trọng. Chi phí nợ vay được tính vào chi phí
hợp lí hợp lệ không phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Trong khi, lợi tức
dành cho chủ sở hữu được trả từ lợi nhuận sau thuế không được tính vào chi
phí hợp lí hợp lệ như nợ vay. Đăc điểm này hết sức quan trọng ảnh hưởng tới
việc hình thành cơ cấu vốn tối ưu với mục đích tối đa hoá giá trị vốn chủ sở
hữu.
Nhìn chung đây là hai cách phân loại rất cơ bản và phổ biến trong nền
kinh tế thị trường. Nó giúp cho người sử dụng có thể thấy được thực trạng tài
chính của doanh nghiệp khi xem xét về măt kinh tế. Về mặt pháp lí, người sử
dụng có thể thấy được trách nhiệm của doanh nghiệp về tổng số vốn đã đăng kí
kinh doanh với nhà nước, về số tài sản đã hình thành từ vốn vay ngân hàng...

đến khi bằng giá trị ban đầu của tài sản cố định thì kết thúc quá trình vận
động. Như vậy khi tham gia vào quá trình sản xuất nói chung tài sản cố định
không bị thay đổi hình thái hiện vật nhưng tính năng công suất thì bị giảm
dần, tức là bị hao mòn và cùng với sự giảm dần về giá trị sử dụng thì giá trị
của nó cũng giảm đi. Bộ phận giá trị hao mòn đó đã chuyển vào giá trị sản
phẩm sản xuất ra và được tính vào chi phí khấu hao. Quỹ khấu hao dùng để tái
sản xuất tài sản cố định khi chúng bị hư hỏng hoàn toàn phải loại ra khỏi quá
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
trình sản xuất đó nhằm duy trì năng lực sản xuất bình thường của doanh
nghiệp.
Chính đặc điểm vận động về hiện vật và giá trị tài sản cố định đã quyết
định đặc điểm lưu thông và chu chuyển của vốn cố định, đó là khi tham gia
vào quá trình sản xuất, vốn cố định đã bao gồm hai bộ phận.
- Một bộ phận tương ứng với giá trị hao mòn sẽ gia nhập vào giá thành
sản phẩm và được tích luỹ lại khi sản phẩm được tiêu thụ.
- Bộ phận thứ hai là phần giá trị còn lại của tài sản cố định chính từ đặc
điểm này của vốn cố định cũng như tài sản cố định mà khi đánh giá tài sản cố
định cần có các đại lượng như giá trị ban đầu (nguyên giá), giá trị còn lại của
tài sản cố định.
Để quản lý và sử dụng vốn cố định có hiệu quả cần nghiên cứu các
phương pháp phân loại và kết cấu tài sản cố định. Thông thường có các cách
phân loại sau:
- Phân loại tài sản cố định theo hình thức thái biểu hiện, theo phương
pháp này toàn bộ tài sản của doanh nghiệp được chia thành hai loại:
+ Tài sản cố định dùng trong sản xuất kinh doanh cơ bản: Là những tài sản
cố định vô hình và hữu hình trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và kinh
doanh cơ bản cuả doanh nghiệp như, nhà xưởng, phương tiện vận tải, vật kiến
trúc...
+ Tài sản cố định dùng ngoài sản xuất kinh doanh cơ bản: Là các tài sản

lưu động có thể chia thành:
- Vốn vật tư hàng hoá, vốn nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ
- Vốn tiền tệ: Gồm vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán.
- Căn cứ vào thời gian hoạt động và sử dụng vốn có thể chia nguồn vốn
của doanh nghiệp thành hai loại:
+ Nguồn vốn thường xuyên: là tổng thể các nguồn vốn có tính chất ổn
định và dài hạn mà doanh nghiệp có thể sử dụng. Nguồn vốn này được dành
cho việc hình thành các tài sản cố định và một bộ phận tài sản lưu động tối
thiểu cần thiết cho hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn thường xuyên bao gồm
chủ sở hữu và các khoản vay dài hạn.
+ Nguồn vốn tạm thời: là các nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới 1
năm) doanh nghiệp có thể sử dụng nhằm đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm
thời, bất thường phát sinh trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn
vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng.
Các khoản nợ ngắn hạn.
Việc phân loại này giúp cho người quản lý xem xét huy động các nguồn
vốn phù hợp với thời gian sử dụng của các yếu tố trong quá trình kinh doanh.
- Căn cứ vào phạm vi hoạt động có thể chia làm hai nguồn:
+ Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp: Là nguồn vốn có thể huy động từ
hoạt động của bản thân doanh nghiệp bao gồm tiền khấu hao tài sản cố định,
lợi nhuận để lại và các khoản dự trữ dự phòng, các khoản thu từ nhượng bán
thanh lý tài sản cố định.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
+ Nguồn vốn bên ngoài: là nguồn vốn có thể huy động như vay vốn của
ngân hàng và các tổ chức kinh tế khác, phát hành trái phiếu nợ người cung cấp
và các khoản nợ khác. Cách phân loại này chủ yếu giúp cho sự xem xét huy
động nguồn vốn của doanh nghiệp đang hoạt động.
1.1.1.2. Vai trò của vốn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải có một

trường vốn.
Chuyển sang nền kinh tế thị trường, các khoản bao cấp về vốn qua cấp
phát của ngân sách Nhà nước không còn nữa, doanh nghiệp Nhà nước phải tự
trang trải mọi chi phí và đảm bảo kinh doanh có lãi, phải tổ chức và sử dụng
đồng vốn có hiệu quả. Mặt khác doanh nghiệp phải bảo toàn số vốn được giao
kể cả khi có trượt giá, phải chủ động tìm kiếm bạn hàng, đầu tư đổi mới trong
hoạt động kinh doanh. Nếu không làm cho vốn sinh sôi nảy nở, không bảo
toàn và phát triển vốn tất yếu sẽ ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp, nguy cơ phá sản là khó tránh khỏi.
Với vai trò quan trọng to lớn như vậy nên việc bảo tồn và tăng trưởng vốn là
một nguyên lí, là điều kiện đảm bảo cho sự phát triển lành mạnh của doanh
nghiệp. Chính vì vậy mà một trong những vấn đề mà các doanh nghiệp luôn trăn
trở là: Doanh nghiệp nên tạo vốn bằng cách nào? Làm thế nào doanh nghiệp có thể
huy động vốn tối đa từ mọi nguồn với một chi phí thấp nhất và một cơ cấu tối ưu?.
1.2. Nguồn vốn và quản lý sử dụng vốn trong doanh nghiệp
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
1.2.1. Nguồn vốn của doanh nghiệp
1.2.2. Chi phí vốn và cơ cấu vốn của doanh nghiệp
1.2.2.1. Chi phí vốn.
Chi phí vốn là yếu tố đầu tiên có tác động quan trọng tới việc tạo lập
vốn của doanh nghiệp. Vốn là yếu tố cần thiết cho sản xuất. Cũng như bất
kỳ một yếu tố nào khác để sử dụng vốn, doanh nghiệp cần bỏ ra một chi phí
nhất định. Để tạo vốn, doanh nghiệp có thể huy động vốn từ các nguồn khác
nhau. Với mỗi một loại vốn cụ thể thì chi phí vốn chính là chi phí trả cho
nguồn vốn huy động. Nó được tính bằng số lợi nhuận cần phải đạt được
trên nguồn vốn huy động để giữ không làm thay đổi số lợi nhuận dành cho
chủ sở hữu. Với mỗi nguồn huy động khác nhau lại có cách tính chi phí
riêng. Vì vậy, trên thực tế, người ta phân loại chi phí vốn theo những nguồn
cụ thể. Thông thường, khi tính toán chi phí vốn, doanh nghiệp thường phần


n
P
p
D
=
p
K
Trong đó: KP- Chi phí của cổ phiếu ưu tiên
DP- Cổ tức ưu tiên
Pn- Gía phát hành thuần
Chi phí của lợi nhuận không chia: Nó chính là tỷ lệ đổi tức mà người nắm
giữ cổ phiếu thông thường yêu cầu đối với cổ phần mà công ty đạt được
bằng lợi nhuận không chia được xác định bằng công thức K
s
= D
1
/P
0
+ g.
Trong đó: K
s
: Chi phí của lợi nhuận không chia.
D
1
/P
0
: Mức sinh lời của cổ phiếu.
g: Tỷ lệ tăng trưởng mong đợi.
Chi phí của cổ phiếu thường mới (K

g +
F)-(1
0
P
1
D
=
e
K

Thông thường, các doanh nghiệp đặt tiêu chí chi phí vốn lên hàng
đầu, tận dụng triệt để các nguồn vốn có chi phí thấp sau đó mới xét đến khả
năng cung ứng các nguồn vốn, thời gian sử dụng... Vì vậy tính toán chi phí
vốn sẽ giúp cho doanh nghiệp thấy được cách thức huy động nào có chi phí
thấp hơn, từ đó xác định chiến lược khai thác nguồn vốn của doanh nghiệp.
Ngoài ra các doanh nghiệp còn tính toán chi phí vốn trung bình dựa
trên cơ cấu vốn và chi phí từng nguồn vốn. Chẳng hạn một doanh nghiệp
tạo lập vốn từ ba nguồn: vay nợ, phát hành cổ phiếu thường từ lợi nhuận
không chia và phát hành cổ phiếu ưu tiên với tỷ trọng từng nguồn là W
d
, W
s
và W
p
thì chi phí vốn trung bình của doanh nghiệp (WACC) được tính theo
công thức:
WACC = W
d
K
d

vốn tối ưu, đảm bảo một tỷ lệ hợp lý giữa vốn chủ sở hữu và nợ vay sao cho
lợi ích thu được là cao nhất. Đó là cơ cấu hướng tới sự cân bằng giữa rủi ro
và lãi suất, bằng cách đó tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp. Trong điều
kiện nền kinh tế phát triển, sử dụng một tỷ lệ vốn chủ sở hữu cao sẽ là
không linh hoạt. Huy động vốn từ nợ vay sẽ giúp cho doanh nghiệp khuếch
đại giá trị vốn chủ sở hữu do nợ vay không phải chịu thuế thu nhập. Ngược
lại, trong trường hợp nền kinh tế đi xuống, sử dụng quá nhiều nợ với tỷ lệ
nợ của cơ cấu vốn tối ưu sẽ khiến cho doanh nghiệp rơi vào tình trạng hiệu
ứng đòn bẩy âm: sử dụng nợ sẽ làm giảm giá trị tài sản thuộc chủ sở hữu.
Vì vậy, khi tiến hành huy động tạo lập vốn, các doanh nghiệp luôn chú ý
xây dựng một cơ cấu vốn tối ưu. Tiêu chuẩn để đánh giá nên tăng hay giảm
sử dụng nợ là tương quan so sánh giữa doanh lợi vốn và lãi suất nợ vay
trước thuế. Doanh lợi vốn được xác định bằng công thức như sau:
Lợi nhuận trước thuế và lã vay/ Tổng tài sản
Doanh lợi vốn =
Hay ( ebit / Tổng tài sản)
ebit
Nếu > Lãi suất nợ vay: Hiệu ứng đòn bẩy dương.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Tổng tài sản
Doanh nghiệp sử dụng nợ sẽ có tác dụng khuếch đại giá trị vốn chủ sở hữu.
Vì vậy, doanh nghiệp nên tiếp tục sử dụng nợ vay.
ebit
Nếu < Lãi suất nợ vay: Hiệu ứng đòn bẩy âm.
Tổng tài sản
Doanh nghiệp cần có biện pháp giảm tỷ lệ nợ vay vì sử dụng nợ lúc này sẽ
làm giảm giá trị vốn chủ sở hữu.
Tuy nhiên, quản trị tài chính là một lĩnh vực quản trị hết sức linh hoạt. Vấn đề
cơ cấu vốn tối ưu cũng là một vấn đề rất linh hoạt. Với mỗi một doanh nghiệp

Quản lý việc sử dụng vốn cố định là một trong những nội dung quan
trọng của công tác quản lý doanh nghiệp. Trong quá trình sản xuất kinh doanh,
sự vận động của vốn cố định gắn liền với hình thái vật chất của nó. Vì vậy để
quản lý sử dụng có hiệu quả vốn cố định có một số hình thức quản lý sau:
+ Hao mòn và khấu hao tài sản cố định:
Trong quá trình sử dụng, tài sản cố định có thể bị hao mòn dưới hai hình
thức: Hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình.
Hao mòn hữu hình: là sự hao mòn về mặt vật chất tức là tổn thất dần về mặt
chất lượng và tính năng kỹ thuật của tài sản cố định cuối cùng tài sản cố định đó
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
không sử dụng được nữa và phải thanh lý. Thực chất về mặt kinh tế của hao
mòn hữu hình là giá trị của tài sản cố định giảm dần và giá trị của nó được
chuyển dần vào sản phẩm được sản xuất ra. Trường hợp tài sản cố định không
sử dụng được, hao mòn hữu hình biểu hiện ở chỗ tài sản cố định mất dần thuộc
tính do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên hay quá trình hoá học xảy ra bên trong
cũng như việc trông nom, bảo quản tài sản cố định không được chu đáo. Các
nguyên nhân ảnh hưởng đến hao mòn hữu hình của tài sản cố định có thể do:
vật liệu dùng để sản xuất ra tài sản cố định, trình độ và công nghệ chế tạo, chất
lượng xây dựng, lắp ráp; thời gian và cường độ sử dụng, trình độ tay nghề của
công nhân viên, chế độ bảo dưỡng; độ ẩm, không khí, thời tiết...
Hao mòn vô hình: Do tiến bộ khoa học kỹ thuật gây ra, thể hiện ở 3 dạng sau.
Tài sản cố định bị giảm giá trị do năng suất lao
động xã hội tăng lên, người ta sản xuất ra các loại
tài sản cố định mới sản xuất ra những sản phẩm có
chất lượng như cũ nhưng có giá thành hạ hơn.
Tài sản cố định bị giảm giá trị do sản xuất được
loại tài sản cố định khác hoàn thiện hơn về mặt kỹ
thuật.
Tài sản cố định bị giảm giá trị do sản phẩm của nó

vốn cho kế hoạch sửa chữa tài sản cố định.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Tỷ lệ khấu hao là tỷ lệ phần trăm giữa tiền trích khấu hao hàng năm so
với nguyên giá tài sản cố định. Tỷ lệ này có tính chung cho cả hai loại khấu
hao hoặc cho từng loại. Việc xác định tỷ lệ khấu hao quá thấp sẽ không bù đắp
được hao mòn thực tế của tài sản cố định, Doanh nghiệp không bảo toàn được
vốn cố định, còn nếu tỷ lệ khấu hao qúa cao yêu cầu cho bảo toàn vốn được
đáp ứng, song nó sẽ làm tăng giá thành một cách giả tạo ảnh hưởng đến kết
quả sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp.
Theo chế độ hiện hành, muốn đổi mới thiết bị, tài sản cố định Doanh
nghiệp phải tích luỹ trong một thời gian dài tuỳ loại tài sản cố định. Sau thời
gian này, khấu hao của Doanh nghiệp thường bị giảm tương ứng so với sự mất
giá của đồng tiền và Doanh nghiệp sẽ không đủ khả năng để tái đầu tư tài sản
cố định. Mặt khác phương pháp khấu hao đường thẳng hiện nay (khấu hao
theo tỷ lệ % cố định trong suốt thời gian sử dụng tài sản cố định) chưa tạo điều
kiện cho Doanh nghiệp thu hồi vốn, đổi mới thiết bị và ứng dụng kỹ thuật mới
vào giá thành kinh doanh. Một lý do khách quan nữa là giá trị tài sản cố định
không được điều chỉnh kịp thời, cho phù hợp với mặt bằng giá hàng năm nên
giá trị tài sản cố định tính khấu hao rất thấp so với giá hiện hành. Nhà nước
nên có chế độ quản lý quỹ khấu hao theo nguồn vốn đầu tư và theo yêu cầu
hiện đại hoá máy móc thiết bị, tài sản cố định. Không để vốn khấu hao sử
dụng sai mục đích. Mặt khác Doanh nghiệp cần quản lý khấu hao để lại cho
mình như các quỹ tiền tệ. Hàng năm, Doanh nghiệp cần có trách nhiệm bảo
toàn vốn theo hệ số trượt giá v.v...
+ Lập kế hoạch khấu hao tài sản cố định.
Khấu hao tài sản cố định là một bộ phận quan trọng của kế hoạch tài
chính. Kế hoạch khấu hao tài sản cố định phản ánh các chỉ tiêu giá trị về tài sản
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368

TSCĐ
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
12
Tổng giá trị bình quân tài sản cố định phải tính
khấu hao trong năm kế hoạch được xác định theo
công thức:
Tổng giá trị TSCĐ
phải tính khấu hao
trong kỳ
=
Tổng giá
trị TSCĐ
có đầu kỳ
+
Tổng giá trị
b/quân TSCĐ
tăng trong kỳ
-
Tổng giá trị
b/quân TSCĐ
giảm trong kỳ
Trên cơ sở cách tính các chỉ tiêu, hàng năm vào đầu kỳ, Doanh nghiệp
lập kế hoạch khấu hao tài sản cố định, biến động giá... Làm cơ sở cho việc xác
định mức khấu hao đúng. Kế hoạch khấu hao tài sản cố định được xem là một
biện pháp quan trọng để quản lý sử dụng vốn cố định - trên phương diện nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn cố định.
+ Bảo toàn và phát triển vốn cố định.
Để đảm bảo cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh được duy trì và
phát triển, một trong nhiều yếu tố trong đó là phải bảo tồn và phát triển được vốn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status